Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

skkn một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày ở trường mầm non thiệu tiến

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.98 MB, 22 trang )

MỤC LỤC
STT
I
1
2
3
4
II
1
2

3

4
III
1
2
3
4

NỘI DUNG
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lý luận của nội dung sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng nội dung sáng kiến
kinh nghiệm
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề


* Giải pháp 1: Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện
chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường của từng giáo viên
* Giải pháp 2: Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch thực
hiện chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường phù hợp với nội
dung và hoạt động của trẻ.
* Giải pháp 3: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua
những khái niệm đơn giản và gần gũi với trẻ:
* Giải pháp 4: Giáo dục trẻ có tình cảm hành vi tích cực đối
với môi trường
* Giải pháp 5. Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ thực hành,
trải nghiệm về giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các
hoạt động.
* Giải pháp 6. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ
môi trường trong các chủ đề thông qua hoạt động chủ định:
* Giải pháp 7. Chỉ đạo giáo viên sưu tầm, tìm kiếm, lựa chọn
làm những mẫu đồ dùng, đồ chơi đơn giản từ nguyên vật liệu
thải bỏ.
* Giải pháp 8. Chú trọng công tác tuyên truyền và phối kết
hợp với Phụ huynh.
Hiệu quả của nội dung sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận.
Kiến nghị.
Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN mà tác giả đã được Hội đồng
Cấp Phòng giáo dục và đào tạo, Cấp Sở giáo dục và đào tạo
và cấp cao hơn đánh giá đạt từ loại C trở lên.

TRANG

1
1
2
2
2
2
2
3
5
5
6
7
9
10
13
16
16
17
18
18
19
20
21

1


I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm và bị hủy hoại

nghiêm trọng, do dân số ngày càng đông, nhu cầu trong cuộc sống của con người
ngày càng cao, càng hiện đại. Để đáp ứng được những nhu cầu đó thì quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng ngày càng phát triển nên lượng chất thải bẩn
thải ra môi trường càng nhiều, điểm hình như “Hiện tượng cá chết hàng loạt bất
thường ở Vùng biển Vũng Áng do hệ thống xả thải từ dự án Formosa Hà Tĩnh” [1],
đã làm cho ngư dân Hà Tĩnh rơi vào cảnh khốn cùng…. Đặc biệt là sự thiếu hiểu
biết, thiếu ý thức của con người là một trong những nguyên nhân cơ bản, gây nên
sự ô nhiễm và suy thoái về môi trường như khai thác và tàn phá rừng trái phép;
khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản một cách bừa bãi,…. khiến cho môi trường
ngày càng bị ô nhiễm nặng nề gây sức ép đối với môi trường sống, làm mất cân
bằng về sinh thái, sự cạn kiệt về tài nguyên, lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra có
nguy cơ đe dọa đến đời sống của con người cũng như mọi sinh vật, làm ảnh hưởng
rất lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của con người.
Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp bách có tính toàn cầu
và là vấn đề có tính xã hội sâu sắc, đã trở thành nhiệm vụ quan trọng trong công
cuộc đào tạo thế hệ trẻ ở tất cả các ngành học, cấp học và đặc biệt là ngành học
mầm non, bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đối với trẻ mầm non
3 - 6 tuổi đây là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm của đời người, chính trong giai đoạn
này sự phát triển mạnh mẽ về trí tuệ và thể chất, hình thành cơ bản các năng lực
khác nhau, đặt nền móng cho những nét cá tính và các phẩm chất đặc điểm nhân
cách của trẻ, đây là thời kỳ quan trọng để hình thành thái độ đúng đắn với thế giới
xung quanh như cỏ cây hoa lá, sự vật, sự việc và với con người.
“Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ quan trọng
trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học và được quan tâm ngay từ tuổi ấu thơ
nhằm hình thành cho trẻ kỹ năng thói quen tốt về bảo vệ môi trường” [2]. Mặt khác
hình thành cho trẻ có thói quen sống gọn gàng ngăn nắp, vệ sinh cá nhân, vệ sinh
môi trường sạch sẽ, tích cực tham gia các hoạt động giữ gìn bảo vệ môi trường:
Lớp học, gia đình, nơi ở .v.v… với những công việc vừa sức với trẻ, đồng thời trẻ
có những phản ứng với các hành vi không đúng của con người như: Vứt rác bừa
bãi, chặt cây, bẻ cành, hái hoa.v.v… để giáo dục cho trẻ biết yêu quý bảo vệ môi

trường. Do đó để bảo vệ môi trường chúng ta phải thực hiện nhiều biện pháp khác
nhau.
Việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường được lồng ghép vào các hoạt động
hằng ngày tạo điều kiện để trẻ được trải nghiệm những vốn sống của bản thân.
Việc chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ bảo vệ môi trường là bao gồm môi trường
vật chất và môi trường tâm lý. Trong đó môi trường vật chất là việc bố trí các góc
hoạt động trong không gian chung của lớp học, cách sắp xếp bố trí, chuẩn bị các
nguyên liệu, đồ dùng, dụng cụ, đồ chơi, các hình ảnh trực quan được sắp xếp gọn
gàng ngăn nắp, đảm bảo vệ sinh an toàn, thoáng mát. Phải gắn liền với vẻ đẹp của
thế giới xung quanh, gợi lên kinh nghiệm cảm xúc thẩm mỹ của trẻ.

2


Là một Phó hiệu trưởng chỉ đạo công tác chuyên môn, tôi luôn trăn trở tìm ra
các giải pháp để bồi dưỡng nhận thức cho đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác giáo dục trẻ đặc biệt là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
trẻ. Vì vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài "Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên
nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các hoạt
động hàng ngày ở trường mầm non Thiệu Tiến, Thiệu Hóa" làm đề tài nghiên
cứu.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ nhằm đạt được những mục tiêu
chính đó là: Chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho trẻ, đồng thời “giúp giáo viên nắm được cách lồng ghép nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường vào các hoạt động giáo dục trẻ” [3]. Nhằm trang bị cho trẻ
một số hiểu biết về môi trường, về mối quan hệ giữa con người và môi trường
sống. Hình thành ở trẻ tình cảm, thái độ, hành vi tích cực đối với môi trường như:
Yêu quý, bảo vệ, chăm sóc giữ gìn môi trường, phản đối những việc làm gây ảnh
hưởng đến môi trường. Dạy trẻ một số kỹ năng đơn giản để bảo vệ, chăm sóc môi

trường sống xung quanh trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao hiệu quả giáo dục
ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày ở trường mầm
non Thiệu Tiến, Thiệu Hóa” nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho trẻ trong nhà trường.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm tốt nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này, tôi đã sử dụng những phương
pháp nghiên cứu mà cá nhân tôi cho là thích hợp và mang lại hiệu quả cao như:
- Phương pháp điều tra thực trạng
- Phương pháp thống kê số liệu
- Phương pháp quan sát hoạt động của giáo viên và trẻ, đặc biệt là nội dung
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trẻ.
- Trao đổi với giáo viên về một số một số kinh nghiệm chỉ đạo lồng ghép nội
dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
“Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại, là một
trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững, liên quan chặt chẽ tới sự phát
triển kinh tế xã hội, gắn liền với cuộc sống đấu tranh xóa đói giảm nghèo, đảm bảo
công bằng xã hội, ổn định chính trị và an ninh quốc gia” [4]. Việc áp dụng lồng ghép
giáo dục bảo vệ môi trường đòi hỏi giáo viên phải nhạy bén, linh hoạt, không trùng
lặp, không gây quá tải, tận dụng nguồn nguyên vật liệu phế thải có sẵn để biến
những dụng cụ dạy và học đơn giản nhưng mang tính khoa học và sáng tạo để trẻ
thực hành và trải nghiệm một cách thoải mái và không gượng ép. Đồng thời kết
hợp cùng phụ huynh tham gia nhiều phong trào xây dựng môi trường trong sạch.
Giáo dục Bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp giáo dục có hiệu

