Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng các tiết dạy luyện tập môn toán lớp 3

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (125.29 KB, 20 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

******

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO GIÁO VIÊN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC TIẾT DẠY “LUYỆN TẬP”
MÔN TOÁN LỚP 3

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương
Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Minh Khai 2
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Quản lý

THANH HOÁ, NĂM 2017


1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài :
Toán học là môn khoa học cơ bản của mọi cấp học, bậc học. Nó có vai trò
quan trọng trong đời sống thực tế. Đối với bậc tiểu học, môn Toán góp phần
bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn đạt đúng,
cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống,
kích thích trí tưởng tượng, góp phần hình thành phương pháp tự học và làm việc
có kế hoạch, khoa học, chủ động, sáng tạo.
Để đạt được mục tiêu đó, hoạt động dạy - học Toán Tiểu học nói chung và
dạy- học Toán 3 nói riêng cần phải được chú trọng về phương pháp dạy - học,
cách thức tổ chức lên lớp, ...và đặc biệt là sự quản lí, chỉ đạo của Ban giám hiệu
(BGH) nhà trường.


Chương trình Toán 3 là một bộ phận của chương trình môn Toán tiểu học.
Nội dung chương trình Toán 3 được cụ thể hoá thành nội dung các tiết học bao
gồm: Các tiết dạy học bài mới; các tiết luyện tập, thực hành, luyện tập chung, ôn
tập,...(gọi chung là các tiết luyện tập) và các tiết kiểm tra. Mỗi loại tiết học yêu
cầu giáo viên phải có phương pháp, cách thức tổ chức khác nhau.
Nhiều năm gần đây, vấn đề nâng cao chất lượng giờ dạy môn Toán nói
chung và giờ dạy của các tiết “Luyện tập” môn Toán nói riêng đã được nhiều
người đề cập đến, đặc biệt là đội ngũ giáo viên đứng lớp và BGH các nhà
trường. Tuy nhiên làm thế nào để nâng cao chất lượng giờ dạy của các tiết
“Luyện tập” môn Toán nói chung và “Luyện tập” Toán 3 nói riêng thì vẫn chưa
có một định hướng nào cụ thể.
Qua tìm hiểu nắm bắt tình hình về chuyên môn, qua dự giờ thăm lớp, tôi
nhận thấy thực trạng về chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán của đội
ngũ giáo viên nói chung, giáo viên khối lớp 3 nói riêng của trường tiểu học
Minh Khai 2 còn một số tồn tại dẫn đến chất lượng dạy và học chưa cao.
Chính vì vậy, tôi quyết định nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp nhằm
giúp giáo viên nâng cao chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” của môn Toán 3 từ
đó rút ra một số kinh nghiệm chỉ đạo trong công tác quản lí tại nhà trường.
2


Vì điều kiện có hạn, những biện pháp mà tôi đưa ra chỉ mới thực hiện cho
giáo viên khối 3 ở trường tiểu học Minh Khai 2, hy vọng nó sẽ góp phần nhỏ bé
trong việc nâng cao chất lượng dạy học Toán 3 nói riêng và chất lượng giáo dục
Tiểu học nói chung.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
- Xác định thực trạng chất lượng dạy và học của đội ngũ giáo viên-học sinh
khối lớp 3 trường Tiểu học Minh Khai 2-TP Thanh Hóa.
- Đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các
tiết “Luyện tập” môn Toán lớp 3.

1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa toán 3, các tài liệu
tham khảo có liên quan.
- Những nguyên nhân dẫn đến giáo viên dạy các tiết “Luyện tập” Toán 3
chất lượng giờ dạy và hiệu quả đạt được của học sinh chưa cao.
- Tìm ra các biện pháp tối ưu nhất trong dạy học các tiết “Luyện tập” Toán
lớp 3 giúp đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng dạy học qua công tác chỉ đạo,
quản lí tại nhà trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu luận: Nghiên cứu các cơ sở phương pháp luận,
các tài liệu, tạp chí có liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học.
- Phương pháp quan sát: Dự giờ dạy của giáo viên; khảo sát chất lượng của
học sinh qua các bài kiểm tra.
- Phương pháp thuyết trình, giảng giải.
- Phương pháp đàm thoại, điều tra, thống kê: Xử lý các số liệu và kết quả thu
được dẫn đến quá trình nghiên cứu.
1.5. Điểm mới của SKKN:
- Đề kiểm tra khảo sát chất lượng học sinh đảm bảo theo 4 mức độ quy định
TT22/TT- BGD ĐT năm 2016.
- Đánh giá kết quả khảo sát, học tập của học sinh theo TT 22/ TT- BGD ĐT
năm 2016.
3


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của SKKN:
Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau
dồi phẩm chất đạo đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó. Đó là phẩm chất vốn
có của con người. Thông qua học Toán để đức tính đó được thường xuyên phát
huy và ngày càng hoàn thiện.

