Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của công ty thương mại dịch vụ Thanh Xuân.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (412.75 KB, 33 trang )

MỞ ĐẦU
Vấn đề lớn nhất được đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình
hội nhập hiện nay không chỉ dừng lại ở sản xuất sản phẩm phù hợp nhu cầu mà
còn là hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh để làm sao khơng bị thua trên chính sân nhà và ngày càng tiến xa hơn vào thị
trường thế giới.
Chính vì thế, với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, phân tích hoạt động
kinh doanh trong doanh nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu được của các nhà
quản lý doanh nghiệp. Thơng qua phân tích, các nhà quản trị sẽ đánh giá đúng kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định được những nguyên nhân
tác động đến quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó có biện pháp thích
hợp khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, đồng thời cũng là căn cứ để
đưa ra các quyết định kinh doanh đúng đắn, và là biện pháp quan trọng trong việc
phòng ngừa các rủi ro kinh doanh.
Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển
thì doanh nghiệp đó phải tạo ra doanh thu và lợi nhuận bởi vì doanh thu và lợi
nhuận khơng chỉ phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh mà còn là cơ sở để tính ra
các chỉ tiêu chất lượng khác nhằm đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động. Như vậy, doanh thu và lợi
nhuận chính là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Thơng qua việc phân
tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giúp các nhà quản trị
doanh nghiệp đánh giá được mức độ hoàn thành kế hoạch và mức độ tăng trưởng
của doanh thu và lợi nhuận nhằm tìm ra những nhân tố tích cực, nhân tố tiêu cực
ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó đề ra các biện
pháp, chính sách để phát huy nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ nhân tố tiêu
cực, không ngừng nâng cao lợi nhuận và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc đánh giá, xem xét một cách khoa học tình hình doanh thu và lợi nhuận của
doanh nghiệp giúp cho nhà quản trị tránh được những nhận định sai lầm về hiệu


quả hoạt động của doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn


phát triển hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Qua thời gian học tập môn Phân tích hoạt động kinh doanh, được sự hướng
dẫn nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài:
“ Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của công ty thương mại dịch vụ
Thanh Xuân”
Mục tiêu nghiên cứu:
_ Đánh giá tình hình doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp đạt được qua hai
năm 2008, 2009.
_ Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình biến động của doanh thu
và lợi nhuận.
_ Xem xét các chỉ tiêu biểu hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
_ Đề ra một số giải pháp nhằm tăng doanh thu, lợi nhuận để nâng cao hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.


I –Giới thiệu công ty thương mại dịch vụ Thanh Xuân:
Tên DN: Cty thương mại dịch vụ Thanh Xuân
Địa chỉ: 595/ 7 Cách mạng tháng 8, phường 14, Quận 10, TP Hồ Chí Minh
Website: www.thanhxuanco.com
Điện thoại: 0918630665- 0838653130
Fax: 0838653130
Ngành nghề kinh doanh: sản xuất, kinh doanh đồ gỗ trong nhà và ngồi trời ( đồ
gỗ)
Cơng ty Thanh Xn khơng ngừng nỗ lực quản lý chất lượng ở từng khâu sản xuất
để đảm bảo các tiêu chuẩn. Từ khâu thiết kế, lựa chọn nguyên liệu, độ ẩm đến
thành phẩm, chất lượng là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Công ty được cấp giấy
chứng nhận FSC (Forest Stewardship Council) và quản lý Xí nghiệp theo hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000.
* Sản phẩm của công ty gồm:
- Bàn, ghế, giường, tủ, kệ, tượng, đèn, khung gương, art decor, được sản xuất

chủ yếu bằng gõ Tauarri, căm xe nhập từ Mianma; đặc biệt chú trọng tái sản xuất
trên chất liệu gỗ cũ.
- Chuyên sản xuất các sản phẩm bàn ghế, giường tắm nắng, kệ hàng dùng ngồi
trời .
-Sản phẩm thích hợp cho quán ăn, nhà hàng, khách sạn, resort, cà phê với mẫu mã
sang trọng, lịch sự ,với giá rẻ như chất lượng đảm bảo,các sản phẩm làm ra chúng
tôi đều sấy và sử lý gỗ theo tiêu chuẩn xuất khẩu nên các bạn yên tâm về chất
lượng và giá cả cạnh tranh .Công ty tôi lấy chất lượng sản phẩm lên hàng đầu,
chúng tôi mong đây là sự lựa chọn đúng đắn,vừa rẻ vừa tiết kiệm của bạn
- Nhận gia cơng các mặt hàng bàn ghế ngồi trời theo mẫu của bạn vận chuyển
hàng toàn quốc
-Nhận làm hàng và xuất khẩu đi các nước trên thế giới


