Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh khi học phần lịch sử việt nam chương trình 10 ở trường THPT mường lát

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.25 MB, 15 trang )

MỤC LỤC
1. MỞ ĐẦU………………………………………………………………...........1
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………...........1
1.2. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………...........1
1.3. Mục đích nghiên cứu………………………………………………............2
1.4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………….............2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN……………………………………………...........2
2.1 Cơ sở lý luận…………………………………………………………...........2
2.2. Thực trạng vấn đề…………………………………………………............2
2.3. Các biện pháp tạo hứng thú học tập………………………………...........3
2.3.1. Giáo án ngắn gọn, phù hợp đối tượng học sinh………………..............3
2.3.2. Khuyến khích, động viên học sinh kịp thời…………………….............3
2.3.3. Xem phim tư liệu, tranh ảnh minh họa…………………………...........4
2.3.4. Kể chuyện nhân vật, sự kiện lịch sử……………………………............5
2.3.5. Vận dụng kiến thức liên môn……………………………………...........7
2.3.6. Liên hệ thực tế…………………………………………………………........8
2.3.7. Củng cố bài học bằng trò chơi nhận diện lịch sử………………………9
2.4. Hiệu quả của sáng kiến........................................................................13
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................13
TÀI
LIỆU
THAM
KHẢO.................................................................................14


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
Là câu nói nổi tiếng của Bác Hồ khi bàn về tầm quan trọng của việc hiểu
biết lịch sử dân tộc đối với mỗi con người Việt Nam. Mỗi người phải trau dồi


cho mình kiến thức, hiểu biết về lịch sử để hoàn thiện bản thân. Để làm tốt được
điều đó thì bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông đóng vai trò rất lớn
trong việc cung cấp và hình thành kiến thức về lịch sử dân tộc của các em học
sinh trước khi đi ra cuộc sống. Tuy nhiên nhiều năm trở lại đây, một thực trạng
đáng báo động là hiểu biết của học sinh về lịch sử nói chung, lịch sử dân tộc nói
riêng rất hạn chế. Điều này được thể hiện trong kết quả các kì thi môn lịch sử rất
thấp, thậm chí có những bài làm của học sinh còn nhầm, xuyên tạc nội dung lịch
sử như ” Quang Trung-Nguyễn Huệ là hai người”, ”Phan Bội Châu, Phan Châu
Trinh là hai anh em” hay chỉ thị rất nổi tiếng của Đảng ngày 12/3/1945 ” Nhật –
Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã bị học sinh xuyên tạc thành ”
Nhật – Pháp bắn nhau Việt Nam vớ bở”... Vậy nguyên nhân của thực trạng đáng
báo động trên là do đâu. Một trong những nguyên nhân đưa đến tình trạng đó là
học sinh không muốn, không thích học lịch sử. Việc không thích học có thể xuất
phát từ ý muốn chủ quan nhưng cũng không thể không kể đến yếu tố khách quan
đóng một vai trò rất quan trọng. Đó là việc kiến thức lịch sử thường khá nặng,
đa phần giáo viên chủ yếu dùng lại ở việc cung cấp tối đa kiến thức dẫn đến quá
tải, không phát huy được sự chủ động của các em khiến các em chán nản không
muốn học
Trường THPT Mường Lát với đa số học sinh là con em dân tộc thiểu số
trình độ còn nhiều hạn chế . Tuyển sinh đầu vào lớp 10 của trường rất thấp, có
thể nói là thấp nhất tỉnh. Với trình độ đó thì nhiệm vụ dạy học của nhà trường
khó khăn hơn rất nhiều so với miền xuôi. Vậy bằng cách nào để học sinh tiếp
nhận kiến thức một cách có hiệu quả, yêu thích và hứng thú với môn học của
mình. Đó là trăn trở của tất cả các giáo viên trong đó có cá nhân tôi – giáo viên
giảng dạy bộ môn lịch sử.
Trong chương trình lịch sử lớp 10 THPT, giai đoạn lịch sử Việt Nam từ
nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản
về một giai đoạn dài của lịch sử dân tộc. Phần này đóng góp một phần trong việc
hình thành kiến thức, hiểu biết của các em về lịch sử dân tộc.
Xuất phát từ đăc trưng môn học, thực tiễn học sinh khối 10 trường THPT

Mường Lát tôi mạnh dạn áp dụng ” Một số biện pháp tạo hứng thú cho học
sinh khi học phần lịch sử Việt Nam chương trình 10 ở trường THPT
Mường Lát” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm
1.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình thực hiện các biện pháp sư
phạm tạo hứng thú khi học phần Lịch sử Việt Nam trong chương trình Lịch sử
10 ở trường THPT Mường Lát
2


