Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5 (tt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (466.99 KB, 24 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu nói chung, các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt tài sản (sau đây chúng tôi gọi là các tội chiếm đoạt
tài sản) nói riêng là một trong những nhóm tội được quy định sớm
nhất trong pháp luật hình sự nước ta. Bộ luật hình sự 1985 (với 4 lần
sửa đổi) và Bộ luật hình sự hiện hành năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 đã quy định tương đối đầy đủ cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc
xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, do thiếu thống nhất
về lý luận, nên trong hoạt động lập pháp hình sự, trong thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử về định tội danh, áp dụng hình phạt còn gặp nhiều
bất cập, vướng mắc cần được nghiên cứu, giải quyết.
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế
thị trường mang lại như sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội gia
tăng là cơ sở phát sinh các loại tội trong đó có tội trộm cắp tài sản, tội
cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… những loại tội này xảy ra khá
phổ biến và phức tạp, với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, đã
gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù, Đảng và Nhà
nước ta đã có những bước tiến mới trong công cuộc phòng, chống tội
phạm, nhưng tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
vẫn có chiều hướng gia tăng về mức độ và nghiêm trọng về tính chất.
Quân khu 5 quản lý địa bàn 11 tỉnh, thành phố, gồm: Thành
phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon
1


Tum. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cơ quan pháp luật trong Quân đội cũng diễn biến phức


tạp so với tình hình chung của cả nước. Việc ADPL trong hoạt động
xét xử các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân
sự 2 cấp Quân khu 5, mặc dù đã đem lại kết quả nhất định nhưng vẫn
còn một số hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu làm rõ những
dấu hiệu cấu thành tội phạm cũng như chế tài của các tội xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, đánh giá
thực tiễn xét xử, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu
quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự để xử lý loại tội
phạm này. Vì lý do đó, tác giả chọn Đề tài: “Các tội xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
Quân khu 5” làm Luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Gần đây, trên các báo, tạp chí, công trình nghiên cứu khoa học,
luận văn của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này như: Luận văn thạc
sĩ của Phạm Quốc Thuần,Trường Đại học luật TP.HCM, 2008; “Các
tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung
năm 2009” của Mai Bộ, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010; “Các
tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản theo luật hình
sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Phượng, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015…những bài viết, công trình nghiên
cứu, luận văn tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến
nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách đầy đủ, có hệ
thống về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ góc nhìn thực tiễn ở Quân khu 5.

2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn ADPL hình sự về
các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo BLHS Việt Nam
năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 của Tòa án quân sự 2 cấp
Quân khu 5, đưa ra các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng đắn BLHS
về loại tội phạm này ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đề ra các nhiệm vụ
cụ thể cần giải quyết như sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận; phân tích làm sáng tỏ
những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt quy định tại Chương XIV, BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa
đổi bổ sung năm 2009.
- Khái quát quá trình lập pháp hình sự về các tội xâm phạm
sở hữu giai đoạn từ năm 1945 đến BLHS năm 2015.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5.
- Đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy
định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở
nước ta.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận,
quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đọat
và thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 về các tội
phạm này.
3



4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về
định tội danh, quyết định hình phạt đối với các xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam trên địa bàn
Quân khu 5 trong thời gian 5 năm (2012 – 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề tội phạm nói chung và đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng một cách linh
hoạt và đan xen các phương pháp nghiên cứu của khoa học Luật hình
sự như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
thống kê, phương pháp so sánh và khảo sát thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã đánh giá khái quát quá trình hình thành và hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt qua các giai đoạn phát triển của đất nước, làm
sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt theo quy định tại Chương XIV BLHS Việt Nam
năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 (nay được quy định tại
Chương XVI Bộ luật hình sự năm 2015).
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá hoạt động ADPL hình sự để xử lý các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu
4



5, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL hình sự để xử
lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, góp phần vào công
tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Quân khu
5 nói riêng và các địa phương khác nói chung trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham
khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, Luận
văn có kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý chung của các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng ở các Tòa án quân sự Quân
khu 5.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp bảo đảm áp
dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt.