* Các giải thưởng, chứng nhận chất lượng, danh hiệu đã đạt được:
1. Được Mạng Doanh Nghiệp Việt Nam xét chọn là doanh nghiệp Việt Namuy tín
– chất lượng 2006 – Lĩnh vực: đồ thủ cơng mỹ nghệ (trang trí nội thất, thủ công
mỹ nghệ, design).
2. Được Mạng Doanh Nghiệp Việt Nam chứng nhận là thành viên chính thức –
nhà cung cấp đáng tin cậy tại Việt Nam.
3. Là thương hiệu đã được công bố trên mạng thuonghieuviet.com.vn – Thương
hiệu sử dụng cho sản phẩm trang trí nội thất.
4. Thuộc Topten ngành hàng THƯƠNG HIỆU UY TÍN CHẤT LƯỢNG NĂM
2007 do Mạng Thương Hiệu Việt chứng nhận.
5. Đạt Cúp bạc chất lượng hội nhập, sản phẩm: bàn ghế.
* Một số hình ảnh về sản phẩm của cơng ty Thanh Xn:


II-Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận.
1- Ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận:

1.1 Ý nghĩa của phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận:
Ðối các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của một vịng
chu chuyển vốn; là q trình chuyển đổi tài sản từ hình thái hiện vật sang hình thái
tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp mới được hồn thành.
Tiêu thụ hàng hóa là q trình đưa sản phẩm, hàng hóa tới tay người tiêu
dùng và thu tiền về cho doanh nghiệp tức là doanh nghiệp thì nhận được giá trị của
sản phẩm, hàng hóa cịn người tiêu dùng thì nhận được giá trị sử dụng của sản
phẩm hàng hóa: “Tiêu thụ sản phẩm là q trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng
của sản phẩm hàng hóa”.
Thơng qua kết quả tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra, sản phẩm của doanh nghiệp
mới được xã hội và thị trường thừa nhận, khi đó doanh nghiệp mới thu hồi vốn và
tồn bộ chi phí có liên quan đã bỏ ra và thực hiện được giá trị thặng dư là lợi
nhuận.
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng nhất của tồn bộ kết quả hoạt động kinh
doanh, nguồn hình thành các quỹ và là nguồn bổ sung vốn và quyết định mọi sự
thành công hay thất bại của kinh doanh.
Do đó doanh nghiệp cần phải thường xun phân tích tình hình tiêu thụ, phân tích
và chỉ rõ những ưu và nhược điểm, những khó khăn và thuận lợi để có những giải
pháp khắc phục những tồn tại và góp phần hồn thiện cơng tác quản lý sản xuất và
tiêu thụ, khai thác tốt các nguồn tiềm năng trong doanh nghiệp.
1.2 Nhiệm vụ của phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận.
Đánh giá tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng và mặt hàng, dánh giá tính
kịp thời của tiêu thụ.
Tìm ra những nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
tình hình tiêu thụ.


Đề ra các biện pháp nhằm đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm cả về số lượng lẫn
chất lượng.
Phân tích điểm hịa vốn trong tiêu thụ.

Phân tích chung tình hình lợi nhuận.
Phân tích những ngun nhân ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận.
Phân tích các chỉ tiêu về chỉ suất lợi nhuận.
2. Phân tích tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp
2.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ
Có 2 loại ngun nhân chính:
*.Ngun nhân chủ quan( thuộc về doanh nghiệp)
-

Tình hình cung cấp đầu vào.

-

Chất lượng, chủng loại, cơ cấu hàng hóa.

-

Phương thức bán hàng, chiến lược tiếp thị.

-

Tổ chức và kĩ thuật thương mại.

*.Nguyên nhân khách quan (thuộc về bên ngồi hay cịn gọi là mơi trường kinh
doanh):
- Chính sách vĩ mơ của chính phủ nhằm ổn định hóa như: chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa, chinh sách về tỉ giá hối đối.
- Tình hình xã hội: cơ cấu nền kinh tế, mức sống, thu nhập, tập quán, lễ hội,
mùa vụ.
- Tình hình thế giới, khu vực: các khuynh hướng thương mại, xu thế hội nhập,

khu vực hóa và tồn cầu hóa
- Những ngun nhân bất thường và định tính về bản chất khác.
Trong khi phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ, hẳn nhiên có
một số vấn đề hẳn rất khó hoặc khơng thể “cân đo” được. Tuy vậy, để kết quả
phân tích có lượng hóa đó mới đúng nghĩa là: “hệ thống thơng tin hữu ích” của kế
tốn – cở sở của các quyết định quản trị. Và chỉ có điều này mới làm cho phân tích
tích tinh hình kinh doanh nên thuyết phục và sẽ là một hoạt đọng thường xuyên
được quan tâm tại các doanh nghiệp.