1.3. Mục đích nghiên cứu
Sáng kiến đề xuất một số biện pháp sư pham khi dạy phần lịch sử Việt
Nam lớp 10 THPT - chương trình chuẩn, nhằm tạo hứng thú học tập của học
sinh
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu
có liên quan
- Phương pháp tiếp cận thực tiễn: điều tra về thực tiễn dạy học lịch sử ở
trường THPT Mường Lát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm một số bài
trong giai đoạn lịch sử Việt Nam lớp 10 theo một số biện pháp đã đề pxuất
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1 Cơ sở lý luận
Hứng thú là gì?
Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người.Có nhiều
khài niệm về hứng thú khác nhau
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với hiện tượng nào đó, vừa
có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân
trong quá trình hoạt động. Khái niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú
vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân (Nguyễn Quang Uẩn).

Hay hiểu một cách khái quát: Hứng thú là thái độ con người đối với sự
vật, hiện tượng nào đó. Hứng thú là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức
của cá nhân với hiện thực khách quan, biểu hiện sự ham thích của con người về
sự vật, hiện tượng nào đó ( Trường cán bộ quản lý NN và PTNNII). Hứng thú
của cá nhân được hình thành trong quá trình nhận thức và thực tiễn. Hứng thú
tạo nên ở cá nhân những khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng. Người có
hứng thú với công việc hoàn toàn khác với người làm việc tùy hứng, thiếu hứng
thú với công việc.
Hứng thú trong học tập
Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì
người ta không làm được dưới định hướng của hứng thú. M.Gorki từng nói:
“Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. Cùng với tự giác, hứng thú làm
nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng
khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo. Vì vậy trong quá trình dạy học là sự
truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học, tránh truyền thụ
một chiều sẽ gây sự ỉ lại, chán nản
2.2. Thực trạng vấn đề
Mường Lát một trong những huyện nghèo nhất của cả nước, học sinh
trường THPT Mường Lát hầu hết là con em các dân tộc thiểu số như Dao, Thái,
Mông, Khơ mú,...với trình độ dân trí còn thấp, mặt bằng chung về nhận thức của
học sinh chưa cao, còn rất nhiều tồn tại như:
- Nhiều em mất gốc kiến thức lớp dưới, tình trạng đọc chưa thông viết chưa thạo
đang còn khá phổ biến
3


- Các em tiếp thu kiến thức đang còn thụ động, thiếu sự nhiệt tình, tích cực, đặc
biệt là tính ỷ lại của các em rất cao
- Chưa mạnh dạn bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân trong học tập.
- Ngoài ra, việc học hành của các em chưa được các bậc phụ huynh quan tâm

đúng mực, dẫn đến việc lơ là của học sinh trong việc học.
- Về phía giáo viên, vẫn còn đang dạy chủ yếu theo lối mòn truyền thống, chưa
tổ chức được nhiều trò chơi phục vụ cho học tập
Trong những năm qua cơ sở vật chất hạ tầng đã được nâng lên rõ rệt nhưng chất
lượng đào tạo vẫn còn thấp. Làm sao để nâng cao chất lượng giáo dục là một
vấn đề nan giải cho cả nhà trường và cho từng bộ môn
2.3. Các biện pháp tạo hứng thú học tập
2.3.1. Giáo án ngắn gọn, phù hợp đối tượng học sinh.
Tâm lí chung của mỗi giáo viên, đặc biệt giáo viên trẻ như tôi khi lên
lớp rơi vào tình trạng nói nhiều, viết nhiều tất cả kiến thức liên quan đến bài học
hôm đó mà chưa để ý xem học sinh có tiếp nhận được hay không làm các em
ngại học. Trải qua quá trình dạy học tại trường THPT Mường Lát, tìm hiểu tâm
lí học sinh thì các em đều ngại học với môn nhiều kiến thức trong đó có môn
lịch sử. Khi được hỏi tại có phải em không yêu thích lịch sử đặc biệt lịch sử Việt
Nam? Thì học sinh trả lời “ không phải em không thích mà vì học lịch sử phải
ghi nhiều quá cô ơi, nhiều bạn viết chưa thạo chỉ chép cũng không kịp cô ạ nên
các bạn ngại học”. Câu trả lời của học sinh khiến bản thân tôi phải suy nghĩ lại
về cách thiết kế giáo án trước khi lên lớp của mình
Soạn giáo án là một khâu cực kì quan trọng trước khi lên lớp. Để soạn
được một giáo án yêu cầu giáo viên phải nghiên cứu nội dung bài học, thực tế
năng lực học sinh để đưa ra giáo án hợp lí nhất đảm bảo cung cấp kiến thức tối
thiểu cần đạt, phù hợp trình độ học sinh tránh nhồi nhét kiến thức dẫn đến quá
tải. Với kinh nghiệm bản thân, nắm bắt tâm lí, năng lực hạn chế của học sinh lớp
10 trường THPT Mường Lát để các em thích thú với môn học trước tiên phải tạo
tâm lí thoải mái khi bước vào môn học với cảm giác của môn học ít kiến thức,
đễ nhớ.
Cùng với việc soạn giáo án thông thường, giáo viên nên thường xuyên
sử dụng giáo án điện tử vì nó là phương tiện giúp bài giảng sinh động hơn, học
sinh hướng thú và dễ dàng tiếp thu bài. Khi dạy, giáo viên cần kết hợp hài hòa
giữa màn hình với lời giảng và giữa màn hình với ghi bảng sao cho linh hoạt,