3



quả với trẻ, giáo dục bảo vệ môi trường là cơ sở quan trọng của việc hình thành và
phát triển nhân cách cho trẻ một cách toàn diện, bởi ở lứa tuổi mầm mon đây là giai
đoạn đặc biệt nhạy cảm của đời người, những đặc trưng về nhân cách con người
mới như tính trung thực, nề nếp, kỷ luật, vệ sinh, nhân hậu, lễ phép, kính trên
nhường dưới, yêu thiên nhiên, từ đó trẻ hiểu biết về môi trường giúp trẻ có hành vi,
thái độ ứng xử phù hợp với môi trường để gìn giữ bảo vệ môi trường, biết sống hòa
nhập với môi trường nhằm đảm bảo phát triển lành mạnh. Trẻ biết môi trường xung
quanh trẻ bao gồm những gì? Trẻ biết phân biệt được môi trường xung quanh trẻ,
những việc làm tốt - xấu đối với môi trường và làm gì để bảo vệ môi trường? Giáo
dục trẻ cách chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân trẻ, biết chăm sóc và bảo vệ
cây cối, bảo vệ con vật nơi mình ở. Biết về một số ngành nghề, văn hóa, phong tục
tập quán của địa phương, xây dựng cho trẻ niềm tự hào và ý thức giữ gìn và bảo tồn
văn hóa dân tộc.
Vì vậy “Giáo dục bảo vệ môi trường là quá trình hình thành và phát triển ở
trẻ ý thức và những hiếu biết về môi trường, giúp trẻ có thái độ tích cực đối với môi
trường xung quanh trẻ, đồng thời bước đầu hình thành những năng lực cần thiết để
trẻ tham gia vào các hoạt động thực tế tìm hiểu và giữ môi trường phù hợp với lứa
tuổi”[5].
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
a. Thuận lợi:
Trường mầm non Thiệu Tiến nằm trên địa bàn xã Thiệu Tiến cách trung tâm
Huyện Thiệu Hóa 4 km về phía Tây là một xã thuần nông, nhân dân chủ yếu làm
nghề nông nghiệp. Nhưng được sự quan tâm của phòng giáo dục, Đảng uỷ, UBND
xã Thiệu Tiến cùng các ban, ngành, đoàn thể đóng trên địa bàn tạo điều kiện thuận
lợi giúp đỡ nhà trường trong mọi hoạt động. Tập thể nhà trường luôn đoàn kết yêu
thương giúp đỡ lẫn nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống.
Nhà trường có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên
chuẩn, đội ngũ giáo viên đa số trẻ, nhiệt tình, chịu khó, yêu nghề mến trẻ.
Năm học 2016-2017, nhà trường có tổng số 26 CBGV, NV. Trong đó, Ban

giám hiệu có 03 đồng chí, giáo viên 17 đồng chí, nhân viên 06 đồng chí (5 nhân
viên nuôi dưỡng). Có 14 nhóm lớp với 347 cháu. Trong đó: Nhà trẻ có 5 nhóm với
76 cháu, mẫu giáo 9 lớp với 271 cháu.
Hội phụ huynh của nhà trường luôn quan tâm theo dõi, phối kết hợp với nhà
trường, thường xuyên chăm lo đến việc chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ để trẻ
được phát triển toàn diện, tích cực ủng hộ các hoạt động do nhà trường tổ chức.
b. Khó khăn:
Thiệu Tiến là một xã thuần nông, đời sống của các bậc phụ huynh còn nhiều
khó khăn, thu nhập thấp, chủ yếu phụ thuộc vào nghề nông, không có nghề phụ.
Cơ sở vật chất trang thiết bị của nhà trường còn hạn chế, vì vậy, còn gặp
nhiều khó khăn trong việc chăm sóc giáo dục trẻ.
Bản thân là một quản lý trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc chỉ đạo chuyên
môn, nên phần nào có ảnh hưởng đến chất lượng của việc hướng dẫn giáo viên lồng
ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.

4


Một số ít giáo viên cũng chưa thực sự tự giác, còn mang tính đối phó, chưa
chú trọng đến việc lồng ghép giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thường xuyên cho
trẻ, nên hiệu quả giáo dục chưa cao. Trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ nhiều
giáo viên còn chưa thực sự quan tâm đến chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường
cho trẻ, chỉ tích hợp qua loa ở một số hoạt động giáo dục, vì vậy chất lượng giáo
dục bảo vệ môi trường cho trẻ còn nhiều hạn chế.
Việc sắp xếp trang trí nhóm, lớp, môi trường giáo dục chưa thực sự phù hợp,
trang trí lớp còn dập khuôn, máy móc, hình thức chưa phù hợp với từng độ tuổi.
Việc rèn luyện thói quen vệ sinh và cung cấp những kiến thức về giáo dục bảo vệ
môi trường cho trẻ chưa được thực hiện một cách thường xuyên.
+ Nhiều trẻ chưa có thói quen bảo vệ môi trường xung quanh mình, chưa có
khả năng phản ứng với các hành vi của con người làm bẩn môi trường và phá hoại

môi trường, bỏ rác không đúng nơi quy định.
+ Vẫn còn một số trẻ chưa biết chia sẻ, hợp tác với bạn bè và những người
xung quanh trong việc bảo vệ môi trường do các bậc phụ huynh còn chưa thường
xuyên nhắc nhở và giáo dục trẻ bảo vệ môi trường tại gia đình cũng như cộng đồng.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên để chỉ đạo nâng cao chất lượng thực
hiện chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non đạt kết
quả tốt tôi đã tiến hành khảo sát thực tế chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường như
sau:
BẢNG KHẢO SÁT ĐẦU NĂM HỌC
* Đối với giáo viên:
STT

Nội dung tiêu chí khảo sát

Kết quả
Tỉ lệ
Chưa
%
đạt

Tỉ lệ
%

7

41%

10

59%


6
8
9

35%
47%
53%

11
9
8

65%
53%
47%

Đạt
1
2
3
4
TT
1
2
3
4

Lập kế hoạch tổ chức thực hiện chuyên
đề giáo dục bảo vệ môi trường

Xây dựng môi trường hoạt động
Tổ chức môi trường hoạt động
Công tác tuyên truyền.
* Đối với trẻ:
Khả năng của trẻ
Trẻ có thói quen sống gọn gàng
ngăn nắp, vệ sinh cá nhân, vệ sinh
môi trường sạch sẽ.
Tích cực tham gia các hoạt động,
gần gũi bảo vệ môi trường.
Trẻ biết chia sẻ và hợp tác với bạn
bè và những người xung quanh.
Có khả năng phản ứng với các
hành vi của con người làm bẩn môi
trường và phá hoại môi trường.