Trong q trình phân tích ngồi các phương pháp đã trình bày, đặc biệt là phương
pháp hồi qui rất hữu dụng, người ta còn vận dụng nhiều kiến thức kinh tế, và
những thuật tốn phức tạp khác, trợ giúp cơng tác phân tích.
2.2. Phân tích tình hình tiêu thụ
-Tiêu thụ là khâu cuối cùng của vòng chu chuyển vốn ở doanh nghiệp.Sản phẩm
hàng hóa chỉ được coi là tiêu thụ khi doanh nghiệp đã nhận được tiền bán
hàng.Doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều hay ít là biểu hiện ở chi tiêu khối lượng
sản phẩm hàng hóa tiêu thụ.Khối lượng sản phẩm hàng hóa tiêu thụ được biểu
hiện dưới hai hình thức đo lường là thước đo hiện vật và thước đo giá trị.
-Khối lượng sản phẩm hàng hóa được tính bằng thước đo hiện vật phản ánh khối
lượng hàng hóa đã tiêu thụ của từng mặt hàng chủ yếu trong kỳ.Song, đối với
những doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại mặt hàng thì khơng thể tổng
hợp,so sánh được.Để khắc phục nhược điểm này, người ta sử dụng chỉ tiêu giá trị
sản lượng hàng hóa tiêu thụ.
-Để thu thập số liệu kịp thời và hợp lý cho công tác phân tích cần chú ý một số
điểm sau:
+ Khi phân tích biến động về khối lượng sản phẩm tiêu thụ, trong trường hợp giá
cả biến động thì phải sử dụng giá bán kế hoạch để loại trừ biến động về giá.
+Trong điều kiện cạnh tranh,mặt hàng được chọn phân tích là mặt hàng có nhu
cầu đang gia tăng, đang bị cạnh tranh mạnh, có mặt hàng mới đưa vào kinh doanh,

mặt hàng sản xuất theo đơn đặt hàng quan trọng của doanh nghiệp.
+Cần xác định rõ thời điểm phân tích để chủ động trong khâu thu thập số
liệu.Việc phân tích chung tình hình tiêu thụ có thể trên cơ sở ngày, tuần, tháng,
quý, năm tùy thuộc vào yêu cầu phân tích của nhà quản lý.
-Nội dung phân tích chung tình hình tiêu thụ bao gồm những vấn đề sau:
* Phân tích chung tình hình hồn thành kế hoạch tiêu thụ
Phương pháp phân tích là so sánh doanh thu thưc tế tính theo giá bán kế hoạch
(hoặc giá bán cố định) với doanh thu kế hoạch tính theo giá bán kế hoạch (hoặc
giá bán cố định) cả về tuyệt đối và tương đối.


n

Q

.Pki

Q

.Pki

1i

i 1
n

Ta có: Tt =

ki


* 100%

i 1

Tt: tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ.
Q1i: khối lương sản phẩm tiêu thụ thực tế.
Qki: khối lượng sản phảm tiêu thụ kế hoạch.
Pki: giá bán đơn vị kế hoạch.
Mức tăng (giảm) giữa thực tế so với kế hoạch:
n

 S=

Q

1i

i 1

n

.Pki -  Qki .Pki
i 1

Nếu Tt >= 100% và  S >=0 thì đánh giá doanh nghiệp hồn thành kế hoạch tiêu
thụ sản phẩm.
*Phân tích tình hình hồn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu
Nội dung phân tích trên chỉ mới đánh giá chung tình hình hồn thành kế hoạch
tiêu thụ của toàn doanh nghiệp. Trong thực tế, các sản phẩm tiêu thụ thường
không thể thay thế cho nhau do sản xuất theo đơn đặt hàng, hoặc mỗi sản phẩm có

vị trí nhất định trong hỗn hợp sản phẩm. Do vậy, cần phân tích tình hình hồn
thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu.
-Kết quả tiêu thụ thể hiện bằng thước đo hiện vật: so sánh số thực tế với số kế
hoạch của từng mặt hàng chủ yếu. Nếu chỉ cần một mặt hàng khơng hồn
thành kế hoạch thì kết luận doanh nghiệp khơng hồn thành kế hoạch tiêu thụ
mặt hàng chủ yếu.
-Khi kết quả tiêu thụ thể hiện bằng thước đo giá trị: ngoài việc so sánh trên ta
cịn có thể tính chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tình hình tiêu thụ mặt hàng chủ yếu.


Ngun tắc tính như sau: khơng lấy phần giá trị vượt kế hoạch của mặt hàng
này bù cho phần hụt so với kế hoạch của mặt hàng kia.
-Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu được tính như sau:
n

Ttc =

k
1i

Q

.Pki

i 1
n

*100%

Q


ki

Pki

i 1

Ttc : Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu.
Q 1ki : khối lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế trong giới hạn kế hoạch.
Do phần giá trị vượt kế hoạch của các mặt hàng chủ yếu không được tính vào
phần tử số của chỉ tiêu trên này (Ttc) luôn luôn nhỏ hơn hoăc bằng 100%.
Nếu Ttc < 100%: doanh nghiệp khơng hồn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng
chủ yếu.
Nếu Ttc = 100%: doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ
yếu.
Ý nghĩa của chỉ tiêu:
Phân tích tình hình hồn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu nhằm chỉ ra
những sản phẩm đang gặp khó khăn trong tiêu thụ để từ đó có biện pháp đẩy
mạnh tiêu thụ.
* Ví dụ: Có số liệu về tình hình tiêu thụ của cơng ty Thanh Xn năm 2008 và
năm 2009 như sau