uyển chuyển.
2.3.2. Khuyến khích, động viên học sinh kịp thời
Chúng ta thường hay nhắc nhở, phê bình mỗi khi học sinh làm sai, vi
phạm nhưng dường như quên đi sự động viên khích lệ kịp thời đối với những
học sinh có tiến bộ trong học tập, rèn luyện. để các em thấy sự cố gắng của mình
được thầy cô và bạn bè ghi nhận. Đặc biệt với học sinh dân tộc lòng tự ái của em
rất cao. Trong một giờ ra chơi tôi có ngồi lại tại lớp 10B hỏi về tình hình học
tập, một học sinh cho ý kiến “ Mỗi môn có điểm riêng biệt về kiên thức đặc biệt
là cách lên lớp của thầy cô cũng tác động đến chúng em. Đa số thầy cô lên lúc
nào cúng chê chúng em học kém rồi quát chúng em làm chúng em thấy sợ”. Và
tôi hỏi với môn lịch sử thì sao, học sinh đó vui vẻ nói “ Em không học giỏi lịch
4


sử nhưng khi vào môn lịch sử em thấy thích và vui vì mỗi khi cô gọi bọn em lên
trả lời đều có câu “cô mời em” và sau câu trả lời của em dù sai hay đúng cô đều
“cảm ơn câu trả lời của em”. Từ câu chuyện đó tôi nhận ra một điều, đôi khi
những hành động, lời nói rất bình thường của giáo viên trong mỗi giờ lên lớp
cũng tác động không nhỏ đến tâm lí học sinh trong môn học.
Một thực tế của học sinh trường THPT Mường Lát nói chung và khối 10
nói riêng là các em rất ít khi học bài cũ trước khi đến lớp. Nhiều học sinh gọi lên
bảng nhiều lần vẫn không chịu học bài chỉ đưa ra câu trả lời “em chưa học bài”.
Một vấn đè nan giải được đặt ra. Suy nghĩ nhiều tôi đã đưa ra biện pháp đối với
kiểm tra bài cũ khối 10 không yêu cầu các em phải học bài trước liền kề mà các
em có thể chọn học một bài bất kì trước đó mà các em thấy thích, sau đó tôi sẽ
có câu hỏi thêm để cho điểm cao hơn. Và đã có nhiều học sinh có tiến bộ chịu
học bài cũ hơn. Tại sao tôi lại đưa vấn đề học bài cũ vào để ví dụ cho biện pháp
này? Bởi vì sự động viên, khích lệ học sinh có ở ngay khâu kiểm tra bài cũ. Ví
dụ như với một học sinh rất nhiều lần không học bài cũ nhưng có hôm học sinh
đó học bài xung phong lên bảng hoặc giáo viên gọi sổ lên kiểm tra và thuộc bài