Tổng
số

Mức độ % trên trẻ
Chưa
Đạt
%
%
đạt

347

252


72.6%

95

27.4%

347

248

71.5%

99

28.5%

347

241

69.5%

106

30,5%

347

239


69%

108

31%

5


Qua bảng khảo sát cho thấy kết qủa chung chưa cao.
Từ thực trạng trên, để nâng cao chất lượng chỉ đạo thực hiện nâng cao hiệu
quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày,
tôi đã nghiên cứu tìm tòi và áp dụng một số giải pháp.
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
* Giải pháp 1. Khảo sát, đánh giá thực trạng việc thực hiện chuyên đề
giáo dục bảo vệ môi trường của từng giáo viên
Đây là một việc làm rất cần thiết nên công tác đánh giá phải được tiến hành
một cách khách quan, chính xác và cụ thể, từ đó có cơ sở để xây dựng kế hoạch chỉ
đạo sát, đúng với điều kiện thực tế. Đồng thời cũng phát hiện được những sai lệch
trong quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề.
Qua việc đánh giá còn một số lớp xây dựng môi trường giáo dục dập khuôn
chưa phù hợp với nhóm lớp mình, chưa tạo môi trường mở để trẻ hoạt động mà sử
dụng các mảng kín cứng nhắc, chưa chú ý đến việc làm đồ dùng, đồ chơi từ phế
liệu sẵn có ở địa phương, đồng thời chưa biết cách lồng ghép tích hợp các nội dung
giáo dục bảo vệ môi trường phù hợp với nhóm, lớp mình ở các hoạt động.
Ví dụ:
- Trong các nhóm lớp, một số giáo viên tạo môi trường chưa phù hợp với lớp
mình. Cụ thể ở góc học tập chỉ làm tranh, trang trí có nội dung về số, nội dung các
câu truyện, thơ. Không có nội dung về môi trường xung quanh. Ở góc nghệ thuật
các tranh ảnh, đồ dùng, đồ chơi chủ yếu là dụng cụ âm nhạc chưa có các tranh ảnh,

đồ dùng, đồ chơi về các loại hoa quả, con vật. Chưa có sản phẩm của trẻ trưng bầy
ở góc như: Vẽ, nặn về các loại hoa quả, con vật, cây cối… Nên cần phải bổ sung
trang trí, làm tranh ảnh có nội dung về môi trường. Nhằm tạo môi trường để cho trẻ
được trải nghiệm.
- Việc xây dựng góc tuyên truyền với các bậc phụ huynh chưa phù hợp về
mặt nội dung và hình thức, việc làm và sử dụng đồ dùng, đồ chơi từ phế liệu còn
hạn chế, chưa có nhiều chủng loại, chưa tạo được đồ dùng, đồ chơi mang tính sáng
tạo, chưa khuyến khích được trẻ vào các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Một số lớp còn chưa chú trọng đến việc rèn thói quen vệ sinh cá nhân cho
trẻ.
- Đa số giáo viên chưa chú trọng đến việc rèn thói quen bảo vệ môi trường
cho trẻ: Thói quen giữ gìn vệ sinh cá nhân, giữ gìn vệ sinh chung, sắp xếp đồ dùng
đồ chơi, bỏ rác vào thùng đúng nơi quy định.
* Về phía Ban giám hiệu nhà trường tự nhận xét đánh giá một cách trung
thực, tổng thể khách quan chung của nhà trường: về cơ sở vật chất nhằm phục vụ
cho việc chăm sóc giáo dục trẻ, thực hiện chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường,
những gì đã đạt, những gì chưa đạt cần bổ sung thay thế. Từ đó có cơ sở đề tham
mưu với lãnh đạo địa phương, tuyên truyền vận động phụ huynh, các cấp, các
ngành… hỗ trợ kinh phí bổ sung, mua sắm trang thiết bị phù hợp với nhà trường để
thực hiện tốt chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường tại trường mầm non Thiệu
Tiến.
* Giải pháp 2. Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề
giáo dục bảo vệ môi trường phù hợp với nội dung và hoạt động của trẻ.

6


Để chỉ đạo thực hiện tốt chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường bản thân tôi
cùng với các đồng chí tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch một cách khoa
học, rõ ràng, cụ thể. Đúc rút những nội dung đã làm được, những nội dung chưa

làm được. Từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng nội dung
chuyên đề phù hợp với từng nhóm, lớp trong nhà trường.
Khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và nâng cao, tôi đã căn cứ vào nội dung
của chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường được tiếp thu qua chuyên đề phòng giáo
dục tổ chức. Căn cứ vào hướng dẫn chỉ đạo của lãnh đạo phòng giáo dục về các nội
dung thực hiện chuyên đề. Đồng thời căn cứ vào nhiệm vụ thực hiện năm học của
nhà trường và điều kiện thực tế ở địa phương để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù
hợp đạt hiệu quả cao.
Cần phải nắm vững nội dung trọng tâm để xây dựng nội dung giáo dục bảo
vệ môi trường phù hợp với từng chủ đề, trong tháng, trong năm.
Tôi lập kế hoạch chỉ đạo và gợi ý để giáo viên chủ động, sáng tạo trang trí,
sắp xếp đồ dùng, đồ chơi ở lớp phù hợp với chủ đề, phù hợp với trẻ ở nhóm lớp
mình. Lên kế hoạch tháng, chủ đề, kế hoạch hoạt động trong ngày lồng ghép nội
dung giáo dục bảo vệ môi trường phù hợp.
Ví dụ: Trang trí ở các góc:
Góc xây dựng cần trang trí tranh ảnh về trường mầm non, các hành vi giữ gìn
môi trường trong trường mầm non như: Quét dọn, trồng và chăm sóc cây cối, hoa
quả… Sắp xếp các đồ dùng, đồ chơi của trẻ phù hợp với chủ đề như: Đu quay, cầu
trượt, bập bênh…
Góc phân vai trang trí các loại tranh ảnh có hình ảnh giáo dục trẻ bảo vệ môi
trường: quét nhà, đánh răng, rửa tay, chải tóc…
Góc nghệ thuật trang trí các loại tranh ảnh, đồ dùng đồ chơi về trường mầm
non thân yêu của trẻ, trưng bầy các sản phẩm do trẻ tự tạo…
Góc thiên nhiên bổ sung các loại cây, đặc biệt là tạo điều kiện để trẻ được
gieo trồng các loại hạt.
Ví dụ: Khi lên kế hoạch tháng tôi chỉ đạo giáo viên đưa nội dung giáo dục
bảo vệ môi trường vào mục tiêu của chủ đề phù hợp với chủ đề trường mầm non
như: Trẻ biết giữ gìn trường lớp sạch sẽ, biết cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy
định…
Tôi chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch dạy trẻ với nội dung: Con người và môi

trường sống.
- Giáo dục trẻ hiểu được môi trường ở trường mầm non có: Phòng, nhóm lớp,
sân vườn, cống rãnh, tường rào bao quanh, cây xanh, cây cảnh, cỏ, các loại đồ chơi
trong sân trường, các đồ dùng của lớp, của cô, của cá nhân trẻ. Con người bao gồm
các cô, các bác trong trường mầm non, các bạn, các bậc phụ huynh và các mối quan
hệ khác.
- Phân biệt được môi trường sạch và môi trường bẩn ở trường mầm non và
gia đình.
+ Môi trường sạch là môi trường gọn gàng, ngăn nắp không khí trong lành,
có đủ ánh sáng, không có mùi hôi, khói bụi, tiếng ồn, có nhiều cây xanh, thoáng