Sản phẩm
Bàn bát giác nhỏ
Ghế café
Ghế xích đu gỗ
Bộ bàn sa lon 4 ghế
Bộ bàn sa lon 2 ghế

SLSP tiêu thụ (Q)

Q0
Qk
Q1
2,045
2,500
2,470
4,455
4,500
4,874
207
300
282
761
750
765
670
700
658

Đơn giá bán (P)
P0
Pk
P1
105,000
100,000
120,000
120,400
145,000
170,000
3,040,000 3,100,000 3,200,000

2,500,000 2,600,000 2,496,000
1,200,000 1,250,000 1,300,000


u cầu: 1. Phân tích tình hình tiêu thụ thực tế so với kế hoạch
2. Phân tích tình hình tiêu thụ kỳ này so với kỳ trước.

Bài giải:
1.Phân tích tình hình tiêu thụ thực tế so với kế hoạch

Sản phẩm
t%
Bàn bát giác nhỏ
98.8%
Ghế café
108.31%
Ghế xích đu gỗ
94%
Bộ bàn sa lon 4 ghế
102%
Bộ bàn sa lon 2 ghế
94%
Tổng

∆Q
-30
374
-18
15
-42


QkPk
Q1Pk
T%
∆D
250,000,000
247,000,000
98.8%
-3,000,000
652,500,000
706,730,000 108.31% 54,230,000
930,000,000
874,200,000
94%
-55,800,000
1,950,000,000 1,989,000,000 102%
39,000,000
875,000,000
822,500,000
94%
-52,500,000
4,657,500,000 4,639,430,000 99.61% -18,070,000

Nhận xét: Qua bảng phân tích số liệu ta có nhận xét như sau:
Với T = 99.61% và ∆D = -18,070,000 cho biết doanh nghiệp đã không hoàn thành
kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và giảm với tỷ lệ 0.39 % tương ứng làm cho doanh thu
giảm một lượng tương ứng là 18,070,000. Cụ thể là do:
Sản phẩm ghế cafe và bộ bàn solon 4 ghế vượt mức kế hoạch tiêu thụ đề ra với tỷ
lệ lần lượt đạt được là 108,31% và 102% đã làm cho doanh thu tăng 54.230.000 đ
và 39.000.000 đ. Trong khi đó, sản phẩm bàn bát giác nhỏ, ghế xích đu và bộ

salon 2 ghế khơng hồn thành kế hoạch chỉ đạt được lần lượt là 98,8%, 94% và
94% làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm 1 lượng tương ứng lần lượt là
3.000.000 đ, 55.800.000 đ, và 52.500.000 đ.
Vậy doanh nghiệp cần phải có biện pháp đối với các sản phẩm khơng hồn thành
kế hoạch.


2. Phân tích tình hình tiêu thụ kỳ này so với kỳ trước.
Sản phẩm
Bàn bát giác nhỏ
Ghế café
Ghế xích đu gỗ
Bộ bàn sa lon 4 ghế
Bộ bàn sa lon 2 ghế
Tổng

t%
∆Q
QoPo
Q1Po
120.78% 425 214,725,000
259,350,000
109.41% 419 536,382,000
586,829,600
136.23% 75
629,280,000
857,280,000
100.53% 4 1,902,500,000 1,912,500,000
98.21% -12 804,000,000
789,600,000

4,086,887,000 4,405,559,600

T%
∆D
120.78% 44,625,000
109.41% 50,447,600
136.23% 228,000,000
100.53% 10,000,000
98.21% -14,400,000
107.8% 318,672,600

Nhận xét: Qua bảng phân tích số liệu ta có nhận xét như sau:
Với T = 107.8 % và ∆D = 318.672.600 cho biết kỳ này tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp đạt 107.8% và tăng so với kỳ trước 7.8% đã làm cho doanh thu
tăng một lượng tương ứng là 318.672.600 đ. Cụ thể là do:
Tỷ lệ tiêu thụ của sản phẩm bàn bát giác nhỏ, ghế cafe, ghế xích đu gỗ và bộ bàn
solon 4 ghế đạt được lần lượt đạt được là 120,78%, 109,41%, 136,23% và
100,53% đã làm cho doanh thu tăng lần lượt 44.625.000đ, 50.447.600đ,
228.000.000 đ và 10.000.000 đ. Trong khi đó, tỷ lệ tiêu thụ của bộ bàn salon 2 ghế
chỉ đạt được 98,21% làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm 1 lượng tương
ứng là 14.400.000 đ. Tuy xét về mặt tổng thể doanh nghiệp đã có tốc độ tiêu thụ
sản phẩm tăng so với kỳ trước nhưng xét về từng loại sản phẩm thì doanh nghiệp
cần phải có biện pháp đối với các sản phẩm bộ bàn ghế salon 2 ghế.
2.3 Phân tiêu thụ theo điểm hịa vốn:
Qua việc phân tích chung tình hình tiêu thụ chỉ cho ta thấy một cách tổng
quát tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp nhưng chưa thấy được doanh thu tiêu thụ
có bù đắp được chi phí bỏ ra hay không?Một doanh nghiệp khi bước vào kinh
doanh điều khơng dễ dàng là ngay từ đầu đã có lãi, bởi lẽ thời kì đầu của máy móc



