Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

Tiểu luận PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (255.11 KB, 53 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA VẬT LÝ


TIỂU LUẬN
Đề tài:

PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA
PHẬT GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

Người thực hiện

: NGUYỄN CAO VIỄN

Lớp

: CAO HỌC K34

Nghành

: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN VẬT LÝ

Người hướng dẫn

Đà Nẵng 2017

: TS. PHẠM HUY THÀNH



LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt
thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, chúng em đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa
Vật Lý – Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng đã cùng với tri thức và tâm huyết của
mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học
tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn TS. PHẠM HUY THÀNH đã tận tâm hướng dẫn
chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện. Nếu không
có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rất
khó có thể hoàn thiện được. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn Thầy.
Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực Triết học ,kiến thức của em
còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều
chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy và
các bạn học cùng lớp để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
Sau cùng, em xin kính chúc quý Thầy Cô trong Khoa Vật lý – Trường Đại
Học Sư Phạm Đà Nẵng và TS. PHẠM HUY THÀNH thật dồi dào sức khỏe, niềm
tin để tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế
hệ mai sau.

2


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Trong các tôn giáo lớn có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hiện nay, ngoài Thiên chúa
giáo ở các nước phương Tây, Hồi giáo tại các nước Trung Đông thì Phật giáo có

sức ảnh hưởng mạnh mẻ tại các nước phương Đông và trở thành một tôn giáo
chính thống và là quốc đạo của một số nước lớn và tầm ảnh hưởng của nó đối với
đời sống xã hội cũng rất lớn. Tại Việt Nam cũng vậy, Phật giáo đóng vai trò chủ
đạo và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong phong tục tín ngưỡng của người dân.
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Phật giáo và sự ảnh hưởng của phậtgiáo trong đời
sống xã hội”được xây dựng nhằm tìm hiểu, nghiên cứu về Triết học Phật giáo
và những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam nhằm
mục đích định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy, lễ giáo,… của con
người Việt Nam.
Do sự hiểu biết còn hạn hẹn nên trong quá trình viết không tránh khỏi thiếu
sót, kính mong thầy giáo giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn.

3


NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO
I. Nguồn gốc ra đời của Phật giáo
Vào giữa thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đạo Phật ra đời ở Ấn Độ và
mang tên người sáng lập là Buddha. Đạo Phật được truyền bá rộng rãi ở các quốc
gia trong khu vực Châu Á, Châu Phi, gần đây có mặt tại các nước châu Âu và châu
Mỹ. Trong quá trình truyền bá, đạo Phật đã kết hợp với tín ngưỡng tập tục, dân
gian, văn hóa bản địa hình thành nhiều tông phái và giáo phái, đã có những ảnh
hưởng và tác động vô cùng quan trọng đối với đời sống xã hội và văn hóa của
nhiều quốc gia trên thế giới.
II. Đạo phật ở việt nam
1. Sự du nhập của đạo Phật vào Việt Nam
Xét về mặt địa lý Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi có nhiều
điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu tiếp xúc với các nước trong khu vực. Ấn Độ
và Trung Hoa là hai nước có nền văn minh lớn cổ xưa. Việt Nam nằm cạnh hai

nước, cho nên chịu nhiều ảnh hưởng của hai nền văn minh này.
Trong những năm đầu Công nguyên, Việt Nam đang ở thời kỳ Bắc thuộc, về
tôn giáo tầng lớp trên của xã hội bắt đầu chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo,
tầng lớp dưới có quan niệm về ông trời – đấng gây phúc họa cho con người và
quan niệm đa thần giáo trong tín ngưỡng dân gian.
Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam ngay từ đầu Công nguyên bằng hai
con đường; đường thủy thông qua con đường buôn bán với thương gia Ấn Độ.
Đường bộ thông qua giao lưu văn hóa với Trung Quốc mà Trung Quốc khi ấy cũng
4


tiếp nhận Phật giáo được truyền bá từ Ấn Độ. Như vậy Phật giáo Việt Nam mang
cả sắc thái Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường xâm lược,
không phải do sự cưỡng chế của Trung Hoa mà thông qua đường giao thương buôn
bán. Đạo Phật đến bằng con đường hòa bình, những giáo lý của đạo Phật về bình
đẳng, bắc ái, cứu khổ, cứu nạn…gần gũi với cư dân Việt Nam do đó dễ được chấp
nhận. Mặt khác thời kỳ này còn có các tín ngưỡng bản địa của cư dân nông nghiệp
lúa nước, cộng với sự tồn tại của Nho giáo, đạo Lão được Trung Quốc truyền vào,
tuy nhiên các tín ngưỡng, tôn giáo đó còn có nhiều mặt khiếm khuyết đối với đời
sống tâm linh cộng đồng và đạo Phật đã bổ sung vào chỗ thiếu hụt ấy. Vì vậy đạo
Phật ở Việt Nam được giao thoa bởi các tín ngưỡng bản địa, cũng như ảnh hưởng
bởi đạo Lão ở Việt Nam.
2. Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam, đến nay đã gần 2000 năm. Trong khoảng
thời gian dài đó, do sự thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị xã hội của đất nước,
đạo Phật cũng trải qua một số bước phát triển và hình thành nên một số giai đoạn
tương đối rõ rệt.
a. Phật giáo từ đầu Công nguyên đến giữa thế kỷ VI
Thời kỳ này Phật giáo đang trong giai đoạn phôi thai, buổi đầu của sự truyền