7


mát…
+ Môi trường bẩn là môi trường có nhiều rác thải, bụi bẩn, đồ dùng đồ chơi
sắp xếp không ngăn nắp, không gọn gàng…
- Dạy trẻ biết bảo vệ môi trường bằng những hành vi phù hợp, biết bỏ rác
đúng nơi quy định, không vẽ bậy lên tường, trường, lớp, nhà… Biết cất đồ dùng đồ
chơi đúng nơi quy định, không kéo lê bàn ghế, biết giúp cô quét nhà, lau bàn ghế,
đồ dùng đồ chơi…
- Dạy trẻ biết vệ sinh cá nhân sạch sẽ, biết tiết kiệm nước, biết đi vệ sinh
đúng nơi quy định, biết cách rửa mặt, rửa tay, răng miệng…
Sau khi hoàn thành kế hoạch tổng thể tôi chỉ đạo giáo viên bám vào kế hoạch
của nhà trường để lựa chọn nội dung xây dựng kế hoạch theo tháng, chủ đề, tuần,
ngày phù hợp.
* Giải pháp 3: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua những khái
niệm đơn giản và gần gũi với trẻ:
Tôi đã chú trọng cung cấp những hiểu biết về môi trường xung quanh của trẻ.
Điều có thể nhận thấy rất rõ trong đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mầm non đó là trẻ

rất thích thú khi được làm quen, khám phá môi trường xung quanh. Đặc biệt, đối
với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đã có một vốn kiến thức phong phú về môi trường xung
quanh, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên dễ dàng hơn khi thực hiện
nhiệm vụ giáo dục môi trường cho trẻ. Tuy nhiên, để hệ thống hóa các khái niệm
mang tính trừu tượng về môi trường xung quanh đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt,
nhạy bén trong các phương pháp giáo dục trẻ.
- Giáo viên phải giúp trẻ hiểu và phân biệt được đâu là môi trường sạch, môi
trường bẩn và các tác hại khi sống trong môi trường bẩn để từ đó trẻ có các nhận
thức bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe của trẻ.
Ví dụ: Cô giáo tạo tình huống làm môi trường lớp học bừa bộn có nhiều rác,
đồ dùng đồ chơi không ngăn nắp. Cô cho trẻ nhận xét môi trường sạch hay bẩn. Trẻ
đưa ra cách giải quyết: Trẻ tự phân công cho từng tổ, nhóm, cá nhân trực nhật và
thực hiện công việc. Sau khi lao động xong cho trẻ nhận xét, so sánh môi trường
của lớp học trước khi lao động với sau khi lao động.
- Hình thành các thói quen lao động tự phục vụ: Lau dọn, sắp xếp gọn gàng
đồ dùng, đồ chơi, không vứt rác, vứt đồ chơi bừa bãi. Đi vệ sinh đúng nơi quy định,
biết giữ gìn nhà vệ sinh sạch sẽ, biết rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi đi vệ
sinh. Biết tiết kiệm nước trong sinh hoạt hàng ngày, không để vòi nước chảy liên
tục, thấy nước chảy tràn biết khóa vòi lại…
Cô hướng dẫn trẻ làm một số đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu thiên nhiên
và vật liệu đã qua sử dụng: Lấy lá chuối làm con vật, làm kèn, nhặt lá cây làm con
vật....lấy hột hạt, vỏ hến, sỏi.. để xếp hoa, quả, con vật, ô tô ... thông qua đó tôi giáo
dục trẻ ý thức tiết kiệm và ý thức lao động sáng tạo.
Thường vào các buổi chiều thứ 6 cuối tuần tôi chỉ đạo giáo viên mẫu giáo
cho trẻ lao động vệ sinh môi trường xunh quanh trường lớp như:
+ Tổ 1: Thu gom rác, lá cây xung quanh trường (nhặt giấy vụn, vỏ bim bim,
vỏ hộp sữa, thu gom lá cây bỏ vào thùng rác)

8



+ Tổ 2: Lau đồ dùng, đồ chơi, các giá để đồ chơi của lớp
+ Tổ 3: Sắp xếp đồ chơi đúng nơi quy định
Kết quả: Hình thành cho trẻ ý thức tự lập, tự giác và tinh thần đoàn kết cùng
nhau bảo vệ môi trường.
- Cung cấp kiến thức về mối quan hệ gắn kết giữa con người với động, thực
vật từ đó hướng dẫn trẻ cách chăm sóc vật nuôi, cách gieo hạt, trồng cây để tạo môi
trường xanh, sạch, đẹp cho gia đình, nhà trường và xã hội. Giúp cho trẻ hiểu cây
xanh rất có ích cho con người, làm giảm ô nhiễm môi trường, giảm bụi, giảm tiếng
ồn, cung cấp cho con người thức ăn, thuốc chữa bệnh, cây xanh của rừng còn giúp
ngăn chặn lũ lụt....., cây kiểng để trang trí tạo ra cảnh đẹp. Một điều không thể
thiếu khi giáo dục trẻ đó là giúp trẻ hiểu con người, động vật, cây cối không thể tồn
tại nếu không có đất, vì vậy cần sử dụng đất như thế nào cho hợp lý và bảo vệ đất
làm sao để không bị ô nhiễm.
- Bên cạnh mối quan hệ giữa con người với động, thực vật, giáo viên còn giải
thích cho trẻ hiểu thêm về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên: lợi ích và
tác hại của mưa, gió, nắng… để từ đó trẻ có các biện pháp phòng tránh: Trời nắng
phải đội mũ, ra đường phải đeo khẩu trang, khi trời mưa phải che ô, mặc áo mưa;
không chơi đùa dưới trời mưa, trời nắng. Khi trời mưa to, có sấm sét, không nên
đứng dưới các gốc cây to, không cầm các vật bằng sắt….
- Việc đưa ra kế hoạch trực nhật và phân công trực nhật theo lịch đã kích
thích tích tự giác của trẻ, giúp trẻ có tinh thần trách nhiệm cao với công việc được
giao, đồng thời tập cho trẻ có thói quen làm việc theo kế hoạch đã định.
- Tận dụng thời gian của giờ hoạt động chiều để giáo dục trẻ thói quen trực
nhật cuối ngày theo nhóm hoặc cá nhân. Chăm sóc góc thiên nhiên của lớp, sắp
xếp, lau dọn kệ đồ chơi, nhắc nhở bạn cùng nhau thực hiện.
* Giải pháp 4: Giáo dục trẻ có tình cảm hành vi tích cực đối với môi
trường
Cô lồng ghép nội dung giáo dục trẻ vào các thời điểm trong ngày nhằm giúp
trẻ biết yêu quý môi trường, biết tôn trọng và giúp đỡ những người làm công việc

làm sạch đẹp môi trường, có thái độ phản đối trước những hành vi không tốt với
môi trường, trẻ biết tiết kiệm trong sinh hoạt, ăn uống và sử dụng trang phục phù
hợp với thời tiết ở thời điểm đón trẻ: Cô đến sớm thông thoáng phòng, không để
phòng bị gió lùa, cô quan sát và nhắc nhở trẻ cất nhấc đồ dùng đúng nơi qui định
ngay ngắn gọn gàng, nhắc nhở trẻ đi giầy, đi tất, mặc áo giữ ấm cho đôi chân và cơ
thể trong mùa đông, bỏ rác vào đúng nơi qui định.
Trước giờ thể dục sáng dựa vào chủ đề mà trò chuyện với trẻ.
Ví dụ: Cô dành thời gian ít phút trò chuyện cùng trẻ về sự ô nhiễm của môi trường
và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do bụi bẩn, phương tiện giao thông đi
lại nhiều gây nên, tiếng động cơ cũng gây nên ô nhiễm môi trường; rồi rác thải, vỏ
sữa, giấy kẹo, túi ni lông do mọi người vứt bừa bãi, không bỏ đúng nơi qui định ...
Cô cùng với trẻ nhặt rác ở bồn cây, bồn hoa ở xung quanh sân trường trước khi tập
thể dục sáng. Cô nhắc nhở và hướng dẫn trẻ thường xuyên nhổ cỏ, bắt sâu, tưới cho
cây ở góc thiên nhiên của lớp và bồn hoa, cây xanh ở sân trường. Cho trẻ mô phỏng