thì giáo viên cần đưa ra lời khen như “ em có cố gắng, lần sau phát huy”, “hoan
nghênh tinh thần học bài của em”… sẽ khiến học sinh đó vui vẻ khi sự cố gắng
được ghi nhận và các em học sinh khác có ý thức hơn. Hoặc trong tiết dạy,
những học sinh nào hăng say phát biểu ý kiến xây dựng bài giáo viên nên cho
điểm để động viên học sinh đó và khích lệ học sinh khác cố gắng
Trong khối 10 trường THPT Mường Lát năm học 2016-2017 thì lớp
10K là đối tượng yếu kém nhất khi tuyển sinh đầu vào của các em là lớp “vớt”
không bị điểm liệt là đậu thì việc dạy là vô cùng khó khăn. Ban giám hiệu nhà
trường đã chỉ đạo với lớp 10K giáo viên lên lớp phải khéo léo dạy đi đôi với
“dỗ” để các em không chán nản, tiếp tục khơi dậy niềm ham học của các em.
Tiếp nhận giảng dạy ở lớp quá kém là điều vô cùng khó khăn với tôi và các giáo
viên khác. Với môn lich sử, tôi chỉ cung cấp kiến thức ít nhất và cũng không
nhất thiết phải hết của tiết đó. Kiểm tra bài cũ bằng việc chỉ định trước mỗi tiết
để các em về nhà chủ động học. Và kết quả 90% học sinh của lớp 10K đều học
bài cũ khi được cô giáo giao. Với tôi đây đã là một thành công ở lớp này khi các
em có ý thức và trách nhiệm với những gì cô giao về. Có khi có em nói tiếng
kinh chưa thạo chỉ học được một nội dung trong bài tôi cũng cho điểm cao, dành
những lời khen về sự cố gắng. Và học sinh trong lớp phản hồi “ lần đầu tiên thấy
bạn ấy học bài cũ”. Đây là một dẫn chứng cho việc chúng ta nên nắm bắt tâm lí
học sinh để đưa ra lời động viên khích lệ kịp thời. Bởi vì tâm lí chung không chỉ
học sinh mà ngay cả chúng ta đều muốn được khen khi mình có cố gắng và nỗ
lực.
Vì vậy, trong mỗi giờ dạy bên cạnh sự phê bình nhắc nhở học sinh chưa
tốt thì đó là những lời khen, câu nói động viên dành cho những học sinh có cố
gắng. Đây là một yếu tố để các em có hứng thú, tâm lí thoải mái với môn học
2.3.3. Xem phim tư liệu, tranh ảnh minh họa
Lịch sử là những gì đã qua và không lặp lại như các thí nghiệm vật lí,
hóa học, sinh học…Làm cách nào để cho lịch sử gần hơn với thực tiễn, trực
quan sinh động. Tranh ảnh, phim là đồ dùng trực quan trong dạy học các môn và
5



nó rất quan trọng không thể thiếu. Lịch sử tuy không lặp lại nhưng chúng ta có
thể tái hiện kiên thức lịch sử qua việc sử dụng tranh ảnh minh họa đặc biệt là
thông qua những thước phim tư liệu hoặc dàn dựng. Lâu nay chúng ta vẫn nói
học sinh bây giờ biết về các nhân vật, lịch sử của Trung Quốc hơn Việt Nam.
Không khó để chúng ta nhận ra lí do tại sao lại như vậy. Hiện nay có rất nhiều
bộ phim truyền hình cổ trang tái hiện lại nội dung cơ bản các thời kì lịch sử cùng
các nhân vật lịch sử Trung Quốc được trình chiếu trên nhiều khung giờ khác
nhau. Hay những tác phẩm văn học kinh điển của Trung Quốc được chuyển thể
thành phim như Tam quốc diễn nghĩa, Tây du kí, Thủy hử đã đi vào tiềm thức
của mỗi người là điều không thể bàn cãi. Biết rằng phim là có hư cấu nhưng nội
dung và cốt lõi của phim thì không thể thay đổi vì thế mà học sinh biết nhiều về
lịch sử Trung Quốc trên một phương diện nào đấy. Vậy tại sao trong giảng dạy
chúng ta không mạnh dạn sử dụng những thước phim tư liệu, phim truyền hình,
phim hoạt hình lịch sử để minh họa cho bài dạy trở nên sinh động cuốn hút. Bài
học nào có phim tư liệu chúng ta cần áp dụng để góp phần tái hiện, phác họa lịch
sử qua lăng kính của phim ảnh trên cơ sở sự hướng dân của giáo viên. Tôi đã áp
dụng biện pháp này và nhận được phản hồi tích cực từ học sinh. Ví dụ khi dạy
bài 16: Thời kì Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ
I-X.. Giáo viên tham khảo trên mạng và có thể sử dụng đoạn phim 3D hoạt hình
Đại chiến Bạch Đằng[6] hoặc Vạn Xuân chiến quốc [6] ở tất cả các lớp để các
em xem. Thông qua đoạn phim đó các em sẽ nhận thấy rõ được nguyên nhân
Nam Hán tấn công nước ta, tương quan so sánh lực lượng ra sao? Chiến thuật
của ta dưới sợ chỉ huy của Ngô Quyền như thế nào? Kết quả của trận đánh.
Đoạn phim hoạt hình ngắn gọn nhưng trực quan, dễ hiểu qua hình ảnh và thuyết
minh khiến các em có cảm giác thoải mái vừa học vừa giải trí. Trên cơ sở sau
khi trình chiếu đoạn phim giáo viên đặt câu hỏi liên quan đến nội dung cho học
sinh trả lời và khái quát.
Nguồn tư liệu phim ảnh lấy ở đâu? Hiện nay, đài truyền hình Việt Nam trên vtv1