bá. Nó mang nhiều dấu ấn của Phật giáo Ân Độ, Giao Châu khi đó đang là thuộc
địa của Trung Hoa, mà Trung Hoa cũng muốn truyền bá tư tưởng của mình nên
Phật giáo lúc đầu không được chính quyền ngoại xâm chấp nhận. Song do sự tồn
tại và phát triển của Phật giáo ở Giao Châu, chính quyền ngoại xâm cũng phải nới
dần cho sự phát triển của Phật giáo.
Trung tâm Phật giáo lớn nhất lúc này là Luy Lâu, ở đây đã có những nhà sư
Ấn Độ dịch một số kinh Phật để giảng giải cho người bản địa và có sự trao đổi về
giáo lý với các nhà sư truyền bá Phật giáo theo con đường Trung Quốc.

5


b. Phật giáo từ giữa thế kỷ VI đến thế kỷ X (hậu Lý Nam Đế và Bắc
thuộc lần thứ 3)
Đến thời kỳ này Phật giáo đã tồn tại và phát triển khá vững vàng ở Việt
Nam. Trong đạo Phật đã hình thành một số tông phái và đã diễn ra sự tranh luận
giữa các môn phái… Trên lĩnh vực truyền giáo, ngoài các nhà sư Ấn Độ và Trung
Quốc đã có các nhà sư Việt Nam giỏi về giáo lý Phật tham gia.
Phật giáo thời kỳ này không chỉ đặt vấn đề giải thoát cho mọi đau khổ của
con người, mà còn đặt vấn đề giác ngộ chân lý. Giáo lý Phật ngày càng được phổ
biến và chùa chiền ngày càng mở mang phát triển. Nhiều người dân tự nguyện đến
với đạo Phật, có người lấy danh nghĩa Phật như Lý Phật tử… để tập hợp quần
chúng gắn bó với nhau. Đạo Phật đã trở thành tiền đề cho việc trở thành quốc giáo
ở giai đoạn lịch sử sau này.
c. Phật giáo từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây
dựng đất nước được mở ra cho dân tộc Việt Nam. Phật giáo lan rộng khắp nơi,
nhiều trung tâm Phật giáo mới được hình thành.
Các nhà sư thời nhà Đinh, Lê mà sau này cả nhà Lý, Trần cũng chú trọng
phát triển Phật giáo, nhiều nhà sư trở thành quan trong triều hay được sử dụng vào

việc ngoại giao với sứ Trung Quốc. Giáo lý nhà Phật lên đến đỉnh cao, các vua Lý
đều tôn trọng Phật giáo. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng ảnh hưởng
tư tưởng của Phật giáo. Các lễ hội mang tính Phật giáo phát triển, chùa vừa là nơi
cúng Phật vừa là nơi hội tụ lễ hội, dạy học của dân làng.
Về giáo lý tiếp tục phát triển hai phái thiền và xuất hiện một phái mới là
Thảo Đường. Về thờ cúng trong Phật giáo cũng được hòa đồng với tín ngưỡng dân
gian.
Thời nhà Trần, tinh thần, ý thức dân tộc được nâng cao thêm sau kháng
chiến chống quân Nguyên Mông, điều này tác động mạnh đến đời sống văn hóa xã
hội. Nho giáo dần dần chiếm ưu thế do sự đòi hỏi của phát triển lịch sử. Các vua
Trần ý thức được điều đó nhưng Phật giáo thời Trần vẫn được tin dùng và phát

6


triển. Các vua Trần đã tu Phật, Trần Nhân Tông còn lập nên phái Trúc Lâm Yên
Tử.
Phật giáo thời Trần phát triển trong sự dung hòa với Nho giáo, mặt khác
cũng tiếp nhận đạo Giáo.
d. Phật giáo thời hậu Lê
Lê Lợi chiến thắng giặc ngoại xâm và lên ngôi vua, đã đánh dấu bước
chuyển quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam. Trên lĩnh vực tôn giáo Phật
giáo đã nhường bước cho Nho giáo, điều này chủ yếu do đời sống chính trị xã hội
Việt Nam quy định, đó là phải xây dựng củng cố nhà nước phong kiến, kỷ cương
xã hội, mà Nho giáo có khả năng đáp ứng được. Tuy nhiên Nho giáo chỉ phổ biến
chủ yếu ở tầng lớp trên của xã hội, còn ở đại bộ phận dân cư tác động của Phật
giáo còn khá lớn.
Thời kỳ này Phật giáo dung hòa 3 yếu tố: Tịnh, Thiền, Mật kết hợp cả tự độ,
tự giác và giác tha. Bên cạnh đó nhà Lê hạn chế tổ chức thi cử, một số lễ giáo, xây
dựng chùa chiền…