thiết bị chưa phát huy hết công sức, công nhân chưa có kinh nghiệm, mức tiêu hao
ngun vật liệu cịn cao, thị trường tiêu thụ còn hẹp và chưa nắm hết được nhu cầu
của khách hàng. Song do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển,doanh nghiệp phải
phấn đấu đẻ việc sản xuất kinh doanh từ tinh trạng lỗ sang hịa vốn tiến tới có lãi ít
it tiến tới có lãi nhiều.
Điều mấu chốt là doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi nhuận để tồn tại và phat triển, lợi
nhuận có được chủ yếu thơng qua kết quả tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và cung cấp
dịch vụ.
Do đó, cần thiết phải phan tích tình hình theo điểm hịa vốn.
-Điểm hịa vốn là điểm mà tại đó với khối lượng tiêu thụ ở thị trường tiêu thụ
doanh nghiệp đạt được doanh thu đủ bù đắp được tồn bộ hao phí sản xuất kinh
doanh với giá cả thị trường đã được xác định hay dự kiến. Hay nói cách khác,
điểm hịa vốn là điểm về khối lượng tiêu thụ mà doanh thu đủ bù đắp hết biến phí
và định phí.Hay là điểm tại đó doanh thu tiêu thụ số lượng sản phẩm sản xuất ra
vừa đủ để trang trải những chi phí phát sinh. Hay noi cách khác doanh thu tiêu thụ
được bằng chi phí phát sinh.
-Trong thực tế và trong nhiều trường hợp việc xem xét điểm hịa vốn khơng
phải đơn giản.Điều đó phụ thuộc vào vào hai yếu tố mức giá cả thị trường và tình
hình chi phí của doanh nghiệp. Vậy với số lượng sản phẩm đã sản xuất và tiêu thụ
tương ứng với nó là tổng chi phí đã biết thì điểm hịa vốn sẽ đạt tới khi khối lượng
sản phẩm sản xuất và tiêu thụ bán với giá đúng bằng chi phí biến đổi,cịn ứng với
lượng sản phẩm đã bán được với giá bán lớn hơn chi phí biến đổi thì điểm hịa vốn
sẽ đạt tới điểm lượng nhỏ hơn lượng sản phẩm đã sản xuất.
-Qua phân tích hịa vốn,các doanh nghiệp có thể dự đốn được khối lượng sản
phẩm cần đạt để có thể hịa vốn hoặc có thể biết trước với giá tối thiểu bao nhiêu
để không lỗ.


Phân tích tiêu thụ theo điểm hịa vốn khơng những xác định sản lượng tiêu
thụ vốn mà còn chỉ ra phương hướng đẩy mạnh tiêu thụ, điều chỉnh chi phí để có

quyết định đúng đắn và sản phẩm trong kì kinh doanh.
-

Trình tự phân tích

Xác định khối lượng tiêu thụ từng loại tại điểm hòa vốn
S: là doanh thu bán hàng.
Q: là khối lượng sản phảm tiêu thụ.
P: là giá bán đơn vị sản phẩm.
TC: là tổng chi phí sản xuất.
X: là khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.
TFC: là tổng định phí.
VC: là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm.
- Điểm hòa vốn: là điểm tại đó doanh thu băng chi phí, là điểm giao nhau giưa
hai đường doanh thu và chi phí.
S = TC
Hay:
Q.P = TFC + Q.VC suy ra Q = TFC / (P – VC)
Vậy, để đạt được điểm hòa vốn ta phải tiêu thụ một lượng sản phẩm là:
Tổng định phí
Sản lượng =
hịa vốn

(giá bán đơn vị sản phẩm – chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm)

Trong đó:
Tổng định phí bao gồm: định phí sản xuất, định phí bán hàng và định phí
quản lý doanh nghiệp.Nhưng chi phí này khơng thay đổi theo khối lượng sản
phẩm sản xuất và têu thụ.
Biến phí đơn vị sản phẩm: bao gồm biến phí giá vốn hàng bán, biến phí

bán hàng và biến phí quản lý doanh nghiệp.