9


các động tác có lợi cho sức khoẻ và môi trường như: Cuốc đất bắt sâu, trồng cây,
tưới cây...
Hoạt động học tập tuy không phải là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non
nhưng thông qua các môn học: Khám phá khoa học, văn học, tạo hình, âm
nhạc...cũng có nhiều cơ hội để thực hiện việc giáo dục môi trường cho trẻ, nhất là
môn học khám phá khoa học về môi trường xung quanh trẻ, ở chủ điểm thực vật cô
giáo dục trẻ cách chăm sóc bảo vệ rau: Nhổ cỏ, bắt sâu cho rau, tưới rau, khi chăm
sóc rau các con nhớ đi cẩn thận không dẫm nát rau, không làm rau gẫy lá như tiết
học làm quen một số loại rau. Trẻ biết giữ gìn vệ sinh môi trường sạch sẽ, khi ăn
các loại rau phải rửa sạch sẽ, với loại rau ăn lá phải nhặt lá vàng và cuống già bỏ
vào thùng rác.
Với hoạt động tạo hình cô hướng dẫn trẻ cách cầm bút, tô mầu các loại rau,

hướng dẫn trẻ tô không chườm ra ngoài, không kéo lê bàn ghế, không nói to. Cô
nhắc trẻ cất nhấc đồ dùng đúng nơi qui định.
Qua hoạt động phát triển ngôn ngữ, trong các giờ dạy thơ, câu truyện cô giáo
dục trẻ có hành vi tích cực đối với môi trường: Nhặt rác bỏ vào thùng rác, khi ăn
bánh kẹo, quả phải bỏ vào thùng rác như bài thơ:
Cái bánh có lá gói
Quả chuối vỏ rất trơn
Ăn xong bé nhớ ghi
Bỏ ngay vào thùng rác
Hay thông qua các bài thơ, câu truyện cô giáo dục trẻ biết tôn trọng, giúp đỡ
những người làm công việc làm sạch đẹp môi trường: Như bài thơ “Bác lao công”
có thái độ phản đối trước những hành vi không tốt với môi trường như thấy bạn
ngắt hoa ở góc thiên nhiên nên không đồng ý với bạn đã mách cô giáo hoặc bạn ăn
bánh xong biết nhắc nhở bạn bỏ vỏ vào thùng rác....
Hoặc thông qua các hoạt động học tập cô cho trẻ chơi gạch bỏ những hành vi
sai trong tranh để trẻ ý thức được việc làm hư hại về môi trường.
Các bài hát cô dạy trẻ hát hoặc cô hát cho trẻ nghe cũng khơi dậy ở trẻ tình
cảm đẹp với môi trường như bài hát: “mầu hoa”, “hoa trong vườn”, “mùa xuân
đến rồi”...Gợi cho trẻ một quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp, trẻ nghĩ đến những lần
được cô giáo cho đi thăm quan vườn hoa, trẻ sẽ có ý thức bảo vệ hoa, không làm
gẫy cây hoa, không bẻ lá, hái hoa và cũng qua các hoạt động này ta nhận thấy tâm
hồn trẻ trong sáng hơn và cũng từ đó hình thành ở trẻ tình cảm, ý thức bảo vệ môi
trường.
* Giải pháp 5. Chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ thực hành, trải nghiệm
về giáo dục bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động.
Để giúp trẻ có kiến thức, kỹ năng thực hành trải nghiệm bảo vệ môi trường
giáo viên phải là tấm gương để trẻ noi theo, luôn nhắc nhở và hướng dẫn trẻ kiên trì
thực hiện việc làm có ý nghĩa bảo vệ môi trường. Trên cơ sở giáo dục trẻ biết yêu
quý, gần gũi với môi trường, nhất là biết đánh giá hành vi tốt - xấu của con người
đối với môi trường.

* Ở thời điểm đón, trả trẻ:

10


Tôi chỉ đạo giáo viên giáo dục trẻ có ý
thức bảo vệ môi trường: Biết chào hỏi lễ
phép khi đến lớp và khi ra về, cất đồ dùng
đồ chơi đúng nơi quy định, không mang
quà đến lớp, nhắc nhở trẻ vệ sinh cá nhân
sạch sẽ, trò chuyện với trẻ về nội dung
bảo vệ môi trường theo chủ đề, đồng thời
cho trẻ đọc các bài thơ, câu truyện, bài
hát, tổ chức các trò chơi có nội dung giáo
dục bảo vệ môi trường. Trao đổi với phụ
huynh để phối hợp giáo dục trẻ viết bảo vệ môi trường ở gia đình và cộng đồng.
Ở hoạt động có chủ định:
Tôi đã chỉ đạo giáo viên lựa chọn nội dung tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường cho phù hợp với từng đối tượng trẻ, phù hợp với chủ đề, phù hợp với nội
dung trọng tâm của bài dạy và tích hợp một cách nhẹ nhàng, thoải mái không ôm
đồm. Từ đó giúp trẻ có thêm kiến thức và hành vi tốt bảo vệ môi trường.
Ví dụ: Với hoạt động cho trẻ khám phá về “Các loại cây” cô và trẻ trò
chuyện về các loại cây: Tên gọi, đăc điểm của từng loại cây giúp trẻ phát triển kỹ
năng nghe, kỹ năng nói, trẻ biết tác dụng của cây ngoài cho hoa, quả, gỗ, bóng mát
cây còn làm cho không khí trong lành… từ đó trẻ có hành vi đúng, biết cách chăm
sóc cây, trồng cây, tưới nước, nhổ cỏ, không bẻ cành ngắt lá…
* Ở hoạt động ngoài trời:
Tôi chỉ đạo giáo viên hàng ngày tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ cũng
phải lồng ghép được các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường như: Cách chăm sóc
cây cối, con vật… Ở thời điểm này giáo viên cần tạo cơ hội tốt nhất để trẻ được

thực hành, trải nghiệm: Nhặt lá rơi bỏ vào thùng rác, gieo hạt, trồng cây, tưới nước
chăm sóc cây, quét sân trường …… Qua đó giúp trẻ biết giữ gìn vệ sinh trường lớp
sạch sẽ.

( Hình ảnh cô đang hướng dẫn trẻ nhặt lá, nhổ cỏ ở bồn cây)
11


* Với hoạt động góc:
Ở hoạt động góc trẻ được tiếp xúc với các đồ vật, đồ chơi, vui chơi tạo điều
kiện để trẻ tự học hỏi nhau, thể hiện sự hiểu biết của mình về bảo vệ môi trường.
Qua hoạt động góc tôi đã chỉ đạo giáo viên tạo điều kiện để trẻ được chơi với đồ
chơi tự tạo từ các phế liệu, những đồ chơi tự tạo thu hút được sự chú ý của trẻ,
trong quá trình trẻ chơi, giáo viên giới thiệu với trẻ các loại đồ chơi này được tạo ra
từ phế liệu, không tốn tiền mua lại tiết kiệm, giảm bớt được rác thải ra môi trường.
Sau khi chơi, giáo dục trẻ thu dọn đồ dùng, đồ chơi để đúng nơi qui định. Trẻ được
trải nghiệm hoạt động của người lớn, từ đó giúp trẻ hiểu biết thêm về môi trường và
bảo vệ môi trường, trẻ có phản ứng với các hành vi của con người làm bẩn môi
trường và phá hoại môi trường, trẻ được đóng vai thể hiện công việc bảo vệ môi
trường như: Trồng cây, thu gom rác…
Ví dụ:
- Góc tạo hình cô cho trẻ gạch bỏ những hành vi gây hại đến môi trường và
tô màu những hành vi đúng.