Nhìn chung vai trò Phật giáo thời hậu Lê đã bị giảm sút so với trước. Phật
giáo không trực tiếp tham gia vào việc triều chính như trước mà chủ yếu ảnh
hưởng trong đời sống dân chúng.
e. Phật giáo thời Nam – Bắc phân tranh
Từ năm 1528 nước ta bước sang giai đoạn lịch sử mới với nhiều biến đổi về
chính trị, kinh tế xã hội…Điều này cũng tác động không nhỏ đến đạo Phật
Mạc Đăng Dung đoạt ngôi vua Chiêu Tôn, nhà Lê mất ngôi, nhưng con cháu
nhà Lê đã lập ra triều đình riêng ở Thanh Nghệ để chống lại nhà Mạc. Lê – Mạc
tranh giành nhau suốt 60 năm, sau nhà Lê nhờ họ Trịnh dẹp được nhà Mạc nhưng
lại xảy ra hiềm khích Trịnh – Nguyễn và hai nhà Trịnh – Nguyễn đã mâu thuẫn
nhau suốt hai thế kỷ.
Tình hình chính trị xã hội rối ren, đời sống nhân dân cực khổ, cảnh đói kém
lưu tán triền miên, tác động sâu sắc đến mỗi người dân và các bậc quan lại, sư sãi.
Đạo Phật lại có điều kiện để phát triển với tư tưởng Từ bi hỷ xả, tin vào một thế
giới tốt đẹp hơn. Vì vậy mà đạo Phật thời kỳ này tác động mạnh mẽ vào dân chúng
7


hơn những giai đoạn lịch sử trước. Sự tác động ấy được tiếp biến của những tín
ngưỡng, bởi đạo đức dân gian và tạo dựng cho Phật giáo một sắc thái mới.
Thời kỳ này Phật giáo đã hình thành một số môn phái mới, các sư sãi khá
đông. Chùa chiền ở cả Nam – Bắc đều phát triển và đã xây dựng được một số chùa
lớn như: chùa Thiên Mụ....
f. Phật giáo thời kỳ khởi nghĩa nông dân (nửa cuối thế kỷ XVIII)
Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII là xã hội sôi động của những cuộc đấu
tranh, những biến động liên tục. Khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi đem lại những tư
tưởng mới cho lịch sử Việt Nam, các trí thức thời này đã tìm cách kiến giải mới về
xã hội về tôn giáo, nhưng tôn giáo thời kỳ này vẫn chưa thoát khỏi tư tưởng tam
giáo đồng nguyên.
g. Phật giáo thời Nguyễn

Triều đình Nguyễn không được dân ủng hộ, nên luôn gặp sự phản kháng của
người dân, vì vậy mà triều đình Nguyễn muốn lặp lại cơ cấu tổ chức nhà nước, đi
đôi với nó là các chính sách hà khắc, hạn chế đạo Phật, sư sãi…. Với đạo Phật,
triều Nguyễn đã phê phán cả giáo lý và hành đạo của Phật giáo. Song Phật giáo
vẫn có chỗ đứng ngay trong cung đình, trong gia đình triều thần, trong các nho sĩ
quan lại. Do vậy việc tu sửa chùa chiền thời này vẫn được diễn ra.
Phật giáo đã thấm sâu vào tư tưởng nhân dân, nó được quan hệ làng xã lưu
giữ, duy trì. Trong quan niệm của nhân dân, trong văn học…đều mang dấu ấn tư
tưởng của Phật giáo.
h. Phật giáo thời kỳ Pháp thuộc (nửa cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX)
Nhà Nguyễn ngày càng bất lực trước sự phát triển của xã hội, của sự tác động
của chủ nghĩa tư bản phương Tây. Nhu nhược trước sự xâm chiếm của thực dân
Pháp với dụng ý tách đạo với đời, đưa quần chúng xa lánh đời sống chính trị.
Sự chấn hưng của Phật giáo đã tạo bước quan trọng của quan niệm dấn thân,
gắn hoạt động tôn giáo với hoạt động chính trị xã hội, gắn ý thức dân tộc với ý
thức Phật giáo. Phật giáo đã tạo ra những phong trào lớn cho lịch sử Phật giáo và
lịch sử dân tộc thời ấy.