vào khung 22h có chiếu các bộ phim hoạt hình về lịch sử Việt Nam, giáo viên
chúng ta có thể lấy đó là nguồn tư liệu bổ ích cung cấp cho quá trình dạy học
2.3.4. Kể chuyện nhân vật, sự kiện lịch sử
Dạy-học lịch sử không chỉ là quá trình truyền đạt-tiếp nhận kiến thức
trong sách giáo khoa giữa giáo viên và học sinh mà mục tiêu còn cần đạt về tư
tưởng, kĩ năng. Từ bài học đó em có thái độ như thế nào đối với nhân vật, sự
kiện lịch sử, rút ra bài học cho bản thân, kĩ năng trong cuộc sống. Lịch sử Việt
Nam là những trang sử vẻ vang đầy vàng son về những thời kì đã qua, những
nhân vật anh hùng trong lịch sử. Mỗi nhân vật anh hùng là tấm gương sáng để
thế hệ đi sau noi theo, mỗi giai đoạn với chính sách quản lí đất nước là bài học
cho việc vận dụng vào thực tiễn đất nước ngày nay. Nếu trong quá trình dạy học
lịch sử chỉ dừng lại tái hiện cuộc đấu tranh, kháng chiến, khởi nghĩa này do nhân
vật này hay nhân vật kia lãnh đạo, thắng lợi hoặc thất bại là chưa đủ. Như vậy sẽ
không tạo được ấn tượng sâu sắc trong học sinh về nhân vật và cuộc đấu tranh
đó
Để đạt được hiệu quả trong mỗi tiết dạy khi đề cập đến nhân vật, sự kiện
lịch sử tiêu biểu giáo viên thường kết hợp cho học sinh quan sát hình ảnh và kể
6


một vài câu chuyện về nhân vật, sự kiện. Đó có thể là những câu chuyện các em
đã được học, đọc hoặc bây giờ các em mới biết đến. Giáo viên lựa chọn những
câu chuyện ngắn gọn, phù hợp với nội dung bài học. Có thể khi nghe xong câu
chuyện, các em không nhớ chi tiết câu chuyện, chính xác niên đại cụ thể nhưng
ít ra các em có thể nhớ và hình dung đó là một nhân vật như thế nào (tài năng,
dũng cảm, thông minh, yêu nước…), hay đó là một cuộc đấu tranh đầy hi sinh
nhưng rất đỗi tự hào của dân tộc. Và đặc biệt sẽ cho các em thấy tiết học không
nhàm chán và gò bó, được thay đổi không khí tiết học
Ví dụ khi dạy bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế
kỉ X-XV. Mục II. Kháng chiến chống Mông-Nguyên ở thế kỉ XIII. Đây là một

trong những trang lich sử chói lọi của dân tộc khi chúng ta có thể đánh thắng
một dạo quân hùng mạnh trên thế giới thời bấy giờ. Yếu tố nào đã tạo nên chiến
thắng vẻ vang đó? Không thể không kể đến nguyên nhân về sự lãnh đạo tài tình
của các vị vua vị tướng, sự đồng lòng nhất trí của nhân dân cả nước. Để minh
chứng cho nguyên nhân này giáo viên không thể không kể câu chuyện về hội
nghị Diên Hồng khi các bô lão cùng đồng thanh hô vang “ ĐÁNH”, hay hội
nghị Bến Bình Thanh với câu chuyện Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổi
không được tham dự hội nghị bàn việc nước đã tức giận bóp nát quả cam vua
ban trong tay lúc nào không hay, câu chuyện về nhân vật Yết Kiêu. Qua những
chuyện này GV khẳng định cho học sinh thấy được sự đồng lòng nhất trí cao độ
của quân dân, tinh thần yêu nước nồng nàn của người dân Việt Nam ngay cả khi
còn nhỏ tuổi trước khi tổ quốc bị xâm lăng.
Và đặc biệt sẽ là thiếu sót nếu giáo viên không tạo biểu tượng về Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn với tài năng, trí tuệ, tấm lòng trung nghĩa, tầm nhìn xa
trông rộng… Để tạo biểu tượng nhân vật này giáo viên sơ lược về tiểu sử và có
thể kể câu chuyện về ông như sau: Năm 1285, quân Mồng nguyên ồ ạt tấn công
nước ta lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn ra lệnh rút quân để bảo toàn lực lượng và
cho nhân dân dùng chiến thuật “vườn không nhà trống”. Giặc vào Thăng Long
rồi tiến sâu xuống Thiên Trường nơi đóng bộ chỉ huy của ta. Vua Trần THánh
Tông lo ngại, ướm hỏi oongxem có nên hàng không. Ông khẳng khái trả lời:
“Bệ hạ chém đầu tôi đi rồi hãy ra hàng!”. Năm 1288, giặc một lần nữa kéo
sang xâm lược nước ta. Vua Trần lại hỏi ông: “Năm nay giặc thế nào?”. Ông
đáp: “Năm nay giặc đến dễ đánh”. Bấy giờ đoàn thuyền lương của giặc bị tiêu
diệt ở Vân Đồn (Quảng Ninh). Bộ binh của chúng chờ mãi không được, quyết
định rút lui. Nắm ý đồ đó ông bố trí lực lượng, tiêu diệt toàn bộ đạo binh thuyền
của giặc, làm nên trận Bạch Đằng lịch sử. Đất nước trở lại yên bình. Trần Quốc
Tuấn không chỉ là một nhà quân sự thiên tài mà còn là một người có đạo đức
trong sáng. Sử chép rằng: cha ông khi sắp mất, cầm tay ông mà trối rằng: “Con
không vì cha mà lấy lại thiên hạ thì cha chết cũng không nhắm được mắt”. Ông
rất thương cha nhưng không cho là phải. Có lần ông đem chuyện này nói với