Chương trình Toán Tiểu học là một công trình khoa học mang tính truyền
thống và hiện đại. Việc dạy Toán Tiểu học phải được đổi mới một cách mạnh mẽ
về phương pháp, về cung cách lên lớp, về chấm chữa và đánh giá học sinh.
Nghiên cứu chương trình Toán lớp 3 chúng ta thấy rằng đó là một nội dung hoàn
chỉnh sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của trẻ. Nghiên cứu để thấy rõ
nội hàm của nó, bản chất của nó mới có phương pháp giảng dạy sát đúng.
Trong quá trình dạy học toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng,
môn toán là một trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học ở
tiểu học.
Chương trình môn Toán Lớp 3 có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp
những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những
kiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng
dụng trong thực tế đời sống. Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học
sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ
(trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh,…).
Nó giúp học sinh biết tư duy suy nghĩ, tương tác làm việc góp phần giáo dục
những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao động.
Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thiết thực trong đời
sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương pháp và tác phong làm
việc khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa tuổi. Tạo tiền đề
cho học sinh học tốt các môn học còn lại.

4


2.2. Thực trạng của đề tài trước khi áp dụng SKKN:
Năm học 2016 - 2017 trường Tiểu học Minh Khai 2 gồm có 17 lớp với 593
học sinh. Trong đó khối lớp 3 có 4 lớp với 120 học sinh.
Sơ lược về các đồng chí giáo viên được phân công dạy khối lớp 3, cụ thể :

TT
1
2
3
4

Họ và tên GV
TĐĐT
Tuổi đời
Tuổi nghề Số năm dạy L3
Vũ Thị Thảo
THSP 12+2
53
33
12
Đặng Thị Mai Lan
ĐH Tiểu học
41
19
10
Lưu Thị Hương
ĐH Tiểu học
45
21
13
Ng.Thị Kim Dung
ĐH Tiểu học
53
33
15

Cả bốn đồng chí đều đã được dạy lớp 3 nhiều năm song trên thực tế chất

lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán vẫn có những hạn chế nhất định.
Để nắm bắt cụ thể về thực trạng chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn
Toán của đội ngũ giáo viên khối 3, trong 3 tuần: tuần 4,5,6 của năm học 20162017 tôi đã tiến hành dự giờ đánh giá một số tiết dạy “Luyện tập” của các đồng
chí giáo viên và khảo sát chất lượng học tập của học sinh khối lớp 3, kết quả cụ
thể như sau:
a. Kết quả giờ dạy của giáo viên.
Họ và tên GV
Vũ Thị Thảo
Đặng Thị Mai Lan
Lưu Thị Hương
Nguyễn Thị Kim Dung

Phụ

Tổng số

trách lớp
3A
3B
3C
3D

tiết dự
6
6
6
6


Giỏi
0
0
1
2

Kết quả
Khá
TB
3
3
2
3

Yếu

3
2
3
1

0
1
0
0

Qua bảng kết quả khảo sát trên tôi nhận thấy thực trạng về chất lượng các
tiết dạy “Luyện tập” môn Toán của đội ngũ giáo viên khối lớp 3 còn tồn tại một
số vấn đề sau:
+ Đa số các tiết luyện tập, giáo viên chỉ tổ chức cho học sinh giải hết các

bài tập có trong SGK (hoặc các bài tập trong vở bài tập có dạng tương tự) mà
chưa chú ý nhiều đến việc củng cố, khắc sâu các kiến thức cần thiết giúp học
sinh hình thành và phát triển các kĩ năng toán học.

5


+ Một số tiết dạy có đồng nghiệp hoặc BGH dự giờ, các đồng chí thường
thiếu bình tĩnh, tự tin dẫn đến giáo viên nói nhiều, học sinh được làm việc ít
không đúng với đặc trưng của bộ môn.
+ Một số tiết “Luyện tập”, giáo viên chưa xác định được kiến thức trọng
tâm cần củng cố, hệ thống hoặc mở rộng nên phân bố thời gian trong tiết học
theo kiểu dàn đều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao.
+ Đối với một số tiết luyện tập có các bài tập mang nội dung kiến thức
mới, giáo viên thường gặp lúng túng về phương pháp tổ chức cho học sinh làm
bài tập để rút ra những kiến thức cần thiết.
+ Giáo viên còn tuân thủ, phụ thuộc nhiều vào SGK, SGV mà chưa chú
trọng đến đối tượng học sinh trong lớp để lựa chọn bài tập cho phù hợp nhằm
kích thích tất cả các đối tượng học sinh tham gia học tập tích cực.
Thực trạng trên là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến chất
lượng dạy- học Toán ở lớp 3 còn có những hạn chế nhất định.
b. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh.
Tổng số
học sinh
120

Hoàn thành tốt
SL
%


Hoàn thành
SL
%

65

46

54,2

38,3

Chưa hoàn thành
SL
%
9

7,5

Từ kết quả đánh giá chất lượng giờ dạy của giáo viên và kết quả khảo sát
chất lượng học tập của học sinh tôi thấy rằng chất lượng các tiết dạy “Luyện
tập” môn Toán của các đồng chí giáo viên khối 3 còn nhiều hạn chế. Với đặc
trưng của bộ môn thì các tiết “Luyện tập” có vai trò vô cùng quan trọng. Chất
lượng giờ dạy của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của các
em học sinh. Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành còn nhiều,
một số học sinh tuy làm bài có kết quả đúng nhưng lại không hiểu rõ bản chất
của vấn đề mà chỉ làm theo mẫu, theo cảm tính.
Đứng trước thực trạng đó, là một cán bộ quản lí trường học tôi thấy mình
cần phải có những biện pháp để giúp cho đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng
các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán 3. Bởi vậy, năm học 2016 -2017, tôi đã thực