8


Qua các phong trào Phật giáo, đã thành lập được các tổ chức giáo hội, tuy
chưa có sự thống nhất chung của Phật giáo trong cả nước, song đã có sự quan hệ
trao đổi giữa các tổ chức giáo hội này.
Về giáo lý đã đặt ra những vấn đề lớn phức tạp mà từ trước đến nay chưa hề
có, đó là: Phật giáo vô thần hay hữu thần, hoặc nhân duyên luận là duy vật hay duy
tâm, có linh hồn hay không có linh hồn… Trong những cuộc tranh luận trên có cả
sự tham gia của trí thức cộng sản, họ đã gây được ảnh hưởng trong cuộc tranh luận
trên.
Nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chúng

ta thấy rằng Phật giáo có những biến đổi lớn đã phân hóa cả về xu hướng chính trị
xã hội, về giải thích, tiếp thu giáo lý… tình hình ấy kéo dài và phát triển về sau
này.
n. Phật giáo Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, tuy có
một bộ phận tăng ni trong giới Phật giáo có sự phân hóa, song phần đông giới chức
sắc và tín đồ Phật giáo đã tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng chung của
dân tộc.
Sau ngày miền Nam giải phóng (1975), Giáo hội Phật giáo Việt Nam được
thành lập (năm 1981) với phương châm hoạt động: “ Đạo pháp – dân tộc – chủ
nghĩa xã hội ”, các tăng, ni và Phật tử tích cực tham gia vào công cuộc cách mạng
chung của dân tộc.
Trong những năm gần đây, Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,
đồng thời chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước cũng hết sức
cởi mở và quan tâm tới vấn đề tôn giáo, Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh, thu
hút đông đảo hơn các Phật tử tham gia và đang là một hiện tượng xã hội mà nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm. Kể từ sau đổi mới Phật giáo phát triển mạnh, không chỉ
có những địa phương truyền thống, mà khắp các địa phương đều có đông đảo
người tin theo Phật một cách mạnh mẽ, chùa được tu sửa mới, đẹp hơn, các ngày tế
lễ trong chùa ngày một đông hơn, tâm niệm hướng về Phật. Phật giáo thực sự sống
lại, nhiều người trước là vô thần nay có thiện cảm với Phật. Trước đây, có thời
9


chùa chỉ là nơi lui tới, là chỗ dựa cho người già, nhưng nay cả thanh, thiếu niên,
những nhà tri thức có học vị cao cũng có tình cảm với Phật giáo, có thể nói Phật
giáo bước sang giai đoạn phát triển với những nét mới.
III. Những nội dung chủ yếu của triết lý nhà Phật
1. Thế giới quan Phật giáo
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua bốn

luận thuyết cơ bản: Thuyết Vô Thường, Thuyết Vô Ngã, Thuyết Nhân Quả và
Thuyết Nhân Duyên Khởi.
1.1. Thuyết Vô Thường
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Luật vô thường chi
phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là
thường trụ, bất biến. Với ngũ quan thô thiển của ta, ta lầm tưởng sự vật là yên tĩnh,
là bất động nhưng thật ra là nó luôn luôn ở thể động, nó chuyển biến không ngừng.
Sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức:
a) Một là Sátna (Kshan) vô thường: là một sự chuyển biến rất nhanh, trong
một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một
sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt. Phật dung danh từ Satna để chỉ một
khoảng thời gian hết sức ngắn.
b) Hai là: Nhất kỳ vô thường: Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự vô
thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi,
thường là ta không nhận ra mà kết quả là gây ra sự vô thường thứ hai. Nhất kỳ vô
thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một
trạng thái mới. Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo luật: Thành - Trụ - Hoại Không.
1.2. Thuyết vô ngã
Từ thuyết vô thường. Phật nói sang vô ngã. Vô ngã là không có cái ta. Thực
ra làm gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng,
biến chuyển từng phút, từng giờ.

10


Thuyết vô ngã làm cho người ta không còn ai tin là có một linh hồn vĩnh
cửu, tồn tại kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Sự tin có một linh hồn
dẫn dắt đến sự cúng tế linh hồn là hành động của sự mê tín. Quan niệm có một linh
hồn bất tử, một cái ta vĩnh cửu là nguồn gốc sinh ra những tình cảm, những tư
tưởng ích kỷ, những tham dục vô bờ của những kẻ dựa vào sức mạnh phi nghĩa để

làm lợi cho mình, tức là cho cái ta mà họ coi là thường còn, bất biến. Còn đối với
những người bị hà hiếp, bị bóc lột thì sự mê tín có cái ta vĩnh cửu dẫn đến tư tưởng
tiêu cực, chán đời phó mặc cho số mệnh, hy vọng làm lại cuộc đời ở kiếp sau.
Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật. Chấp
ngã chấp có cái ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối
của luân hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người. Căn cứ trên hai thuyết vô
thường và vô ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một phương thức sống, một triết lý
sống lấy vị tha làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nói một cách
khác một cuộc sống một người vì mọi người, mọi người vì một người.
1.3. Thuyết lý nhân duyên sinh
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý. Theo định lý ấy sự
vật vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự
vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã. Nhân là năng lực phát sinh, duyên
là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Như cây lúa thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sáng
mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên. Nhân duyên đó hội họp sinh ra cây lúa.
Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động. Nói nương nhau có nghĩa là
sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn nhau mà thành. Đó là nhân
duyên.
1.4. Thuyết nhân duyên quả báo hay thuyết nhân quả
Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là một trong những
thuyết cơ bản của giáo lý Phật. Phật chủ trương không bao giờ tự nhiên mà có, mà
sinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào
tạo ra sự vật. Sự vật sinh ra là có nhân nguyên nhân. Cái nguyên nhân một mình
cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được.