Do chi phí ở doanh nghiệp có nhiều cách ứng xử nên khi xác định sản lượng
hòa vốn nên phải tiến hành phân tích chi phí và chọn cách ứng xử lad sản phảm
sản xuất và tiêu thụ.
Trường hợp cần xác định sản lượng hòa vốn theo thước đo giá trị(cịn được
gọi là doanh thu hịa vốn) thì tinh theo cơng thức sau:
Doanh thu hịa vốn = Tổng định phí / tỉ lệ số dư đảm phí
Trong đó:
Tỷ lệ số dư đảm phí = (Đơn giá bán – biến phí đơn vi) / Đơn giá bán
Sản lượng( doanh thu) hòa vốn có thể xác định bằng phương pháp đồ thị. Theo
khái niệm về điểm hịa vốn thì tại điểm hịa vốn ta có:
Tổng doanh thu = Tổng định phí + Tổng biến phí
Điểm hịa vốn được xác định qua đồ thị như

D
C

bX
a

Shv
Xhv

Sản lượng X

Từ việc xác định điểm hòa vốn trong trường hợp kinh doanh một loại sản
phẩm, có thể khái quát cách xác định điểm hòa vốn đối với doanh nghiệp
kinh doanh nhiều loại sản phẩm như sau:

Doanh thu hịa vốn = Tổng định phí / Tỉ lệ số dư đảm phí
Để tính điểm hịa vốn khi kinh doanh nhiều mặt hàng cần chú ý một số vấn dề
sau:


- Xác định cơ cấu sản phẩm tiêu thụ và giả định cơ cấu này không thay đổi
trong ki phân tích.Đây là cơ sở tính số dư đảm phí đon vị binh quân (tỉ lệ số dư
đảm phí đơn vị binh quân).
- Xác định định phí trực tiếp cho từng sản phẩm và định phí chung cho các loại
sản phẩm. Tách rời hai loại định phí này co nhiều áp dụng trong kiểm tốn chi phí
và phân tích ảnh hưởng khối lượng tiêu thụ từng mặt hàng đến hòa vốn chung cua
tồn doanh nghiệp.
Kết luận chung khi phân tích hịa vốn:
- Trong trường hợp số lượng sản phẩm tiêu thụ lớn hơn sản lượng hòa vốn,
hoạt động của doanh nghiệp mang lại lợi nhuận.Ngược lại, nếu sản lượng tiêu thụ
nhỏ hơn sản lượng hòa vốn, hoạt đọng tiêu thụ của doanh nghiệp bi lỗ.
- Trong trường hợp mức tiêu thụ của doanh nghiệp đã bảo hòa và mức này rất
gần điểm hịa vốn thì cần có những biện pháp để cắt giảm chi phí tại doanh
nghiệp.Đối với định phí, cần ưu tiên cắt giảm định phí tùy ý: cịn đối với thì cần
quan tâm đến biến phí thuộc khả năng kiểm soat của đơn vị. Những biện pháp này
góp phần làm cho sản lượng hòa vốn của doanh nghiệp được giảm xuống.
- Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh nhiều sản phẩm, phân tích tiêu
thụ theo điểm hịa vốn sẽ chỉ ra những thay đổi cơ cấu sản phẩm theo hướng có lợi
cho doanh nghiệp.
- Phân tích theo điểm hịa vốn cịn cho thấy những thời điểm thích hợp trong kì
kinh doanh cần điều chỉnh giá bán, biến phí đơn vị để tăng sản lượng tiêu thụ và
vẫn đảm bảo mục tiêu lợi nhuận.
Ví dụ: Tại doanh nghiệp Thanh Xuân có số liệu như sau:

Bàn bát

Chỉ tiêu
Sản lượng ( Q1)
Tổng định phí
Biến phí đơn vị

Ghế

Xích đu

Bộ bàn

Bộ bàn

salon

salon

giác nhỏ cà phê
gỗ
4 ghế
2 ghế
2.470
4.874
282
765
658
35.000 70.000
45.000 185.000 195.600
86
135

2665
1760
842


Biến phí đơn vị trong sản xuất
Biến phí đơn vị ngoài sản xuất
Giá bán đơn vị sản phẩm ( P1)

78
8
120

121
14
170

2459
206
3.200

1650
110
2.496

735
107
1.300

BẢNG PHÂN TÍCH TIÊU THỤ THEO ĐIỂM HỊA VỐN CỦA TỪNG

LOẠI SẢN PHẨM

Bàn bát
Chỉ tiêu
Sản lượng (Q1)
Tổng định phí
biến phí đơn vị
giá bán đơn vị sản phẩm ( P1)
tỷ lệ số dư đảm phí
sản lượng hịa vốn
doanh thu hịa vốn

Ghế

Xích đu

Bộ bàn

Bộ bàn

solon

salon

giác nhỏ
cà phê
gỗ
4 ghế
2 ghế
2.470

4.874
282
765
658
35.000
70.000
45.000 185.000
195.600
86
135
2.665
1.760
842
120
170
3.200
2496
1.300
0,28
0,21
0,17
0,29
0,35
1.029
2.000
84
251
427
123.529
340.000

269.159 627.391
555.197

Nhận xét: Qua bảng số liệu ta có nhận xét sau:
+ Đối với sản phẩm bàn bát giác nhỏ: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 1029 sp thì doanh
nghiệp có lãi, nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 1029sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng
trên mức 123,529 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm ghế cafe: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản phẩm sản
xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 2000 sp thì doanh nghiệp có lãi,
nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 2000 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức
340 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.