6


hiện áp dụng một số biện pháp chỉ đạo để nâng cao hiệu quả các tiết dạy “Luyện
tập” môn Toán ở lớp 3 trường Tiểu học Minh Khai 2 - TP Thanh Hoá.
2.3. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Với điều kiện hiện có của nhà trường, để chỉ đạo cho giáo viên khối 3 nâng
cao chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán lớp 3 tôi đã tiến hành chỉ đạo
bằng các biện pháp cụ thể trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2016 đến đầu
tháng 4 năm 2017 trên đối tượng giáo viên và học sinh khối lớp 3 trường tiểu
học Minh Khai 2 bằng các phương pháp: Quan sát, hỏi đáp, thuyết trình kết hợp
giảng giải, đàm thoại, điều tra, thống kê.
- Biện pháp 1: Bổ sung cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học:
Xuất phát từ nhận thức: Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học là yếu tố
quan trọng để góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng
các tiết dạy Toán nói riêng, tôi đã tiến hành lập kế hoạch bổ sung cơ sở vật chất,
trang thiết bị trong năm học bằng 3 biện pháp, cụ thể:
1. Bổ sung bằng nguồn thiết bị được trang cấp từ cấp trên.
2. Bổ sung bằng nội lực của nhà trường: (Tiết kiệm chi tiêu kinh phí Ngân
sách nhà nước và động viên đội ngũ giáo viên tự làm Đồ dùng dạy học)
3. Bổ sung bằng nguồn hỗ trợ của các tổ chức khác như kinh phí hỗ trợ của
UBND Thành phố,UBND phường Trường Thi, Hội cha mẹ học sinh, một số cá
nhân hảo tâm ở địa phương.
Trong năm học, tôi đã tham mưu với nhà trường mua bổ sung thêm một số
bảng từ để thay thế bảng từ ở các lớp đã bị hỏng, mua bổ sung các thiết bị đã hư
hỏng trong bộ đồ dùng được cấp, đóng thêm nhiều giá treo tranh để tại lớp, lắp
thêm một số máy chiếu để giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
trong các tiết dạy GAĐT, kết nối mạng Internet để tạo thuận lợi cho việc dạy
học trực tuyến, dowloat hình ảnh có liên quan phục vụ bài học…Những việc
làm trên đã góp phần không nhỏ cho việc nâng cao chất lượng không những chỉ

các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán mà nhiều các tiết học khác: Chẳng hạn nếu
không có giá treo tranh để tại lớp hoặc không có máy chiếu để giáo viên dowloat
hình ảnh có liên quan phục vụ bài học thì đối với tiết “Luyện tập” môn Toán có
7


những sơ đồ, những bảng, biểu, những bài mẫu…sẽ không thuận tiện cho việc
lưu giữ hay chuẩn bị nội dung bài trước khi lên lớp do đó có thể nhiều giáo viên
sẽ ngại sử dụng dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao.
- Biện pháp 2 (Biện pháp trọng tâm): Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ cho giáo viên khối lớp 3:
Đây là biện pháp trọng tâm trong số các biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng tiết dạy “Luyện tập” môn Toán lớp 3. Tôi nhận thấy rằng: Trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của mỗi giáo viên là yếu tố cơ bản, mang tính quyết định
đến chất lượng một tiết dạy nói chung và một tiết dạy “Luyện tập” Toán lớp 3
nói riêng. Để khắc phục những thực trạng như đã nêu ở trên, nhằm bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, tôi đã chỉ đạo cho các đồng chí giáo viên
bằng 3 biện pháp, cụ thể đó là:
1. Nắm vững toàn bộ nội dung chương trình Toán 3 một cách có hệ thống:
Nhằm khắc phục thực trạng: Khi dạy các tiết luyện tập thường là giáo viên
chỉ mới tổ chức cho học sinh làm các bài tập sau đó chữa và khẳng định kết quả
đúng, sai mà chưa chú trọng nhiều đến việc củng cố, khắc sâu, hệ thống hoá các
kiến thức cần thiết hay trong một số tiết “Luyện tập” giáo viên chưa xác định
được kiến thức trọng tâm cần củng cố, hệ thống hoặc mở rộng nên phân bố thời
gian trong tiết học theo kiểu dàn đều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao, tôi
đã chỉ đạo cho các đồng chí giáo viên bắt buộc phải nắm vững nội dung chương
trình môn Toán ở lớp mà mình được phân công phụ trách một cách có hệ thống.
Chẳng hạn môn Toán lớp 3 gồm có 5 mạch kiến thức đó là: Số học, đại lượng và
đo đại lượng, yếu tố hình học ,yếu tố thống kê và giải toán có lời văn. Trong
từng mạch kiến thức lại có nhiều nội dung như mạch kiến thức về số học bao

gồm các nội dung: Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000, giới thiệu các số
trong phạm vi 10.000, giới thiệu các số trong phạm vi 100.000…
Việc nắm vững nội dung chương trình Toán 3 một cách có hệ thống sẽ giúp
cho giáo viên tổ chức các tiết học “Luyện tập” tốt hơn cụ thể là: Giáo viên xác
định được các bài tập trọng tâm trong các tiết học, các bài tập ôn tập kiến thức
cũ, các bài tập mang kiến thức mới từ đó sẽ có phương pháp, hình thức tổ chức
8


dạy học tốt hơn hoặc giáo viên sẽ tổ chức củng cố, khắc sâu, các kiến thức cần
thiết, các kiến thức trọng tâm một cách có hệ thống sau khi học sinh làm xong
mỗi bài tập hoặc sau cả tiết học.
Ví dụ: Tiết 8 :