11


2. Nhận thức luận Phật giáo.
2.1. Bản chất, đối tượng của nhận thức luận.

Bản chất của nhận thức luận Phật giáo là quá trình khai sáng trí tuệ. Còn đối
tượng của nhận thức luận là vạn vật, là mọi hiện tượng, là cả vũ trụ. Vạn vật là vô
thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối cùng. Mọi vật đều
liên quan mật thiết đến nhau. Toàn thể dù lớn đến đâu nếu không có quan hệ với
hạt bụi thì cũng không thành lập được.
Sau khi đã tìm hiểu về sự vật, hiện tượng chúng ta sẽ tìm hiểu cái tâm trong
đạo Phật để thấy được quan niệm của đạo Phật về tâm và vật.
Thông thường người ta cho rằng đạo Phật là duy tâm vì trong kinh phật có
câu ”Nhất thiết duy tâm tạo “ . Nhưng chữ “ duy tâm “ ở đây không phải là duy
tâm trong triết học Tây Phương nên ta không thể nhận định như trên. Chữ tâm
trong đạo Phật có nghĩa là một năng lượng, nó làm bản thể cho tất cả mọi hiện
tượng tâm lý, cho mọi hiện hành. Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật. Khi ta
phân tích, chia chẻ một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuối cùng
thì phần tử ấy là bản thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũng thấy có
bản thể, vì vậy tâm cũng lại là to lớn vô biên. Những tình cảm, ý thức phát sinh
phải nương vào hiện tượng sinh lý, vật lý. Nói nương nhau để phát sinh chứ không
phải các hiện tượng sinh lý, vật lý sinh ra các hiện tượng tâm lý. Hiểu như vậy thì
thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm. Những hiện tượng sinh lý vật lý
và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành.
2.2. Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức.
Sự nhận thức phát triển theo hai con đường tư trào: Hường nội và hướng
ngoại. Phật giáo thường quan tâm đến tư trào hướng nội tức là mỗi người tự chiêm
nghiệm suy nghĩ của bản thân. Có hai phương pháp để nhận thức là :

12


Tiệm ngộ : là sự giác ngộ, nhận thức một các dần dần, có tính chất là “ trí
hữu sư”.
Đốn ngộ : là sự giác ngộ bột phát, bùng nổ có tính chất là “ trí vô sư ” .

Với hai phương pháp ấy sự nhận thức Phật giáo được chia làm hai gia đoạn:
Giai đoạn một là từ tuỳ giác đến thể nhập. Nhận thức bắt đầu từ cảm giác và
phụ thuộc vào cảm giác đưa lại. Kết quả là con người biết được cái tiếp xúc giữa
thế giới khách quan và giác quan của con người và từ sự tiếp xúc này tạo nên yếu
tố” thọ “ trong ngũ uẩn. Theo nhà Phật nói chữ thọ ở đây là sự tiếp xúc của sáu căn
với sáu trần tạo nên yếu tố thọ. Căn cứ ở đây là những khả năng nhận thức của các
giác quan. Trần là loại kích thích từ thế giới bên ngoài. Nếu kích thích tương ứng
với các căn thì con người có cảm giác. Sáu căn là : nhăn, nhỉ, tù, thiệt, thân, ý. Sáu
trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. “ Thọ”, cho chúng ta nhận biết được
những hiện tượng riêng lẻ, những cái bề ngoài, ngẫu nhiên. Trong một số trường
hợp khác gọi đó là kinh nghiệm. Từ những tri thức cảm tính kinh nghiệm nêu trên,
con người sẽ đi sâu để nhập vào bản thể của sự vật để biết được cái bên trong, bản
chất đó là tri thức định lý.
Giai đoạn hai sự nhận thức đi từ cái tâm tại đến cái tâm siêu thể. Từ kết quả
của giai đoạn trước , con người bắt được cái tâm tính của những sự vật hữu hình tái
thế và đặc biệt là cái tâm ở trong mỗi con người và nâng lên để nắm được cái tâm
siêu thoát, cái tâm trung. Để đạt được sự nhận thức đó thì có nhiều phương pháp
song hai phương pháp sau: Tam học và Tam huệ là chủ yếu.
* Tam học là giới, định, tuệ.
Giới: Gồm có nhứng phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh hoạt hàng
ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện.
Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư tưởng
suy nghĩ để làm mọi việc yên lành.

13


Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ
đến làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
* Tam huệ: là văn, tu, tư.

Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh tịnh,
sáng suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.
Tư : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ
bản lai tư tính của mình.
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ
tập gột rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp
giới tính. Các phương pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấp
pháp để đi đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không. Với nhận
thức như thế, người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽ
không còn nữa.
3. Nhân sinh quan Phật giáo.
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật
duyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vô
ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhân
sinh quan.
3.1. Tứ diệu đế: Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài
thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu
trước kia đi theo Phật. Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời
cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật.
* Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
a. Khổ đế: Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy
vì sao mà khổ, phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ. Nói như thế có
14


người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và đạo Phật
là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru
người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợ
hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức
sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.

Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô
thường chi phối nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ
đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da,
xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu
đến ấy làm cho người ta phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già
yếu,thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chúng sinh do nghiệp báo chịu cái
thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết
thì phiền não vô cùng.
Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi
như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích,
mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được
rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
6, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.

15


7,Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức
ấm. Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.
b. Tập đế: Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ.
Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta.
Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:
1. Tham lam.
2. Giận dữ.

3. Si mê.
4. Kiêu mạn.
5. Nghi ngờ.
6. Thân kiến
7. Biên kiến
8. Tà kiến
9. Kiến thử
10. Giới cấm tu

16


Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn
gốc của mọi sự khổ. Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thể
hiện trong công thức sau:
Ái dục + Vô minh



Sự khổ.

Ái dục: là tham ái, yêu thích do cảm thụ đi đến suy đắm trước những cảnh
yêu thích, vừa lòng, chán ghét cảnh trái ý. Vì say đắm với những cảnh nên rong
ruổi theo cảnh, bám lấy cảnh hình thành nên tham vọng và ước muốn.
Vô minh: là mê lầm, không sáng suốt. Đối với những hiện tượng trụ
không nhận rõ chân tướng, thực tướng của nó là sự chuyển biến không ngừng, là
vô thường mà lại lầm tưởng các hiện tượng đó là thực có, là thường còn. Vô
minh che lấp ta không nhận thấy được chân tâm mà luôn luôn chạy theo vọng
tâm, làm ta thấy có thân, có cảnh, có ta, có người của ta và thấy quý thân ta,
không quan tâm đến người sống quanh ta.

Nghiệp là những hoạt động về thân thể, về lời nói ý nên Phật gọi là thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
Kết quả của hành động ấy gọi là nghiệp báo. Không phải hoạt động nào
của ta cũng gây nghiệp báo. Những việc như : đi, đứng, nhìn, ngồi,... thì không
gây nghiệp báo.
Nghiệp có hai loại: Nghiệp thiện và nghiệp ác.
Nghiệp thiện : là những việc có lợi cho người và đem lại quả báo tốt cho mình.
Nghiệp ác: là những việc làm hại cho ngươi và đem lại quả báo xấu cho mình.
Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ. Tự con
người đã gây nên nỗi khổ cho mình. Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân

17


duyên để thấy được nguồn gốc của sự vật trong thế gian. 12 nhân duyên là sợi
dây liên tục nối tiếp con người trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
1.Vô minh

2.Hành

3. Thức

4. Danh sắc.

5. Lục nhập

6. Xác

7.Thụ


8.Ái

9. Thù

10. Hữu

11.Sinh

12. Lão tử

Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối quan hệ
nhân quả và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong phú. Các nguyên
nhân ấy quan hệ với nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái khác,
như làn sóng trên mặt biển, lớp trước là lớp nhân là duyên cho lớp sau và cứ thế
tiếp diễn. Nhưng cái hạn chế của tập đế là chưa đề cập đến nguyên nhân từ xã
hội. Đặc biệt là chưa nhắc tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội. Luận điểm
này thể hiện rõ từ trào hướng nội hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo.
c. Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.
Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết không
còn luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả. Ấy là khi diệt đế vọng niệm không còn
khởi lên, tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
18



Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một
nơi nào khác, một cõi nào khác mà thực hiện ngay trong cõi thế gian này, nhờ sự
tu hành nghiêm túc mang lại cho ta mọi trạng thái tinh thần đặc biệt: Trạng thái
an lạc, siêu thoát, tịnh diệt.
Phật dạy rằng: khi môn đệ làm cho lòng mình sạch hết tham lam, nóng giận
và si mê thì môn đệ đã đến được bến giác, tức là cảnh giới Niết Bàn. Do đó, con
người phải dày công tu dưỡng, xoá bỏ được lửa dục, lửa sân, lửa si mê để chứng
được cảnh giới Niết Bàn ngay trong cõi đời hiện tại.
d. Đạo đế:
Đạo đế là con đường, là môn pháp hướng dẫn cho chúng sinh đạt được
đến quả giải thoát, ra khỏi luân hồi sinh tử. Pháp môn tu dưỡng ra khỏi luân hồi
sinh tư rất nhiều, nhưng thường được đề cao là phương pháp 37 đạo phẩm.
Trong 37 đạo phẩm, bát chính đạo là quan trọng nhất. Nó là con đường
giúp người ta thoát khỏi phiền não, đau khổ đi tới cảnh giới Niết Bàn tự tại, an
lạc. Bát chính đạo gồm có:
1. Chính ngữ : là tu nghiệp thanh tịnh, không phát ra lời nói sai trái.
2. Chính nghiệp: hành động chân chính, mang lại lợi ích cho mọi người.
3. Chính mệnh: sống bằng nghề nghiệp chân chính.
4. Chính tịnh tiến : tiến tới trên con đường đạo, không đi vào các đường tà.
5. Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến đạo lý vô ngã, diệt trừ những
kiến chấp mê lầm, đoạt trừ những tư tưởng, hành động bất chính.