các con ông. Hưng Vũ vương Quốc Nghiễm thưa: “Việc ấy đối với người khác
họ cũng không nên làm, huống chi là người trong cùng một họ”. Quốc Tuấn lấy
làm phải. Nhưng Hưng Nhượng vương Quốc Tảng lại nói rằng: “Tống Thái Tổ
là một người làm ruộng, chỉ nhờ gặp thời vận mà lấy được thiên hạ”. Quốc
Tuấn liền tuốt gươm ra nói: “Bọn bề tôi phản loạn đều chính do những đứa con
7


bất hiếu mà ra”. Nói rồi có ý giết đi. Quốc Nghiễm vội chạy ra xin, nhận tội
thay, mãi sau mới được tha. Khi ông sắp mất, bảo Quốc Nghiễm rằng: “Khi ta
mất, đậy nắp quan tài đâu đó xong xuôi rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng
khóc”.
Năm 1300, ông ốm nặng, vua Trần Anh Tông đén thăm, nhân tiện hỏi: “Chẳng
may Quốc công mất, giặc phương Bắc đến xâm lược thì làm thế nào?”. Ông
dặn rằng: “Mới rồi, Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây, nhưng vì vua tôi đồng
lòng, cả nước góp sức nên giặc chịu bị bắt. Vả lại khoan thư sức dân để làm kế
sâu bền gốc rễ, đó là thượng sách để giữ nước”[152, 2]
Thông qua câu chuyện trên giúp học sinh hình dung về một nhân vật vừa có tài
vừa có đức, một con người luôn vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Để có được những câu chuyện bổ ích, lí thú giáo viên có thể tham khảo trong
cuốn sách Những mẫu chuyện lịch sử của NXB Đại học sư phạm làm nguồn tư
liệu bổ ích trong quá trình giảng dạy.
2.3.5. Vận dụng kiến thức liên môn
Dạy học liên môn hiểu một cách đơn giản nhất là quá trình kết hợp kiến
thức của các môn học có liên quan để bổ sung kiến thức cho nhau. Liên môn
trong dạy học sẽ tạo ra mối liên kết, liền mạch giữa các môn học. Trong dạy học
lịch sử thường liên môn với kiến thức văn học, địa lí, giáo dục công dân, âm
nhạc, hội họa. Khi dạy về một cuộc khởi nghĩa ứng với nó là một địa điểm và
Gv sẽ giới thiệu về vị trí của địa điểm đó bằng kiến thức môn địa lí. Đặc biệt
trong kho tàng văn học Việt Nam có rất nhiều tư liệu đề cập đến các giai đoạn

lich sử bằng thơ, văn, ca dao tục ngữ. Ví dụ khi dạy về hào khí chiến đấu của
quân và dân thời Trần ba lần chống quân Mông-Nguyên không thể không liên hệ
tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn; cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với áng
thiên cổ hùng văn Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi; nghệ thuật điêu khăc tinh
xảo thế kỉ XVI-XVIII gắn liền với Các vị La Hán chùa Tây Phương của Huy
Cận… Và gần gũi hơn đó là những câu ca dao tục ngữ ngắn gọn, dễ nhớ, dễ đi
vào tiềm thức của các em
Ví dụ Bài 21: Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế
kỷ XVI –XVIII. Mục 2. Thời kì đất nước bị chia cắt
Sau thời kỳ Lê - Mạc đất nước lại tiếp tục rơi vào tình trạng Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước bị chia làm hai Đàng lấy Sông Gianh (Quảng
Bình) làm ranh giới phân chia. Thực trạng đau lòng đó đã đực thể hiện trong câu
ca:
“Sông Gianh nước chảy đôi dòng
Đèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?”
Và chúa Nguyễn đã cho xây dựng Luỹ Thầy để làm căn cứ quân sự tấn công Lê
- Trịnh nhưng không có kết quả, dân gian có câu ca:
“Ô Luỹ Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu
Có tài thì vượt sông Gianh
Dẫu mọc thêm cánh Trường thành khó qua.”