Ôn tập các bảng nhân (SGK Toán Lớp 3 - trang 9)

Bài tập 1: a.Tính nhẩm:
3x4=

2 x6=

4x3=

5x6=

3x7=

2 x8=

4x7=


5x4=

3x5=

2 x4=

4x9=

5x7=

3x8=

2 x9=

4x4=

5x9=

b. Tính nhẩm
200 x 3 = ?

200 x 2 =

300 x 2 =

Nhẩm: 2 trăm x 3 = 6 trăm

200 x 4 =


400 x 2 =

Vậy: 200 x 3 = 600

100 x 5 =

500 x 1 =

- Với bài tập này, ta hãy so sánh 2 cách dạy:
Cách 1: Đối với giáo viên không nắm vững nội dung chương trình môn Toán
3 một cách có hệ thống, không nghiên cứu kỹ nội dung bài dạy thì sẽ rất dễ dẫn
đến tình trạng giáo viên chỉ cho học sinh làm miệng hoặc làm trên vở bài tập sau
đó nêu kết quả và nhận xét đúng, sai sau đó chuyển sang bài tập khác. Như vậy
rõ ràng tiết dạy không thể đảm bảo tốt yêu cầu đặt ra.
Cách 2: Đối với giáo viên nắm vững nội dung chương trình môn Toán 3 một
cách có hệ thống.
- Với yêu cầu a của bài tập: Ngoài việc tổ chức cho học sinh hoàn thành các
bài tập và chữa bài khẳng định kết quả đúng, sai; giáo viên còn phải tổ chức để
củng cố sâu kiến thức cho học sinh đó là ôn tập lại toàn bộ các bảng nhân 2, 3, 4,
5(các em đã được học ở lớp 2). Như vậy đối với học sinh đã thuộc các bảng
nhân trên thì sẽ giúp cho các em nắm lại các bảng nhân một cách có hệ thống
còn đối với những học sinh chưa thuộc hết hoặc đã quên các bảng nhân thì giáo
viên sẽ giúp các em học thuộc hoặc nhớ lại các bảng nhân trên.
- Với yêu cầu b của bài tập: Cũng có yêu cầu là tính nhẩm nhưng khác hẳn
với yêu cầu a vì đây là bài tập mang kiến thức mới bởi vậy cách tổ chức cho học
9


sinh làm bài tập phải khác với yêu cầu a. Giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu
và biết cách nhân nhẩm số tròn trăm với số có 1 chữ số như đã trình bày ở bài

mẫu (Phần được đóng trong khung) sau đó các em sẽ hoàn thành các bài tập còn
lại.
Như vậy với 2 cách dạy,ta thấy rõ ràng ở cách 2 chất lượng giờ dạy sẽ tốt
hơn bởi vậy việc chỉ đạo cho đội ngũ giáo viên bắt buộc phải nắm vững nội
dung chương trình môn Toán ở lớp mà mình được phân công phụ trách một cách
có hệ thống là việc làm hết sức cần thiết.
2. Giúp giáo viên có thêm kỹ năng XDKHBH.
XDKHBH là việc làm thường xuyên, liên tục của mỗi giáo viên. Song
XDKHBH như thế nào để góp phần nâng cao chất lượng tiết dạy thì không phải
giáo viên nào cũng làm tốt. Qua kiểm tra, tôi nhận thấy các đồng chí giáo viên
chưa mạnh dạn đổi mới trong việc XDKHBH, khi XDKHBH các đồng chí giáo
viên còn phụ thuộc nhiều vào sách giáo viên (SGV) chưa thể hiện rõ được các
kiến thức cần củng cố, mở rộng hay hệ thống sau mỗi bài tập, hoặc sau mỗi tiết
học trong một tiết luyện tập.
Để khắc phục thực trạng đó và nâng cao chất lượng tiết dạy, tôi đã hướng
dẫn cho giáo viên kỹ năng để xây dựng kế hoạch bài dạy có chất lượng tốt như
sau: Xây dựng KHBH nên phụ thuộc vào đối tượng học sinh không nên phụ
thuộc hoàn toàn vào sách giáo viên vì sách giáo viên chỉ là tài liệu tham khảo.
Tôi đã hướng dẫn và giúp giáo viên hiểu rằng: XDKHBH mục đích là chuẩn
bị phương án để mỗi tiết học có hiệu qủa tốt nhất trong điều kiện hiện có chứ
không phải XDKHBH để BGH kiểm tra. Do vậy khi XDKHBH, điều kiện
không thể thiếu là mỗi giáo viên nhất thiết phải dựa vào đối tượng học sinh của
mình mà lựa chọn các bài tập cho phù hợp. Các bài tập được sắp xếp trong tiết
luyện tập không nhất thiết phải giải quyết hết trong tiết học. Căn cứ vào đối
tượng học sinh để XDKHBH còn giúp cho giáo viên lựa chọn phương pháp dạy
học phù hợp và định hướng các hình thức tổ chức dạy học hợp lý. Có những bài
tập có thể tổ chức đồng loạt với tất cả học sinh có những bài tập nâng cao có thể