(Hình ảnh cô hướng dẫn trẻ hoạt động góc)
- Hay ở trò chơi “Bé tập làm nội trợ” trẻ có ý thức tiết kiệm nước và các
nguyên vật liệu chế biến món ăn, thu dọn đồ dùng gọn gàng sau khi chơi…
* Ở thời điểm hoạt động chiều:
Tôi chỉ đạo giáo viên coi trọng công tác củng cố để trẻ khắc sâu kiến thức
các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đã được thực hiện ở các hoạt động, để trẻ

có ý thức hơn trong việc thực hiện ở lớp, ở nhà cũng như nơi công cộng. Bằng cách
tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi, hát, đọc thơ, kể truyện có nội dung về giáo dục
bảo vệ môi trường như: Bài thơ “ăn”, “chổi ngoan”, “không vứt rác ra đường”….
câu truyện “nỗi đau của lá”, “ai có lỗi”… Bài hát “ra vườn hoa em chơi”, “dậy đi
thôi”… Trò chơi “nhặt lá vào thùng”, “chọn hành vi đúng, sai về bảo vệ môi
trường”……Ở thời điểm này cô giáo còn có thể tổ chức để trẻ được tham gia lao
12


động chung vệ sinh trường, lớp từ đó tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm.
* Thông qua hoạt động nêu
gương.
Hoạt động nêu gương cũng là một
trong những hoạt động để tôi chỉ đạo thực
hiện nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường
cho trẻ một cách có chiều sâu, giúp cho trẻ
có ý thức bảo vệ môi trường một cách hiệu
quả nhất. Vào những buổi nêu gương cô
cho trẻ kể những việc làm tốt giúp cô giáo
và các bạn như: Biết kê bàn ăn, biết gấp
khăn, biết nhặt cơm rơi vào đĩa, biết nhặt
rác bỏ vào thùng, xếp ghế; có kỹ năng sống
(Hình ảnh hoạt động nêu gương)
như biết chào hỏi, khi mắc lỗi với cô hoặc bạn thì biết xin lỗi, khi có người khác
giúp đỡ hay cho quà thì biết cảm ơn...Trong những buổi nêu gương như vậy đã giúp
trẻ làm tốt hơn những công việc hàng ngày như trẻ lao động giúp cô. Giáo viên đã
tuyên dương trẻ, khích lệ trẻ kịp thời và cho trẻ được cắm cờ, trong đó cô rất chú
trọng đến vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường bằng cách tuyên dương, khen ngợi
những trẻ đã làm giúp cô như: Nhặt lá rụng, quét lớp, cất gối, tiết kiệm nước khi
rửa tay, rửa chân....

Kết quả: Trẻ hứng thú say mê tích cực rõ rệt hơn với việc bảo vệ môi trường
* Thông qua hoạt động lễ hội và giáo dục mọi lúc mọi nơi.
Hoạt động lễ hội có một vị trí rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ bảo vệ
môi trường. Thông qua việc tổ chức lễ hội, hình thành ở trẻ các kỹ năng, thái độ,
hành vi tích cực về các địa danh và môi trường, biết bảo vệ, giữ gìn môi trường và
các địa danh nơi diễn ra lễ hội. Nội dung được tích hợp trong các hoạt động giáo
dục dưới nhiều hình thức như chơi theo ý thích của trẻ hoặc trong thời gian dạo
chơi ngoài trời hay thăm quan. Ví dụ: Ngày lễ, ngày tết Nguyên Đán cô phát động
phong trào “Tết trồng cây”, cô cùng trẻ sưu tầm cây xanh, cây cảnh về trồng... và
cùng tổ chức tưới và chăm sóc cây.
Ngoài ra tôi chỉ đạo giáo viên vận dụng mọi lúc mọi nơi để giáo dục trẻ: Giờ
ngủ dậy, giờ chơi tự do, thậm chí cả những lúc trẻ đi vệ sinh cô cũng hướng dẫn trẻ
cách rửa tay, rửa mặt và chải tóc..
Kết quả: Giáo viên đã hình thành cho trẻ có thói quen vệ sinh rất tốt cũng
như giữ gìn nét đẹp của phong tục, tập quán của dân tộc.
* Giải pháp 6. Tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
trong các chủ đề thông qua hoạt động chủ định:
Trẻ được tham gia nhiều vào các hoạt động khác nhau: Phát triển thể chất,
khám phá khoa học, âm nhạc, làm quen tác phẩm văn học, tạo hình...mỗi hoạt động
trên đều có những đặc trưng riêng và có ưu thế khác nhau như: Trẻ quan sát, đàm
thoại, thực hành trải nghiệm, thí nghiệm, chơi các trò chơi.....với trẻ để trẻ nhận ra

13


được những việc làm tốt, không tốt, những hành động đúng - hành động không
đúng, kích thích trẻ suy nghĩ, bộc lộ tình cảm, có thái độ phù hợp với môi trường
trong và ngoài lớp học.
Ví dụ: * Chủ đề: Gia đình thân yêu của bé:
Trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung quanh nhà của trẻ, nhận biết

được môi trường sạch, môi trường bẩn trong gia đình. Biết quý trọng giữ gìn đồ
dùng trong gia đình, cất đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ, bỏ rác đúng nơi quy định,
không khạc nhổ bừa bãi...có ý thức về những điều nên làm như: khoá vòi nước
không sử dụng, tắt điện khi ra khỏi phòng....
Hoạt động Khám phá khoa học: “Đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia
đình bé”
Trẻ biết một số đồ dùng sử dụng bằng điện trong gia đình như: Bóng điện để
thắp sáng, quạt, tivi, đài, tủ lạnh,... Cô giáo dục trẻ những kỹ năng sử dụng đồ dùng
bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm lại có thể bảo quản đồ dùng, tránh được những
vấn đề gây cháy nổ hay nguy hiểm khác. Cô đưa ra các tình huống nhằm lồng ghép
nội dung “sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” như khi ra khỏi phòng các con
phải làm gì? (Tắt đèn, tắt tivi, quạt...)
Kết quả: Trẻ có ý thức giữ gìn nhà cửa sạch sẽ, có ý thức về những điều nên
làm như: Tắt điện khi ra khỏi phòng, cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy đinh, khoá
vòi nước khi rửa tay xong.
* Chủ đề: Bản thân bé:
Mục đích là giáo dục trẻ biết ích lợi của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ
sinh môi trường đối với sức khoẻ con người. Trẻ có hành vi và thói quen tốt trong
ăn uống: Mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường...Nhận biết ký hiệu thông
thường: Nhà vệ sinh nam, nữ, thùng đựng rác… và biết tranh về một số đồ vật dụng
cụ, nơi nguy hiểm đối với bản thân như: Dao, kéo, ổ cắm điện, ao, hồ... thông qua
hoạt động “Khám phá khoa học”.