+ Đối với sản phẩm xích đu gỗ: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản phẩm sản
xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 84 sp thì doanh nghiệp có lãi,
nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 84 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng trên mức
269,159 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm bộ bàn salon 4 ghế: Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 251 sp thì doanh
nghiệp có lãi, nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 251 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng
trên mức 627,391 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
+ Đối với sản phẩm bộ bàn salon 2 ghế : Nếu doanh nghiệp tăng khối lượng sản
phẩm sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng này ở mức trên 427 sp thì doanh
nghiệp có lãi, nếu doanh nghiệp tiêu thụ dưới 427 sp thì lỗ. Và nếu doanh thu tăng
trên mức 555,197 triệu đồng thì doanh nghiệp sẽ có lãi, ngược lại thì lỗ.
Doanh nghiệp có thể tác động lên các yếu tố chi phối điểm hòa vốn để đạt được
những mục đích nhất định như: thay đổi giá bán, thay đổi giá thành hoặc thay đổi
quy mô sản xuất để đạt được mức lãi mong muốn.
2.4 Phân tích mối quan hệ giữa tiêu thụ với khối lượng sản xuất và dự trữ:

Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố bên
ngoài hay những nhân tố khách quan, đồng thời chịu tác động bởi những nhân tố
chủ quan bên trong doanh nghiệp, trong đó có ảnh hưởng của nhân tố về khả năng
sản xuất, yêu cầu dự trữ của doanh nghiệp. Mối quan hệ giữa khối lượng sản
phẩm tiêu thụ, sản xuất và dự trữ được thể hiện qua công thức sau:
Số lượng SP
tiêu thụ
trong kỳ

Số lượng SP
=

dự trữ
đầu kỳ

Số lượng SP
+

sản xuất
trong kỳ

Số lượng SP
-

dự trữ
cho kỳ sau


Bằng phương pháp cân đối lien hệ, ta xác định mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến

khối lượng sản phẩm tiêu thụ là: số lượng sản phẩm dự trữ đầu kỳ, số lượng sản
phẩm sản xuất trong kỳ và số lượng sản phẩm dự trữ cuối kỳ.
- Nhân tố số lượng sản phẩm dự trư đầu kỳ
Nhân tố này tăng lên làm cho khối lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ
tăng lên, tuy nhiên, khối lượng dự trữ là kết quả tồn kho của cuối kỳ trước, do đó
cần phải tìm hiểu ngun nhân để có cách đánh giá đúng đắn.
- Nhân tố khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ:
Có thể nói rằng đối với một doanh nghiệp sản xuất khối lượng sản phẩm sản
xuất trong kỳ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ là nhân tố chủ yếu tác động cùng chiều
với khối lượng được tiêu thụ trong kỳ. Bởi vì trong điều kiện nhu cầu thị trường
gia tăng khối lượng sản phẩm sản xuất sẽ gia tăng không chỉ đáp ứng nhu cầu thị
trường trong kỳ mà con đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cho kỳ sau. Đây là yếu tố tích
cực nhằm gia tăng khối lượng sản xuất để hạ thấp giá thành sản phẩm, đồng thời
khối lượng tiêu thụ tăng lên sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên.
Ngược lại, nếu như khối lượng sản phẩm sản xuất giảm là biểu hiện khơng tốt,
cũng có thể do nhu cầu thị trường giảm mà lam cho doanh nghiệp giảm khối lượng
sản xuất để giảm khối lượng tồn kho sản phẩm, hoặc do năng lương sản xuất bị
giới hạn, cung ứng nguyên vật liệu không kịp thời.
- Nhân tố khối lượng sản phẩm dự trữ cuối kỳ(cho kỳ sau)
Đây là nhân tố tác động ngược chiều với khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Nếu
khối lượng sản phẩm cuối kỳ tăng lên là do trong kỳ khối lượng tiêu thụ trong kỳ
giảm là biểu hiện không tốt trong công tác tiêu thụ . Tuy nhiên nếu khối lượng tiêu
thụ cuối kỳ tăng lên là do sản xuất trong ky tăng mạnh ma doanh nghiệp có kế
hoạch tiêu thụ với khối lượng lớn trong kỳ sau là biểu hiện tích cực.Nếu khối
lượng sản phẩm dự trữ cuối kỳ giảm đáng kể trong khi nhu cầu thị trường của kì
sau khơng giảm thì sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ, sản phẩm không đủ đáp


ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường, ảnh hưởng làm giảm doanh thu, từ đó giảm lợi
nhuận.