10



chỉ cần tổ chức cho một nhóm học sinh năng khiếu trong lớp thực hiện ngay tại
lớp.
Nếu không căn cứ vào đối tượng học sinh khi xây dựng các hoạt động chủ
yếu trong tiết học thường là giáo viên xây dựng cách giải quyết các bài tập theo
các bước như sau:
Bước 1: Nêu yêu cầu của bài tập
Bước 2: Học sinh thực hiện giải.
Bước 3: Chữa bài, nhận xét kết quả.
Bước 4: Củng cố kiến thức thông qua bài tập.
Như vậy, nếu thực hiện tiết dạy theo trình tự như trên thì tiết đó không thể
có chất lượng tốt. Đối tượng học sinh chưa hoàn thành thường hay bị bỏ rơi, có
thể là các em không làm được đầy đủ số lượng bài tập như các bạn học sinh
hoàn thành, hoàn thành tốt nên dẫn đến chán nản hoặc các em làm đúng đáp số
nhưng chưa hiểu được bản chất của vấn đề.
Để nâng cao chất lượng giờ dạy với mục đích dạy học đến từng đối tượng
học sinh, người giáo viên không nhất thiết phải tuân thủ theo SGV mà phải căn
cứ vào tình hình thực tế đối tượng học sinh, căn cứ vào số lượng và nội dung các
bài tập có thể gộp nhiều bài tập có cùng nội dung thành một hoạt động để tổ
chức cho học sinh làm hoặc có thể yêu cầu học sinh thực hiện một số nội dung
cụ thể phù hợp với trình độ của mình:
Ví dụ: Toán (Tiết 99): Luyện tập

(Sgk Toán 3 - trang 101)

Trong tiết học gồm có 4 bài tập, không nhất thiết ta phải tổ chức cho học
sinh làm từng bài tập như SGV đã hướng dẫn ta có thể xây dựng gộp bài tập 1
và bài tập 2 thành một hoạt động và xây dựng cách tổ chức hoạt động đó như
sau:


Bài tập 1:
>
<

a) 7766 ... 7676
?

8453 ... 8435

b) 1000g ... 1kg
950g ...1 kg
11


=

9102 ... 9120
5005 ...4905

1km ...1200 m
100 phút ...1giờ 30 phút

Bài tập 2: Viết các số 4208, 4802, 4280, 4082
a. Theo thứ tự từ bé đến lớn;
b.Theo thứ tự từ lớn đến bé;
Xây dựng cách tổ chức 2 bài tập này như sau:
+ 1-2 học sinh nêu yêu cầu của cả 2 bài tập.
+ Yêu cầu thực hiện bài tập theo đối tượng học sinh :
- Học sinh (HTT): Tự làm hoàn chỉnh tất cả các bài tập vào vở.
- Học sinh (HT): Tự làm tùy theo mức độ khả năng.

- Học sinh (CHT): Chỉ yêu cầu các em làm dòng 1, dòng 2, dòng 4 của ý a
bài 1; dòng 1, dòng 3, dòng 4 của ý b bài 1.
+ Chữa bài, nhận xét: Cho học sinh nêu kết quả bài làm của mình, nêu cách
làm, đối tượng học sinh khác nhận xét,sửa chữa (nếu cần).
+ Học sinh (HTT) nêu toàn bộ kết quả các bài tập còn lại trong bài tập 1và 2.
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh củng cố về so sánh các số trong phạm vi
10.000, viết các số theo thứ tự từ bé đến lớn và ngược lại.
+ Yêu cầu những học sinh chưa hoàn thành hết bài tập sẽ vận dụng kiến thức
vừa được củng cố để giải quyết các bài tập còn lại vào buổi học thứ 2 hoặc ở
nhà.
Như vậy, với cách làm này tất cả học sinh đều được làm việc và hoạt động,
hợp tác tích cực các tiết luyện tập.
Qua ví dụ trên, ta thấy rằng để tiết dạy “Luyện tập” Toán có hiệu quả cao thì
việc xác định đối tượng học sinh cụ thể là việc làm cần thiết của mỗi giáo viên
phải ngay từ khâu XDKHBH chứ không phải là đến khi lên lớp mới xác định.
Căn cứ vào đối tượng để hoạch định ra số lượng và mức độ bài tập sao cho phù
hợp đảm bảo yêu cầu tối thiểu với mỗi học sinh trong một tiết học trên lớp tránh
tình trạng dựa vào SGV mà xây dựng kế hoạch bài học của tất cả các tiết
“Luyện tập” Toán theo một khuôn mẫu chung.