(Hình ảnh cô và trẻ trong hoạt động Khám phá khoa học)

14


Giờ học khám phá khoa học: “Năm giác quan của bé”. Cho trẻ khám phá
thực hành trải nghiệm các giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết chăm sóc giữ gìn

đôi mắt (không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày bằng nước và khăn sạch).
Giáo dục trẻ biết giúp đỡ những bạn bị khiếm thị, bị cận... không cho tay bẩn vào
tai, không dùng que ngoáy tai của mình và của bạn, khi tắm gội chú ý không để
nước chui vào tai... biết đội mũ, che ô khi ra nắng và đeo khẩu trang, thường xuyên
đánh răng và không ăn những thức ăn quá nóng, quá lạnh phải giữ vệ sinh răng
miệng hàng ngày, tiết kiệm nước khi rửa tay và đánh răng...
Hay tiết hoạt động âm nhạc bài hát “Cùng nhau bảo vệ môi trường” tôi còn
giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ bằng cách giáo dục trẻ qua bài hát như sau:
Cô hỏi: Trong bài hát, rác trước khi vứt vào thùng phải làm gì? (Phải phân
loại rác) Bài hát trên khuyên chúng ta nên phân loại rác trước khi cho vào thùng
rác, phải luôn ý thức sử dụng lại các đồ vật có thể dùng được.
Kết quả: Trẻ đã biết có hành vi đúng sai khi chăm sóc bản thân và môi
trường, tự làm một số công việc đơn giản hang ngày: Vệ sinh cá nhân, trực nhật..
* Chủ đề: Thế giới thực vật: Cô giáo dục trẻ biết quá trình phát triển của cây
ích lợi của cây xanh với môi trường sống và biết tác hại chặt phá rừng bừa bãi làm
cho môi trường ô nhiễm, thiên tai xảy ra nhiều và nghiêm trọng ảnh hưởng tới đời
sống của con người.
Đề tài: “Cây xanh và môi trường sống” Cô cho trẻ chuẩn bị đồ dùng bằng
vỏ hộp sữa chua cho trẻ làm thí nghiệm "Trồng cây" Trẻ được tự tay gieo trồng và
mục đích là trẻ được thực hành, tìm hiểu và hàng ngày quan sát chăm sóc để trẻ
biết thứ tự phát triển của cây.
Sưu tầm bài hát, bài thơ, câu đố, hò vè... về các loại cây để trẻ biết được ích
lợi của cây đối với con người từ đó trẻ có thái độ yêu quí biết chăm sóc bảo vệ cây
xanh.( không ngắt lá, bẻ cành, hái hoa, không giẫm lên cỏ, hoa...).
Kết quả: Trẻ biết được sự phát triển của cây xanh, tận dụng các nguồn nhiên
liệu từ thiên nhiên làm một số đồ chơi: Con trâu, chong chóng, đồng hồ... Trẻ biết
mối quan hệ cây xanh với môi trường sống, biết rừng là nơi có nhiều cây, giúp chắn
gió, ngăn lũ là nơi sinh sống của nhiều loại động thực vật.
* Chủ đề thế giới động vật: Ngoài việc giáo viên cung cấp cho trẻ kiến thức
về đặc điểm, ích lợi cũng như tác hại của một số con vật với đời sống con người.

Cô còn giáo dục trẻ yêu quý các con vật nuôi, mong muốn và thực hiện những hành
động tốt để chăm sóc bảo vệ những con vật gần gũi.
Ví dụ: Trong chủ đề nhánh: Một số động vật sống dưới nước” Cô cho trẻ
cùng quan sát thí nghiệm với 2 con cá ở 2 bình nước khác nhau (bình nước sạch và
bình nước bẩn) cho trẻ nhận xét về sự tồn tại của hai con cá đó. Cô mở rộng về một
số động vật đang sống trong lòng Đại Dương, biển, đảo để trẻ biết thêm về thế giới
động vật nhưng chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng do ý thức con người ....
Cô cần nhấn mạnh trong tự nhiên có rất nhiều con vật, chúng có tên gọi, đặc
điểm, hình dáng và môi trường sống khác nhau nhưng chúng đều cần được chăm
sóc và bảo vệ.

15


Kết quả: Trẻ biết yêu quý các loại động vật, biết chăm sóc bảo vệ động vật
quý hiếm và tránh những động vật hung dữ.
Như vậy việc chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
thông qua các chủ đề khác nhau quả thật rất phong phú, đa dạng khi giáo viên biết
lồng ghép tích hợp để giúp trẻ có những kiến thức hiểu biết về chăm sóc cho bản
thân, về môi trường xung quanh gần gũi với bản thân, biết sử dụng và giữ gìn đồ
dùng luôn sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp.... biết sống vì môi trường, bảo vệ và giữ gìn
môi trường, có thái độ đúng với môi trường một cách tích cực và hiệu quả.
* Giải pháp 7. Chỉ đạo giáo viên sưu tầm, tìm kiếm, lựa chọn làm những
mẫu đồ dùng, đồ chơi đơn giản từ nguyên vật liệu thải bỏ.
Bên cạnh những biện pháp vừa kể trên, tôi chỉ đạo giáo viên sưu tầm, tìm
kiếm, lựa chọn những mẫu đồ dùng, đồ chơi đơn giản được tận dụng từ nguyên vật
liệu thải bỏ để hướng dẫn trẻ cùng thực hiện. Tôi nhận thấy, có rất nhiều sản phẩm
được tạo ra từ nguồn nguyên vật liệu này và trẻ đã hào hứng chơi với những đồ
chơi ấy vì yếu tố mới lạ luôn hấp dẫn trẻ để làm phong phú hơn ngân hàng đồ chơi
tại lớp cho trẻ. Nhằm kích thích sự tìm tòi, khám phá của trẻ vào các hoạt động một

cách tích cực.

(Hình ảnh đồ chơi làm từ nguyên liệu phế thải)
* Giải pháp 8. Chú trọng công tác tuyên truyền và phối kết hợp với Phụ
huynh.
- Tuyên truyền và phối kết hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục ý thức
bảo vệ môi trường là một biện pháp không thể thiếu khi giáo dục cho trẻ. Bởi, chỉ
có làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo viên mới nhận được sự hỗ trợ nhiệt
tình của các bậc phụ huynh về nguồn nguyên vật liệu thải bỏ để giáo viên có thể tận
dụng, hướng dẫn các bé làm đồ chơi đơn giản cho mình. Đồng thời, cũng thông qua
công tác này, phụ huynh sẽ hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức

16


bảo vệ môi trường cho con trẻ không phải chỉ ở phía nhà trường mà còn ở cả gia
đình nữa.
- Song song với việc làm tốt công tác tuyên truyền, vận động phụ huynh, tôi
hướng dẫn giáo viên tìm và tải trên mạng các bài báo, phóng sự về nêu cao tinh
thần, ý thức bảo vệ môi trường nhằm phục vụ cho công tác giáo dục trẻ ngày một
tốt hơn.
Nhà trường cũng tiến hành phát động phong trào ủng hộ xây dựng vườn cổ
tích để tạo “Môi trường xanh” cho trẻ hoạt động, phong trào ủng hộ được các bậc
phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng, kết quả 100% phụ huynh trong trường ủng hộ.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ bằng
những việc làm thiết thực, nhà trường cũng đã mua thêm thùng rác có nắp đậy hợp
vệ sinh cho mỗi lớp để giáo dục trẻ bỏ rác đúng nơi quy định giữ gìn vệ sinh chung.
Tôi cũng lên kế hoạch tổ chức các hoạt động cụ thể để các cô và trẻ tham gia
như tổng vệ sinh trong trường, thu gom rác, trồng cây xanh quanh trường và huy
động giáo viên, nhân viên trồng rau sạch tại trường để phục vụ cho các cháu ăn bán

trú, vận động phụ huynh thu gom phế liệu để cô và trẻ làm đồ dùng đồ chơi.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Bằng những kinh nghiệm chỉ đạo và sử dụng các biện pháp trên, qua một
năm theo dõi, đánh giá kết qủa giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm
non có những chuyển biến rõ rệt. Khẳng định chất lượng thực hiện chuyên đề giáo
dục bảo vệ môi trường của giáo viên ngày càng có chiều sâu, qua đó góp phần làm
thay đổi nhận thức của các bậc phụ huynh và cộng đồng về tầm quan trọng của môi
trường với sự sống của con người.
Kết quả như sau:
BẢNG KHẢO SÁT CUỐI NĂM HỌC
* Đối với giáo viên:
STT
Nội dung tiêu chí khảo sát

Kết quả
Đạt

1
2
3
4
TT
1
2

Lập kế hoạch tổ chức thực hiện chuyên
đề giáo dục bảo vệ môi trường
Xây dựng môi trường hoạt động
Tổ chức môi trường hoạt động

Công tác tuyên truyền.
* Đối với trẻ:
Tổng
Khả năng của trẻ
số
Trẻ có thói quen sống gọn gàng
ngăn nắp, vệ sinh cá nhân, vệ sinh
347
môi trường sạch sẽ.
Tích cực tham gia các hoạt động,
347
gần gũi bảo vệ môi trường.