19


6. Chính định : Giữ tâm vắng lặng không một vọng niệm khởi lên để trí tuệ
xuất hiện, chứng quả tu đà hoàn.
7. Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấy
tiêu biểu là các vị Phật.

8. Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một
cách chân chính, làm chủ được dòng tư duy.
3.2. Những quan điểm về nhân sinh quan Phật giáo.
a. Con người:
Con người là sự kết hợp của ngũ uẩn( sắc, thụ, tưởng, hành, thức) gồm hai
yếu tố chính: yếu tố sinh lý( sắc) và yếu tố tinh thần ( thụ, tưởng, hành, thức).
Yếu tố tinh thần chỉ phát huy tác dụng khi nó được gắn với một thân thể.
Sắc thân chỉ tồn tại trong một thời gian rồi bị huỷ diệt.
Như vậy, con người chỉ là một giả hợp sinh lý tuân theo quy luật: sinh,
tục, dị, diệt.Con người là do nhân duyên hoà hợp, không có một đấng tối thượng
siêu nhiên tạo ra con người cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra.
Khi nhân duyên hoà hợp thì con người sinh, khi nhân duyên tan rã thì con người
chết. Song chết chưa phải là hết, linh hồn cũng không bất tử chuyển từ kiếp này
sang kiếp khác. Con người ở kiếp này sinh ra thì con người ở kiếp trước diệt,
nhưng con người ở kiếp sau không phải là con người ở kiếp trước nhưng cũng
không khác với con người ở kiếp trước. Con người không phải là một thực thể
trường tồn mà chỉ là một giả hợp của ngũ uẩn. Trong thời gian ngũ uẩn kết hợp,
các việc thiện, ác được thực hiện. Con người gây nghiệp và tạo ra một động lực
làm xuất hiện nghiệp báo ở kiếp sau.
Từ nhận thức trên, con người tu Phật lúc nào cũng phải cẩn thận trong
một ý nghĩ, lời nói việc làm.
20


b. Nhân vị trong đạo Phật.
Đạo Phật là đạo chủ trương tự do, bình đẳng, từ bi, bác ái. Ở một thời đại
cổ xưa cách chúng ta trên 25 thế kỷ Phật đã có một quan niệm hết sức tiến bộ
đối với vấn đề bình đẳng trong xã hội. Phật đã từng nói:
“ Không có đẳng cấp trong dòng máu đỏ như nhau, trong dòng nước mắt
cũng mặn như nhau. Mỗi người sinh ra không phải ai cũng mang sẵn dây chuyền

ở cổ hay dấu tica trên trán ( dấu hiệu đẳng cấp của Ấn Độ ) ”.
Và những quan niệm đó được Phật thực hiện ngay trong giáo hội của
mình. Phật thu nạp vào giáo hội của Người tất cả mọi đẳng cấp, không phân biệt
sang hèn, giàu nghèo. Những người ở tầng lớp dưới sau khi tu đắc đạo đã được
các đệ tử khác tôn trọng, cho đến các vua quan khi đến thăm hỏi cũng phải tỏ
lòng kính mến.
Không dừng lại ở sự bình đẳng giữa con người với con người mà Phật còn
đi xa hơn, nêu lên sự bình đẳng giữa các chúng sinh đều có Phật tính như nhau
và đang cùng nhau: người trước, vật sau, tiến bước trên con đường giải thoát.
Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát,
không có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục. Con người bị ràng
buộc bởi ngoại cảnh và một phần bởi nội tâm. Những sự áp bức, những day dứt
gây ra bởi dục vọng còn khắc nghiệt bằng vạn ngoại cảnh. Nhà lao, cường
quyền, tham nhũng, tàn ác còn chưa khắc nghiệt bằng cái ta ích kỷ. Từ đó, Phật
chú trọng đến giải phóng con người ra khỏi xiềng xích của dục vọng bằng
phương pháp tu hành diệt dục. Để sống tự do phật tử phải đấu tranh với bản thân
mình để diệt trừ dục vọng và đấu tranh để chống mọi sự áp bức bất công. Người
ta gọi đạo phật là đạo từ bi, người tu hành là người giàu lòng từ bi. Từ là hiền
hoà, cho vui. Bi là thương xót, cứu khổ. Từ bi là đen lại an lạc, hạnh phúc cho
người khác, cứu khổ, cứu nạn cho chúng sinh, quên đi mọi ích lợi của bản thân
21