12


3. Giúp giáo viên có thêm kỹ năng xác định bài tập trọng tâm trong mỗi
tiết “Luyện tập” và xác định vị trí của mỗi tiết “Luyện tập” đối với nội dung
chương trình toán 3.
Đây là một trong những kỹ năng hết sức quan trọng của người giáo viên để
làm nên thành công của một tiết dạy nói chung và tiết “Luyện tập” toán 3 nói
riêng. Dù giáo viên đã nắm vững chương trình một cách có hệ thống, đã xây
dựng kế hoạch bài dạy đảm bảo chất lượng, phù hợp với đối tượng học sinh của

lớp mình phụ trách mà không chú ý đến việc xác định bài tập trọng tâm trong
mỗi tiết “Luyện tập” và xác định vị trí của mỗi tiết “Luyện tập” đối với nội dung
chương trình toán 3 thì một tiết “Luyện tập” Toán cũng không thể có chất lượng
tốt. Bởi lẽ rằng đối với một tiết “Luyện tập” Toán thì nội dung tiết học là một hệ
thống bài tập (gồm từ 3-5 bài), nếu giáo viên xác định được đâu là bài tập trọng
tâm thì sẽ có định hướng từ khâu xây dựng kế hoạch bài học đến quá trình lên
lớp. Đối với những bài tập mang nội dung trọng tâm của mỗi tiết học, giáo viên
phải ưu tiên hơn về mặt thời gian, sau khi học sinh làm bài tập xong phải tổ chức
củng cố kiến thức một cách có hệ thống thì kiến thức trọng tâm của tiết học mới
nổi bật, học sinh mới khắc sâu được kiến thức cần thiết và đưa thêm một số bài
tập nâng cao, mở rộng thêm cho đối tượng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu.
Ví dụ: Toán (Tiết 99) :

Luyện tập

(Sgk Toán 3 - trang 101)

Trong số 4 bài tập thì bài tập 1 là bài tập trong tâm ( nội dung bài tập đã nêu
ở phần trên). Bởi lẽ đây là tiết “Luyện tập” của nội dung “So sánh các số trong
phạm vi 10.000”. Vì vậy khi dạy tiết “Luyện tập” này, từ khâu xây dựng kế
hoạch bài học đến quá trình tổ chức lên lớp giáo viên phải dự kiến thời gian cho
bài tập này nhiều hơn. Sau khi làm xong bài tập này, giáo viên không thể chỉ
dừng lại ở việc nhận xét kết quả đúng hay sai mà giáo viên phải củng cố được
cách so sánh các số trong phạm vi 10.000 (Học sinh phải hiểu và nêu được các
bước thực hiện bằng lời).
Song song với việc xác định bài tập trọng tâm, trong mỗi tiết “Luyện tập”
tôi đã hướng dẫn cho giáo viên khối 3 xác định đúng vị trí của tiết học bằng
cách:
13



Tìm hiểu xem tiết “Luyện tập” đó là luyện tập cho 1 bài hay một phần gồm
nhiều nội dung hay luyện tập cho 1 chương. Nội dung tiết học hiện tại có giúp
ích gì cho kiến thức của những bài kế tiếp hay không ? Từ việc xác định đó, mới
giúp cho giáo viên có phương pháp và cách thức tổ chức dạy học có hiệu quả.
Ví dụ: Tiết “ Luyên tập” 142 và tiết “ Luyện tập” 144
Tiết “Luyện tập” 142- Sgk Toán 3 trang 153 được dạy sau bài “Diện tích
hình chữ nhật” nên chỉ có mục đích rèn cho học sinh kỹ năng tính diện tích hình
chữ nhật theo kích thước cho trước. Tiết “ Luyện tập” 144- Sgk Toán 3 trang 154
dạy sau bài “Diện tích hình vuông” nên có mục đích chính là: “Rèn luyện kỹ
năng tính diện tích hình vuông” nhưng vì trước đó các em đã được học tính
“Diện tích hình chữ nhật”, tính “Chu vi hình chữ nhật”, “Chu vi hình vuông”
mà sau tiết 144, nội dung các tiết học lại chuyển sang phần mới (Bốn phép tính
trong phạm vi 100.000) nên thông qua tiết 144, giáo viên phải củng cố một cách
có hệ thống về tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật; chu vi, diện tích của hình
vuông chứ không đơn giản chỉ là rèn luyện cho học sinh kỹ năng tính diện tích
hình vuông.
Bằng biện pháp này, tôi đã giúp cho giáo viên có thói quen phải xác định
được bài tập trọng tâm trong mỗi tiết “Luyện tập”, phải tìm hiểu và xác định
đúng vị trí của mỗi tiết “Luyện tập” đối với nội dung chương trình toán 3 bắt
đầu từ khi XDKHBH cho đến quá trình tổ chức lên lớp nhằm mục đích củng cố
các kiến thức cho các em một cách có hệ thống để đảm bảo yêu cầu đặt ra đối
với mỗi tiết “Luyện tập”.
Ngoài các biện pháp trên, để tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho
giáo viên khối 3, tôi còn hướng dẫn cho giáo viên một số việc làm cụ thể như:
+ Xác định đúng các bài tập mang nội dung kiến thức mới trong các tiết
“Luyện tập” dựa vào dấu hiệu trong SGK(Các ví dụ hoặc các bài tập được đóng
khung màu xanh in trong SGK) để từ đó có phương pháp và cách thức tổ chức
dạy học hợp lý.