Tỉ lệ % Chưa đạt Tỉ lệ %

17

100%

0

0

17
17
17

100%
100%
100%


0
0
0

0
0
0

Kết quả
Đạt

%

Chưa đạt

%

340

98%

7

2%

338

97.4%


9

2.6%

17


Trẻ biết chia sẻ và hợp tác với bạn
347
330
95%
17
5%
bè và những người xung quanh.
Có khả năng phản ứng với các hành
4 vi của con người làm bẩn môi
347
326
94%
21
6%
trường và phá hoại môi trường.
Qua bảng khảo sát lần 2: Sau khi áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng
chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non cho thấy chất
lượng chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non được
nâng lên rõ rệt. Từ đó góp phần quan trọng tạo ra một lớp người mới có sự hiểu biết
đầy đủ về vấn đề bảo vệ môi trường, từ đó có ý thức bảo vệ môi trường, làm cho xã
hội ngày càng phát triển.
Từ kết quả trên bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác quản
lý ở trường mầm non.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước.
Chăm sóc giáo dục trẻ là chăm sóc đến tương lai của cả một dân tộc. Bởi vậy giáo
dục bảo vệ môi trường cần được quan tâm đúng mức ngay từ lứa tuổi mầm non vì
trẻ ở lứa tuổi này rất thích tiếp xúc với thế giới tự nhiên và cuộc sống xung quanh.
Để giúp trẻ có những kiến thức và kỹ năng thực hành bảo vệ môi trường phù hợp
với khả năng của trẻ, điều quan trọng là giáo viên phải luôn gương mẫu cho trẻ làm
theo, luôn có ý thức hướng dẫn trẻ, kiên trì không được đốt cháy giai đoạn.
Giáo viên phải nhận thức đầy đủ đúng đắn về nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường và môi trường đối với sự phát triển của trẻ. Vì thế đòi hỏi giáo viên phải
nghiên cứu và hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để từ đó có những biện pháp tích
hợp giáo dục bảo vệ môi trường mọi lúc, mọi nơi không ngại khó, ngại khổ, ngại
bẩn...
Tích cực tìm tòi, sáng tạo áp dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy để áp
dụng nội dung chuyên đề một cách phù hợp với khả năng của trẻ và tình hình thực
tế ở trường và các nhóm, lớp. Tích cực sưu tầm tranh đẹp, hấp dẫn đảm bảo tính
thẩm mỹ có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường.
Luôn phối kết hợp chặt chẽ cùng phụ huynh học sinh, gia đình và nhà trường
để giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ.
Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, bài giảng điện tử, sưu tầm băng hình
để lưu giữ và sử dụng trên các hoạt động lồng ghép bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở đó giáo dục trẻ biết yêu quý, gần gũi môi trường và đánh giá các
hành vi tốt, xấu của con người trong việc chăm sóc, bảo vệ môi trường. Từ đó biết
cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của cơ
thể và trí tuệ. Đặc biệt qua giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ còn để nhắc nhở
người lớn và đánh thức ở họ biết bảo vệ môi trường sống cho trẻ em cũng như bảo
vệ cho một môi trường sống an toàn, sạch sẽ, lành mạnh và phong phú. Vì vậy giáo
dục bảo vệ môi trường cho trẻ là vấn đề quan trọng và vô cùng cần thiết.
2. Kiến nghị:

3

18


* Đối với Ủy ban nhân dân xã
Quan tâm sâu sắc hơn nữa đến ngành học mầm non. Tuyên truyền trên các
thông tin đại chúng, các buổi họp giao ban với trưởng các ban ngành đoàn thể và
tìm ra những giải pháp tốt nhất tránh tình trạng gây ô nhiễm đồng thời có biện pháp
xử lý và phân loại rác thải kịp thời và hợp lý.
* Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo
Thường xuyên mở các lớp tập huấn, chuyên đề cho giáo viên rèn luyện thêm
các kỹ năng về lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho giáo viên tìm
hiểu để tăng thêm kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường.
Đề nghị Phòng Giáo dục tham mưu với các cấp lãnh đạo bổ sung kịp thời số
giáo viên còn thiếu cho nhà trường để giáo viên có thời gian tổ chức các hoạt động
lồng ghép các chuyên đề được thường xuyên hơn và đạt kết quả cao hơn nữa.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong quá trình chỉ đạo thực
hiện chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ trong trường mầm non. Những
kinh nghiệm trên của tôi không tránh khỏi phần thiếu sót và hạn chế. Rất mong
được đồng nghiệp, cấp trên đóng góp, xây dựng ý kiến, tôi sẽ khắc phục trong quá
trình tổ chức thực hiện các chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường cũng như tổ chức
thực hiện các chuyên đề khác trong trường mầm non đạt kết quả tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

................................................................
.................................................................
.................................................................
.................................................................

.................................................................

Thanh Hóa, ngày 18 tháng 03 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN

Mai Thị An

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Báo người lao động viết về “Toàn cảnh vụ cá chết hàng loạt ở miền Trung” ra
ngày 30/06/2016.
[2]. Tài liệu tập huấn Giáo dục bảo vệ môi trường cho giáo viên mầm non - NXB
Hà Nội tháng 02/2008. Tr.03
[3]. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên Module 27 “Thiết kế các hoạt
động giáo dục lồng ghép nội dung Bảo vệ môi trường, giáo dục sư dụng năng
lượng tiết kiệm và giáo dục an toàn giao thông”. Tr 112, 113
[4]. Chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non tháng 8/2007.
Tr.01.
[5]. Hướng dẫn thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non.
NXB Giáo dục Việt Nam 2003. Tr.12

20


DANH MỤC

CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP
CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Mai Thị An
Chức vụ và đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng trường mầm non Thiệu Tiến

TT

1

2
3

4

Kết quả
Cấp đánh
đánh
Năm học
giá xếp loại giá xếp
Tên đề tài SKKN
đánh giá
(Phòng, Sở, loại (A,
xếp loại
Tỉnh...)
B, hoặc
C)
Một số biện pháp nâng cao chất
Phòng
B

2010-2011
lượng phong trào “Xây dựng trường
GD&ĐT
học thân thiện, học sinh tích cực”
cho trẻ 5-6 tuổi
Một số biện pháp tổ chức hoạt động
Phòng
A
2013-2014
góc cho mẫu giáo trẻ 5-6 tuổi ở
GD&ĐT
trường mầm non Thiệu Thành
Một số biện pháp tổ chức hoạt động
Sở
C
2013-2014
góc cho mẫu giáo trẻ 5-6 tuổi ở
GD&ĐT
trường mầm non Thiệu Thành
Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên
Phòng
A
2016-2017
nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức
GD&ĐT
bảo vệ môi trường cho trẻ thông qua
các hoạt động hàng ngày ở trường
mầm non Thiệu Tiến, Thiệu Hóa
Tác giả


Mai Thị An

21


22



×