mình. Nhưng từ bi không phải là thủ tiêu mọi sự đấu tranh, giữ thái độ tiêu cực,
thụ động trước mọi sự bất công, áp bức, tham nhũng. Có sức mạnh hung bạo thì
phải có sức mạnh của từ bi để chống lại. Sức mạnh đó thể hiện bằng sự giáo hoá
và bằng cả bạo lực, bạo lực từ bi.
Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với những con người thực tâm
tu luyện thì càng xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu lợi
ích cho mình. Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật vì mục đích cuối

cùng của đạo Phật là giải thoát con người khỏi cuộc sống đau khổ trong vô
minh.
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về
kinh tế như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận
gốc mọi đau khổ là tham lam và dục vọng.
Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể
làm thay được và mỗi người phải coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của
cuộc đời.
Như vậy, Đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và
cao quý. Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người
thấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội
hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của tập thể.
Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn
bạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã
hội của những con người ấy là xã hội của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN XÃ HỘI VIỆT NAM
I. Lịch sử hình thành và phát triển Phật giáo Việt Nam

22


Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu công
nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy
Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm
Phật giáo quan trọng.
Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất
hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm
168-189.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (Đấng giác ngộ)
được phiên âm trực tiếp thành Bụt, từ “Bụt” được dùng nhiều trong các truyện

dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi
như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này vào thế
kỷ thứ IV-V, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ Bụt bị mất đi
và được thay thế bởi từ Phật. Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành
Phật đà, Phật đồ rồi được rút gọn thành Phật.
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Vào đời nhà Lý, nhà
Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả
mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc
giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ XVIII, vua Quang
Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên
việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ XX, mặc dù ảnh hưởng mạnh của
quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô
thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hoà và Thiện
Chiếu.
Bốn giai đoạn lịch sử Phật giáo Việt Nam:
+ Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành
và phát triển rộng khắp.
+ Thời Đại Việt là giai đoạn cực thịnh.
+ Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ XIX là giai đoạn suy thoái.
+ Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn phục hưng.
23


Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam là Thiền tông, Tịnh
Độ tông và Mật tông. Thiền tông (còn được biết là Zen) là một tông phái Phật
giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc
vào đầu thế kỷ thứ VI. Thiền là cách gọi tắt của Thiền na (Dhyana), có nghĩa là
"Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân
lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền tông, "thiền" không phải là "suy nghĩ" vì
suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của sinh tử luân hồi.

Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian
cộng với phải có khả năng đốn ngộ. Yêu cầu đó chỉ có những kẻ căn cơ cao mới
có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật rất là hiếm
hoi. Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ ràng hơn
cả.
Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni
Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra. Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến
Việt Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện
Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền. Dòng thiền
này truyền được đến 19 thế hệ. Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người
Trung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, Hà Nội. Dòng thiền này truyền được đến 17 đời. Dòng thiền thứ ba do
Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được
vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tại chùa Khai
Quốc vào năm 1069. Dòng thiền này truyền được đến 6 đời. Năm 1299, vua
Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, xuất
gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Đông Triều, Quảng Ninh, thống nhất
các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm. Sau này, một số
thiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời Trịnh - Nguyễn, phái
Liên Tôn vào thế kỷ XVI - XIX (có trụ sở tại chùa Bà Đá và chùa Liên Phái, Hà
Nội), phái Liễu Quán (Liễu Quán là tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế
kỷ XVIII (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau
24


này phát triển ở miền Nam). Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm" "Phật ở tại
tâm", tâm là Niết Bàn, hay Phật. Vua Trần Nhân Tông viết: "Nơi mình có ngọc
tìm đâu nữa, trước cảnh vô tâm ấy đạo thiền".
Tịnh Độ tông là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực của
Phật A Di Đà. Tha lực này rất quan trọng đối với căn cơ con người thời nay. Phật

Thích Ca Mâu Ni có lần thuyết giảng: "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống
nước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nó
cũng nổi". Trong Tịnh Độ tông, có tồn tại một cõi Phật cụ thể, gọi là Thế giới cực lạc
do Đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) làm giáo chủ. Việc tu hành được mở
rộng ra những hành động đơn giản như đi thăm chùa, tụng danh Phật A Di Đà. Nhờ
cách như vậy mà Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam. Đi đến đâu
ta cũng gặp người dân tụng niệm câu "Nam mô A Di Đà Phật" (có nghĩa là nguyện
quy theo đức Phật A Di Đà). Tượng Phật A Di Đà là tượng có mặt ở khắp mọi nơi và
có mặt từ rất lâu đời.
Mật tông là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép tu
tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ, Mật tông cũng còn gọi là Lạt
Ma tong. Mật tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu bộ
(Sarvastivada) và nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa. Khi vào Việt Nam,
Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa lẫn
vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật,
yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,...
II. Ảnh hưởng Phật giáo đến xã hội Việt Nam
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ I sau công nguyên kết hợp với
phong tục, tập quán truyền thống dân tộc Việt Nam hình thành nên Phật giáo
Việt Nam. Trải qua một khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam không
ngừng phát triển, lớn mạnh và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hình
thành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hoá Việt Nam. Những
ảnh hưởng tích cực của Phật giáo vẫn đang được con người Việt Nam phát huy
25


×