14


Ví dụ: Ý b của bài tập 1, ví dụ mẫu trong bài tập 2 (Tiết 8 - Ôn tập các bảng
nhân - Sgk Toán 3- trang 9) hay ví dụ mẫu trong bài tập 2 (Tiết 9 - Ôn tập các
bảng chia - Sgk Toán 3 - trang 10).
+ Chuẩn bị cho bản thân và cho học sinh tâm thế thật tốt trước khi lên lớp dù
có đồng nghiệp hoặc không có đồng nghiệp dự giờ, luôn tạo cho học sinh ở
trạng thái thoải mái, lớp học có không khí vui vẻ. Một số bài tập trong tiết học
có thể tổ chức duới hình thức chơi trò chơi để các em củng cố kiến thức một
cách dễ dàng, tránh gây áp lực căng thẳng đối với học sinh trong việc tiếp thu
hay củng cố các kiến thức để các em yêu thích môn học hơn.
Từ thực trạng về chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán của đội ngũ
giáo viên khối 3 tôi đã đưa một số biện pháp chỉ đạo để nâng cao chất lượng dạy
các tiết “Luyện tập” môn Toán 3. Đến nay, qua khảo sát, đánh giá, tôi thấy chất
lượng các tiết dạy của giáo viên cũng như chất lượng học tập của học sinh đã có
nhiều tiến bộ rõ rệt.
Đối với giáo viên, không còn giờ dạy xếp loại trung bình, yếu, chất lượng
các giờ dạy khá, giỏi tăng. Đối với học sinh, tỉ lệ học sinh Hoàn thành tốt tăng
lên đáng kể, tỉ lệ học sinh Hoàn thành còn rất ít, không còn học sinh Chưa hoàn
thành (Kết quả cụ thể được nêu ở phần sau). Điều đó đã chứng tỏ được hiệu quả
của các biện pháp chỉ đạo mà tôi đã nêu trên.
2.4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
Sau một thời gian chỉ đạo giáo viên khối 3 áp dụng các biện pháp để nâng
cao chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán, tôi tiến hành dự giờ giáo
viên (Tuần 29,30) và khảo sát chất lượng học tập của học sinh.
So sánh với kết quả giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh đầu năm.
Cuối năm học kết quả đạt được như sau:


a. Kết quả giờ dạy của giáo viên.
Họ và tên GV

Phụ trách

Tổng số

Kết quả
15


lớp
3A
3B
3C
3D

Vũ Thị Thảo
Đặng Thị Mai Lan
Lưu Thị Hương
Nguyễn Thị Kim Dung

tiết dự
4
4
4
4

Giỏi
2

1
2
3

Khá
2
3
2
1

TB
0
0
0
0

Yếu
0
0
0
0

b. Kết quả khảo sát chất lượng học sinh.
Tổng số
120

Hoàn thành tốt
SL
%
94

78,4

Hoàn thành
SL
%
26
21,6

Chưa hoàn thành
SL
%
0

So sánh kết quả giữa 2 lần khảo sát (tuần 4,5,6 và tuần 29, 30), ta thấy chất
lượng các tiết dạy của giáo viên cũng như chất lượng học tập của học sinh đã có
sự thay đổi rõ rệt, cụ thể như sau:
* Đối với chất lượng giờ dạy của giáo viên:
Tổng
Các thời điểm đánh giá

số

tiết được
đánh giá
24
16

Tuần 4,5,6
Tuần 29 và 30


Kết quả
Giỏi
SL
%
3
8

12,5
50

Khá
SL
%
11
8

TB

45,8
50

SL

%

9

37,5

Yếu

SL
%
1

4,2

* Đối với chất lượng học tập của học sinh:
Tổng số
Các thời điểm
đánh giá
Tuần 6
Tuần 30

bài khảo
sát
120
120

Hoàn thành tốt
SL
%

Kết quả
Hoàn thành
SL
%

65
94


46
26

54,2
78,4

38,3
21,6

Chưa hoàn thành
SL
%
9
0

7,5

Nhìn vào kết quả trên, ta thấy chất lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn
Toán của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh khối 3 đã được nâng lên
vượt bậc. Đối với chất lượng các giờ dạy của giáo viên, tỉ lệ các giờ được xếp
loại khá, giỏi đều tăng, đặc biệt không còn giờ dạy xếp loại trung bình, yếu. Đối
với chất lượng học sinh tỉ lệ học sinh Chưa hoàn thành không còn, tỉ lệ học sinh

16


Hoàn thành, Hoàn thành tốt tăng khá cao chứng tỏ các biện pháp chỉ đạo mà tôi
đã đưa ra đạt hiệu quả khả quan.
Qua trao đổi, thảo luận các đồng chí đã ghi nhận trước kia dạy tiết “Luyện
tập” Toán thường là phải cố gắng làm thế nào để giải quyết hết tất cả các bài tập

mà ít chú ý đến việc củng cố bài tập như thế nào để học sinh nắm được kiến thức
một cách có hệ thống.
Với cách làm này, một số học sinh đã không còn ngại học tiết “Luyện tập”
Toán nữa vì các em không còn lo sợ phải lên bảng mà không làm được bài. Chất
lượng các tiết dạy của giáo viên được nâng lên kéo theo sự tiến bộ về chất lượng
học tập của học sinh. Từ kết quả cụ thể trên đã cho ta thấy rằng chất lượng các
tiết dạy của giáo viên - chất lượng học tập của học sinh không chỉ phụ thuộc vào
kiến thức năng lực sư phạm của mỗi giáo viên... mà còn phụ thuộc vào một yếu
tố rất quan trọng đó là sự quản lý, chỉ đạo của ban giám hiệu nhà trường.
Chính vì vậy, trong mỗi nhà trường công tác quản lí, chỉ đạo đặc biệt là
quản lí chuyên môn của người Hiệu trưởng phải được quan tâm một cách
thường xuyên, đúng mức để chất lượng dạy học của thầy và trò trong nhà trường
đạt kết quả cao.