Tính chất quan hệ sản xuất, tiêu thụ và dự trữ rất phức tạp nên khi đánh giá tình
hình trên cần phải xem xét trong những mối quan hệ nhất định. Nếu như khối
lượng sản phẩm tiêu thụ tăng trong khi khối lượng sản phẩm sản xuất tăng và khối
lượng sản phẩm dự trữ cuối kỳ đáp ứng được yêu cầu tiêu thụ cho kỳ sau thì đánh
giá là cân đối giữa sản xuất, tiêu thụ và dự trữ. Tuy nhiên có một số trường hợp
mất cân đối giữa sản xuất, tiêu thụ và dự trữ như sau:
* Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên, trong khi khối lượng sản xuất và
dự trữ đầu kỳ tăng, khối lượng sản xuất trong kỳ giảm và khối lượng dự trữ cuối
kỳ tăng lên. Thơng thường khối lượng sản xuất trong kỳ giảm thì gắn liền với nhu
cầu thị trường giảm, nhưng dự trữ cuối kỳ tăng lên sẽ không thực hiện được tiêu
thụ trong kỳ sau, làm cho chi phí tồn kho cao, giảm hiệu quả sử dụng vốn
* Nếu khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng, trong khi khối lượng sản xuất tăng,
khối lượng dự trữ cuối kỳ giảm thì tình hình này sẽ không đáp ứng được yêu cầu
tiêu thụ trong kỳ sau nếu như nhu cầu thị trường không giảm
Những trường hợp trên là điển hình khi xem xét mối quan hệ giữa khối lượng
sản phẩm sản xuất, tiêu thụ và dự trữ. Tuy nhiên để có cách đánh giá một cách
tồn diện và đúng đắn về tính cân đối giữa sản xuất, tiêu thụ và dự trữ thì cần căn
cứ vào tình hình thực tế tại doanh nghiệp và thông tin về nhu cầu thị trường của
từng loại sản phẩm.
Khi đánh giá cũng cần phải chú ý rằng: mối quan hệ giữa các nhân tố trên đối
với khối lượng sản phẩm tiêu thụ là tác động qua lại lẫn nhau, tức là tiêu thụ tác
động đến khâu sản xuất và dự trữ đồng thời có sự tác động ngược lại từ khâu dự
trữ và sản xuất đến khâu tiêu thụ
Vì vậy, để đánh giá hợp lý cần chú ý đến đặc điểm thị trường trong từng thời kỳ,
cũng như cơ chế quản lý Nhà nước đối với Doanh nghiệp.
3. Phân tích tình hình lợi nhuận:


3.1 . Phân tích khái qt tình hình lợi nhuận:
a) Mục tiêu của doanh nghiệp:

Bất kỳ một tổ chức nào củng có mục tiêu hướng tới; mục tiêu sẽ khác nhau giữa
các tổ chức mang tính chất khác nhau. Mục tiêu của các tổ chức phi lợi nhuận là
những công tác hành chính, xã hội, là mục đích nhân đạo… khơng mang tính chất
kinh doanh.
Mục tiêu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói đến cùng là lợi
nhuận. Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều xoay quanh mục tiêu lợi nhuận,
hướng đến lợi nhuận và tất cả vì lợi nhuận.
b) Ý nghĩa của lợi nhuận:
Theo lý thuyết kinh tế, lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh quyết định quá trình
tái sản xuất mở rộng xã hội. Lợi nhuận được bổ sung vào khối tư bản cho chu kỳ
sản xuất sau.
Ý nghĩa xã hội: Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng toàn
bộ nền kinh tế quốc dân và doanh nghiệp, mở rộng phát triển sản xuất, tạo công an
việc làm, tăng thu nhập và tiêu dùng xã hội, là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác
dụng khuyến khích người lao động tạo ra sức phát triển sản xuất trên cơ sở chính
sách phân phối đúng đắn để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế. là nguồn hình
thành nên thu nhập của ngân sách nhà nước thông qua thu thuế thu nhập doanh
nghiệp; trên cơ sở đó giúp cho nhà nước phát triển nền kinh tế xã hội.
Đối với doanh nghiệp: lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh
nghiệp, là chỉ tiêu chất lượng, tổng hợp phản ánh kết quả kinh tế của mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận là cơ sở để tính ra các chỉ
tiêu chất lượng khác nhằm đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp; đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Một bộ phận lợi nhuận khác được để lại cho doanh
nghiệp thành lập các quỹ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời
sống cán bộ công nhân viên. Ngồi ra lợi nhuận cịn là yếu tố quyết định sự tồn
vong, khẳng định khả năng cạnh tranh, bản lỉnh doanh nghiệp trong một nền kinh




×