8


2.3.6. Liên hệ thực tế
Chủ trương giáo dục học đi đôi với hành. Khác với những môn học khác,
thực hành với lịch sử không phải là tái hiện lại, diễn lại nội dung lịch sử đó mà là tìm
hiểu và biết về quá khứ từ quá khứ chúng ta rút ra quy luật, bài học cho hôm
nay. Từ việc tìm hiểu nhân vật lich sử bất kì, học sinh tự soi bản thân mình vào
nhân vật đó để rèn luyện bản thân. Từ cuộc đấu tranh gian khổ của dân tộc, học

sinh có thái độ biết ơn với thế hệ đi trước, tự hào về lịch sử và từ đó xác định
trách nhiệm của bản thân đối với đất nước. Sau mỗi nội dung lịch sử dân tộc,
giáo viên yêu cầu học sinh rút ra nhận xét và trách nhiệm của mình, gắn bài học
với thực tiễn
Ví dụ khi dạy bài 15. Thời kì Bắc thuộc và các cuộc đấu tranh giành độc
lập từ thế kỉ X-XV. Mục II.2. Những chuyển biến về văn hóa xã hội
Sau khi theo dõi sách giáo khoa dưới sự hướng dẫn của giáo viên, chốt lại kiến
thức về mặt văn hóa dưới thời Bắc thuộc là: Chúng ta không bị đồng hóa về mặt
văn hóa; tiếp tục duy trì và bảo vệ được những yếu tố văn hóa truyền thống; tiếp
nhận và Việt hóa những yếu tố văn hóa tích cưc…
Từ cở sở kiến thức của bài học giáo viên đặt vấn đề: Hiện nay dân tộc các em có
nét đặc trung gì nổi bật về văn hóa? Trong nội quy nhà trường quy định như thế
nào trong việc duy trì nét văn hóa đó? Ý thức thực hiện của các em ra sao?
Từ những câu hỏi gắn kiền với thực tiễn dân tộc, nhà trường, vùng miền đó, học
sinh sẽ ý thức được vai trò của mình trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, thực
hiện thành công câu nói của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng “ Chúng ta hòa
nhập không hòa tan”. Để từ đó các em nhận thức được lịch sử là cái đã qua
nhưng kết quả của lịch sử là ngày hôm nay và bản thân mỗi chúng ta có trách
nhiệm giữ gìn, bảo vệ.
Và trong từng nội dung lích sử và bài học khác nhau chúng ta có sự liên hệ hợp
lí để tạo ra mối dây liên hệ giữa quá khứ và hiện tại.
2.3.7. Củng cố bài học bằng trò chơi nhận diện lịch sử
Củng cố bài học là khâu không thể thiếu trong quá trình tổ chức dạy học.
Trong mỗi tiết dạy, mỗi giáo viên lựa chọn cho mình cách củng cố khác nhau
phù hợp với từng lớp. Vào cuối giờ học, HS thường bị phân tán, mệt mỏi,
thiếu sự tập trung. Trong hoàn cảnh như vậy, GV tổ chức trò chơi lịch sử sẽ
thu hút sự chú ý, tăng hứng thú học tập của HS. Khi ấy, giờ học bớt căng
thẳng, nặng nề và trở nên nhẹ nhàng, sinh động, tạo cảm giác mới lạ, thoải
mái, dễ chịu cho người học. Với dạy học lịch sử, GV có thể vận dụng nhiều
trò chơi lịch sử khác nhau: trò chơi gắn liền với các “game show” trên truyền

hình, trò chơi giải ô chữ, trò chơi tìm hiểu về sự kiện, nhân vật, hùng biện...,
trong đó có trò chơi nhận diện lịch sử tôi thấy phù hợp với đối tượng lớp 10
tại trường. Với cách tổ chức củng cố như vậy, GV làm tiết học trở nên sinh
động, hấp dẫn hơn, tăng cường hứng thú và khả năng ghi nhớ kiến thức của HS.
Để góp phần kích thích học sinh, giáo viên kết hợp cho điểm với những em có
nhiều câu trả lời đúng.
Ví dụ khi dạy Bài 27. Quá trình dựng nước và giữ nước. GV ôn tập cho
HS bằng trò chơi nhận diện lịch sử. Cách tổ chức như sau:
9


- GV đưa ra hình ảnh yêu cầu học sinh xác định sự kiện, nhân vật lịch
sử
+ Bức hình số 1: Đây là hình ảnh gắn liền với nền văn hóa nào ở Việt
Nam?

+ Bức hình số 2 : Đây là tục lệ gì của nước ta?

10


+ Bức hình số 3: Nội dung của bức hình này phản ánh điều gì

+ Bức hình số 4: Đây là hai nhân vật nào? Gắn liền với sự kiện lịch sử
gì?