3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận :
Bằng những giải pháp cụ thể nêu trên, tôi đã chỉ đạo cho các đồng chí giáo
viên khối 3 trường Tiểu học Minh Khai 2 áp dụng để nâng cao chất lượng các
tiết dạy “ Luyện tập” môn Toán lớp 3. Với cách làm này tôi thấy hiệu quả dạy học các tiết dạy “ Luyện tập” môn Toán lớp 3 đã tiến bộ vượt bậc so với cách
thức dạy học trước kia, chất lượng đại trà và đặc biệt là chất lượng mũi nhọn
từng bước được nâng lên.
Giáo viên chủ động, tự tin hơn trong quá trình dạy học. Năng lực chuyên
môn nghiệp vụ được nâng lên rõ rệt. Đa số giáo viên nắm vững hệ thống kiến
thức ở khối lớp. Nhiều giáo viên đã chủ động sáng tạo trong quá trình dạy học,
có thể tự ra các đề toán phù hợp với nội dung bài học theo 4 mức độ của TT22

17


quy định, phù hợp với đối tượng học sinh; không còn quá lệ thuộc vào các tài

liệu tham khảo.
Vì vậy có hiểu đúng, xác định đúng trọng tâm kiến thức của từng loại bài
thì chúng ta mới truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách linh hoạt nhất, chắc
chắn nhất; giúp cho việc dạy Toán ở trên lớp ngày càng linh hoạt, không phải
phụ thuộc gò bó vào sách giáo khoa, sách giáo viên và sách bài tập. Nhờ thế mà
việc dạy học của giáo viên ngày càng sát với đối tượng học sinh, sát với thực tế
địa phương, sát với yêu cầu của chương trình bậc học.
Đối với học sinh: Đa số các em ham thích học môn này, các tiết học không
còn khô khan như trước, các em học tập tích cực, sáng tạo, hợp tác đều có khả
năng liên hệ giữa toán học với thực tế; khả năng tư duy của các em cũng dần
phát triển. Chất lượng học tập của các em cũng có nhiều chuyển biến đáng kể.
3.2. Kiến nghị :
Với kết quả đạt được như trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị sau:
a. Đối với PGD&ĐT Thành phố; Sở GD&ĐT Thanh Hóa:
Cần phải tăng cường tổ chức chuyên đề , hội thảo để nâng cao trình độ
năng lực cho đội ngũ cán bộ giáo viên. Tổ chức hội thảo khoa học phổ biến
những kinh nghiệm hay trong công tác quản lý, công tác giảng dạy. Vận dụng
triển khai nhiệm vụ cho các nhà trường cần kịp thời tránh chồng chéo, trùng lặp
làm ảnh hưởng đến thời gian hoạt động của các nhà trường.
b. Đối với chính quyền địa phương, các ban ngành có liên quan:
Tạo điều kiện đầy đủ về cơ sở vật chất để tổ chức các hoạt động trong nhà
trường có hiệu quả.
c. Đối với ban giám hiệu nhà trường:
Phải thường xuyên quan tâm hơn nữa đến mọi hoạt động trong nhà trường
đặc biệt là công tác chuyên môn. Luôn luôn quan tâm đến trình độ, năng lực của
đội ngũ giáo viên, phải hướng dẫn cho họ từ những việc làm cụ thể, tổ chức
đánh giá đúng chất lượng dạy- học để có những giải pháp thiết thực đối với đơn
vị của mình.
d. Đối với đội ngũ giáo viên trực tiếp đứng lớp:
18



Tăng cường nghiên cứu tài liệu, nội dung chương trình của bậc học; Không
ngừng học hỏi để nâng cao nghiệp vụ sư phạm. Chủ động, sáng tạo trong việc
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. Quan tâm đến nhiều đối tượng học
sinh, nghiêm túc công bằng trong công tác đánh giá học sinh lớp mình phụ trách.
Trên đây là một số biện pháp chỉ đạo mà tôi đã trực tiếp thực hiện trong
năm học vừa qua tại trường tiểu học Minh Khai 2 - TP Thanh Hóa. Những biện
pháp chỉ đạo đó đã mang lại những hiệu quả bước đầu công tác nâng cao chất
lượng các tiết dạy “Luyện tập” môn Toán cho giáo viên khối lớp 3. Tuy nhiên
nội dung SKKN chưa thể đề cập được hết các biện pháp chỉ đạo sáng tạo và hiệu
quả vì vậy thông qua SKKN này tôi rất mong có được sự đóng góp ý kiến của
đồng nghiệp, lãnh đạo chuyên môn các cấp trong ngành để kinh nghiệm của tôi
được hoàn thiện hơn và được áp dụng rộng rãi trong thực tế giảng dạy nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường.
XÁC NHẬN

Thanh Hóa, ngày 5 tháng 4 năm 2017

CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện

Nguyễn Thị Hương

19



20



×