11


+ Ô số 5: Sự kiện này diễn ra ở đâu? Khi nào? Gắn liền với tên tuổi của

ai? Ý nghĩa của sự kiện?

+ Bức hình số 6: Hình ảnh gợi nhớ đến thời kì lịch sử nào?

12


+ Bức tranh số 7: Đây là ba nhân vật lich sử nào? Gắn liền với phong
trào nào? Ý nghĩa của phong trào đó?

+ Bức hình số 8: Bức hình gợi nhớ đến dòng văn học gì ở Việt Nam?
Phát triển nở rộ dưới triều đại nào??

- HS dựa vào kiến thức đã học cùng với những gợi ý về các bức hình để trả
lời.
- Đáp án:
+ Số 1: Nền văn hóa Đông Sơn
+ Số 2: Tục lệ ăn trầu, nhuộm răng đen
+ Số 3: Thầy đồ dạy chữ Nho gắn liền với nền giáo dục Nho học
+ Số 4: Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
+ Số 5: Sông Bạch Đằng. Năm 938 gắn liền với tên tuổi của Ngô Quyền.
Kết thúc 1000 năm Băc thuộc mở ra thời đại độc lập tự chủ lâu dài
+ Số 6: Đất nước bị chỉa cắt thành Đàng Trong-Đàng Ngoài lấy sông
Gianh làm ranh giới phân chia
+ Số 7: Ba anh em Nguyến Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Phong Trào
Tây Sơn. Hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước cuối thế kỉ XVIII
+ Số 8: Dòng văn học chữ Nôm. Phát triển nở rộ dưới thời Nguyễn
13



Như vậy bằng cách sử dụng một vài bức tranh chúng ta có thể giúp
học sinh củng cố bài học theo một hướng mới, kích thích tư duy, sự hứng thú
của các em, tránh sự nhàm chán
2.4. Hiệu quả của sáng kiến
Đối với học sinh Trường THPT Mường Lát việc tạo hứng thú học tập là
cả vấn đề, do nhiều yếu tố nên bước đầu số học sinh hứng thú với môn học vẫn
còn hạn chế. Tôi mong rằng với đề tài này cộng với sự tâm huyết của thầy cô,
say mê học hỏi của học sinh thì hiệu quả sẽ tốt hơn
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Học sinh hứng thú với môn học của mình là điều mà bất kì giáo viên
nào cũng muốn. Trên đây là một số biện pháp tôi đưa ra và cố gắng thực hiện
trong bộ môn của mình với mong muốn khơi dậy niềm đam mê, ý thức học
tập, nghiên cứu lịch sử dân tộc để từ đó hoàn thiện bản thân học sinh. Trong
quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề tài này bản thân còn nhiều thiếu xót.
Kính mong sự góp ý của các đồng chí để đề tài hoàn thiện và áp dụng có hiệu
quả hơn
Kiến nghị
Thông qua đề tài tôi có một số kiến nghị như sau
- Thứ nhất, giáo viên phải thật tâm huyết trong quá trình giảng dạy, cố gắng
nắm bắt tâm lí học sinh, phải dạy theo phân hóa đối tượng học sinh
- Thứ hai, gv cần có sự chuẩn bị kĩ cả về giáo án và đồ dùng dạy học. Chuẩn
bị sẵn hệ thống câu hỏi gợi mở để học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức
- Thứ ba, tạo ra môi trường học tập công bằng, thân thiện. Khen thưởng, động
viên kịp thời, tránh chê bai gây căng thẳng, chán nản
- Thứ tư, trong quá trình áp dụng, giáo viên cần sử dụng hợp lí các phương
pháp. Từng phương pháp sẽ có ưu thế với từng bài. Tránh lạm dụng gây loãng
kiến thức
- Thứ năm, nhà trường bố trí tăng cường hệ thống phòng máy để thuận tiện
trong dạy học, tránh phải di chuyển lớp học gây ảnh hưởng đến thời gian, tổ

chức lớp học
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 10 tháng 05 năm 2017

Tôi xin cam đoan đây là SKKN do
chính tôi viết, không copy của người
khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.

Bùi Thị Nhung

14


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa lịch sử 10 Chương trình chuẩn. Nhà xuất bản giáo dục
2. Những mẫu chuyện lịch sử (tập 1), Nhà xuất bản Đại học sư phạm
3. Sách giáo viên lịch sử 10. Nhà xuất bản Giáo dục
4. Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng trong cuốn“Hướng
dẫn sử dụng kênh hình sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 trung học phổ thông”
(Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 2009)
5. Trang web: giasunhanvan.com, trang thanhnien.vn, trang edu.vn

6. Trang web: youtube.com

15




×