5


CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CHUNG CỦA CÁC
TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những
tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội

phạm của những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt. Hành vi chiếm đoạt
được thực hiện bằng các thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực, lén lút,
công khai, gian dối…
Theo chúng tôi “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
là những hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác được quy định
trong Bộ luật hình sự do người không ở trong tình trạng không có
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định được thực hiện
một cách cố ý xâm hại quyền sở hữu tài sản được ghi nhận và bảo
vệ”.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
1.2.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể chung của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt là quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội có nội dung
là quyền sở hữu của chủ tài sản (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt) đối với tài sản.
Bên cạnh quan hệ sở hữu là khách thể bắt buộc của tất cả các
tội xâm phạm sở hữu, các tội chiếm đoạt tài sản còn xâm phạm đến
các khách thể khác, nhất là xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của người
6


khác, trật tự an toàn xã hội…; các khách thể đó có thể là khách thể
chính, có thể là khách thể phụ.
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt là tài sản.
Tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt phải thuộc sở hữu của người khác, luôn phải là tài
sản có chủ, không phải của người có hành vi chiếm đoạt.
1.2.2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt thể hiện các yếu tố bên ngoài của tội phạm, bao gồm các dấu
hiệu: 1/ Hành vi khách quan của tội phạm; 2/ hậu quả tội phạm và 3/
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó.
Dựa trên tính chất hành vi khách quan của tội phạm, có thể
chia các tội xâm phạm sở hữu thành ba nhóm là: 1/ Các tội có tính
chiếm đoạt; 2/ các tội có mục đích tư lợi không chiếm đoạt và 3/ các
tội gây thiệt hại đến tài sản.
Nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm các
tội được quy định từ Điều 133 đến 140 Bộ luật hình sự. Mỗi tội
chiếm đoạt tài sản được đặc trưng bởi một thủ đoạn riêng biệt. Cụ thể
là:
- Thủ đoạn của tội cướp tài sản là dùng vũ lực, đe doạ dùng
ngay tức khắc vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công
lâm vào tình trạng không thể chống cự được;
- Thủ đoạn của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt
người khác làm con tin;
- Thủ đoạn của tội cưỡng đoạt tài sản là đe doạ sẽ dùng vũ
lực hoặt thủ đoạn khác gây áp lực về tâm lý;

7


- Thủ đoạn của tội cướp giật tài sản là tiếp cận, chiếm giữ tài
sản đang có sự quản lý trực tiếp của người khác và nhanh chóng tẩu
thoát;
- Thủ đoạn của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng
sự quản lý tài sản của người khác đang gặp sự trở ngại khách quan để
chiếm đoạt tài sản;
- Thủ đoạn của tội trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt tài

sản;
- Thủ đoạn của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ
đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản;
- Thủ đoạn của tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản là
gian dối, bỏ trốn hoặc cố tình không trả lại tài sản.
Như vậy, hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc của tất cả
các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Các hành vi đó tuy có
khác nhau ở hình thức thể hiện nhưng đều gây thiệt hại cho quan hệ
sở hữu bằng cách xâm phạm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền
định đoạt của chủ tài sản.
1.2.3. Chủ thể của tội phạm
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm phải thỏa
mãn hai điều kiện: 1/ không ở trong tình trạng không có năng lực
TNHS khi thực hiện tội phạm và 2/ đạt độ tuổi theo quy định tại Điều
12 BLHS. Ở Việt Nam, pháp luật hình sự quy định tuổi 14 là tuổi bắt
đầu có năng lực TNHS và tuổi 16 là tuổi có năng lực TNHS đầy đủ.
Điều 12 BLHS 1999 quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý
và tội đặc biệt nghiêm trọng; người từ đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Vì vậy, theo BLHS 1999, người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của các tội cướp tài sản (Điều
8


133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 134),
tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 135), tội cướp giật tài sản
(khoản 2, 3, 4 Điều 136), tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (khoản 3,
4 Điều 137), tội trộm cắp tài sản (khoản 3, 4 Điều 138), tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản (khoản 3, 4 Điều 139) và tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản (khoản 3, 4 Điều 140). Còn người từ đủ 16 tuổi thì

phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệm
hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo quy định của
Điều 12 (được sửa đổi, bổ sung 2017), người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội cướp tài sản
(Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều
169), tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 170), tội cướp giật tài
sản (khoản 2, 3, 4 Điều 171), tội trộm cắp tài sản (khoản 3, 4 Điều
173).
1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là
thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội
hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó.
Mặt chủ quan của mọi tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục
đích. Tuy nhiên yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi tội phạm,
còn động cơ, mục đích chỉ là yếu tố bắt buộc đối với một số tội
phạm.
Lỗi bao gồm hai yếu tố cấu thành, đó là: Lý trí (thể hiện khả
năng nhận thức của chủ thể) và ý chí (thể hiện khả năng điều khiển
hành vi của chủ thể), căn cứ vào hai yếu tố đó người ta chia lỗi thành
hai loại, đó là: Lỗi cố ý (Cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (Vô
9


ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả).
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định từ
Điều 133 đến Điều 140 Bộ luật hình sự được thực hiện với lỗi cố ý.
1.3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các
tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt

1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến
trước khi ban hành BLHS năm 1985
1.3.2 Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo Bộ
luật hình sự 1985
1.3.3. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản
theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
1.3.4. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tài sản
theo BLHS được sửa đổi, bổ sung năm 2009

10


CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ
TÍNH CHIẾM ĐOẠT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở
CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ QUÂN KHU 5
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
2.1.1 Quy định về tội phạm
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV Bộ
luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (sau đây
viết tắt là BLHS), gồm 13 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều
145. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm 8 tội từ Điều
133 đến Điều 140 BLHS.
- Về khách thể của tội phạm: Các tội từ Điều 133 đến Điều 136
BLHS có khách thể là quan hệ sở hữu và quyền nhân thân; đối với
các tội từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS có khách thể chỉ là quan hệ
sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có đối tượng
tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác (không phải là của

người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của
chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
- Về hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi phạm tội được thực hiện chủ yếu bằng hành động; chỉ có tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng không
hành động . Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có
hành vi khách quan khác nhau. Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội
11


cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản
(đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe doạ sẽ dùng
vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng
đoạt tài sản); hành vi chiếm đoạt (đối với các tội cướp giật tài sản,
công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt
tài sản). Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi và điều
kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau. Cụ thể, đối với tội Cướp giật
tài sản, dấu hiệu công khai là thuộc tính của hành vi chiếm đoạt và
dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn của người phạm tội; đối với
tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, đó là dấu hiệu công nhiên (tính
công khai của hành vi chiếm đoạt) và hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên
mà hành vi chiếm đoạt được thực hiện (chủ tài sản không có điều
kiện ngăn cản cho dù người phạm tội không hề sử dụng thủ đoạn
nào); đối với Trộm cắp tài sản, đó là thủ đoạn lén lút của người phạm
tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; đối với Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, đó là thủ đoạn gian dối được thực hiện trước khi hành vi chiếm
đoạt được thực hiện.
Thủ đoạn phạm tội là cách thức (lén lút, công khai, dùng vũ

lực, dùng thủ đoạn gian dối) thực hiện hành vi phạm tội. Đối với các
tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, thủ đoạn phạm tội có ý
nghĩa rất quan trọng, bởi vì nó là yếu tố quyết định để phân biệt các
tội CĐTS với nhau.
- Về dấu hiệu lỗi, mục đích thuộc mặt chủ quan của tội phạm:
Tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt đều được
thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chỉ biểu hiện
dưới 02 dấu hiệu nhất định hoặc là hành vi chiếm đoạt hoặc là mục
đích chiếm đoạt. Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
12


thành tội phạm của các tội được quy định tại các Điều 133, 134, 135
và 140 BLHS. Còn mục đích tư lợi là yếu tố bắt buộc của tất cả các
tội chiếm đoạt tài sản.
2.1.2. Quy định về chế tài
Hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt là khác nhau trên cơ sở tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội.
Hình phạt tử hình chỉ được quy định đối với tội cướp tài sản. Hình
phạt tù chung thân được quy định ở 7 tội là tội cướp tài sản, tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm
cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hình phạt tù được quy
định ở tất cả các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với mức
phạt tù thấp nhất là 3 tháng, mức cao nhất là 20 năm. Hình phạt cải
tạo không giam giữ được quy định đối với 3 tội, là các tội được quy
định từ Điều 138 đến Điều 140 BLHS. Ngoài hình phạt chính, hình
phạt bổ sung là hình phạt tiền được quy định ở các tất cả các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.

2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt
2.2.1. Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án của Tòa án quân
sự Quân khu 5
Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự
Quân khu 5 đã thụ lý 190 vụ với 353 bị can và đã xét xử 185 vụ với
344 bị cáo. Việc giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án quân sự
Quân khu 5 đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tỷ lệ án bị kháng cáo,
kháng nghị thấp trong tổng số vụ án hình sự đã đưa ra xét xử sơ
thẩm. Trong tổng số vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm không có
bản án nào bị hủy, 11 bản án bị cải sửa, còn lại là y án sơ thẩm. Hình
13


phạt Tòa án quân sự Quân khu 5 tuyên phạt đối với các bị cáo là phù
hợp, đáp ứng được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng,
đảm bảo công bằng trong hoạt động xét xử của Tòa án.
2.2.2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt của Tòa án quân sự Quân khu 5
Từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự Quân khu 5 đã
thụ lý và xét xử 29 vụ phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
với 51 bị cáo (cả sơ thẩm và phúc thẩm), chiếm tỷ lệ 15,68 % trong
tổng số các vụ án mà Tòa án quân sự Quân khu 5 thụ lý, xét xử. Số
vụ án các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được Tòa án quân
sự Quân khu 5 đưa ra xét xử sơ thẩm đạt tỉ lệ tuyệt đối. Tòa án đã
đưa các vụ án ra xét xử kịp thời, không để tồn đọng án, đáp ứng yêu
cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật. Thực tiễn ở Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy
hàng năm, tuy có số lượng các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt nhất định phải xét xử phúc thẩm, nhưng hầu như các vụ án đều

được giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm, số vụ án bị hủy
không có, số lượng vụ án bị sửa không phải vì lí do chủ quan của
thẩm phán mà do có tình tiết khách quan mới.
2.2.2.1. Thực tiễn về định tội danh các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự
và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời
làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm
quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp
phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo
vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
14


Các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt do Tòa án
quân sự Quân khu 5 giải quyết đã thực hiện cơ bản đúng theo quy
định của pháp luật, mang lại hiệu quả nhất định trong công tác giải
quyết án và rộng hơn là công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả nêu
ra các hạn chế thiếu sót, bất cập, vướng mắc từ thực tiễn của Tòa án
quân sự Quân khu 5, đó là:
- Xác định không đầy đủ các dấu hiệu CTTP; không phân biệt
được các dấu hiệu khác nhau giữa tội phạm này và tội phạm khác;
nhầm lẫn giữa tình tiết định tội với các tình tiết khác không phải là
tình tiết định tội.
- Không nắm rõ quá trình CĐTS trong từng tội danh có sự
khác nhau nên dẫn đến sai sót khi định tội danh.
- Khi định tội danh cơ quan tố tụng cũng có sự nhầm lẫn trong
việc xác định mục đích CĐTS.

- Không chứng minh được mục đích và hành vi chiếm đoạt
trong dấu hiệu chiếm đoạt của các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt nên cơ quan tố tụng đã hình sự hóa các quan hệ dân sự
dẫn đến truy cứu TNHS sai đối với người vi phạm.
- Trưng cầu giám định chưa theo đúng quy định tại các văn bản
pháp luật nên dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
2.2.2.2. Thực tiễn áp dụng hình phạt
Thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự Quân khu 5, các cơ quan
tiến hành tố tụng đã áp dụng khá đầy đủ các quy định của BLHS,
BLTTHS và các văn bản hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ áp dụng
hình phạt một cách hiệu quả. Trên cơ sở xem xét, căn cứ tính chất,
mức độ nguy hiểm và hành vi phạm tội cụ thể mà quyết định khung
hình phạt tương ứng; hoạt động quyết định hình phạt sau khi định tội
15


danh các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được thực hiện cơ
bản là đúng quy định của pháp luật, mang lại hiệu quả cao trong công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đặc biệt là đạt được mục đích
của hình phạt. Tuy nhiên, việc quyết định hình phạt cũng còn một số
hạn chế, thiếu sót nhất định cụ thể như: không đồng nhất quan điểm
giữa các thẩm phán, giữa hội thẩm và thẩm phán; có trường hợp chưa
vận dụng triệt để văn bản hướng dẫn; v.v... Tỷ lệ các vụ án sau khi
xét xử phúc thẩm có sửa về phần hình phạt cũng có xảy ra. Có một số
trường hợp kết quả xét xử phúc thẩm sửa phần hình phạt về biện
pháp chấp hành hình phạt, như chuyển từ giam qua cho hưởng án
treo.
Thực tiễn ở ngành Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy việc áp
dụng hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt là không nhiều. Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ

sung thì ở Tòa án quân sự Quân khu 5 áp dụng ít. Hình phạt bổ sung
phạt quản chế, cấm cư trú hầu như không có. Số lượng các vụ án áp
dụng hình phạt bổ sung phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số án về các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt.
2.3. Những hạn chế vướng mắc trong áp dụng các quy định
của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt và nguyên nhân
2.3.1. Những hạn chế vướng mắc
Qua nghiên cứu tác giả nhận thấy có những hạn chế về quy
định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, có 3 tội phạm tại các Điều 136, 137, 138 xâm phạm
sở hữu có tính chiếm đoạt chỉ nêu tội danh, không mô tả hành vi
thuộc mặt khách quan của tội phạm nên đã dẫn đến nhiều trường hợp
16


hiểu và thực hiện không thống nhất, có nhiều trường hợp có sự nhầm
lẫn trong việc định tội danh.
Thứ hai, hành vi thuộc mặt khách quan của một số tội phạm
chưa được phân biệt rõ ràng, gây nhầm lẫn, khó phân biệt trong việc
định tội, giải quyết vụ án.
Thứ ba, đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có
một số trường hợp đã hình sự hóa quan hệ dân sự.
Thứ tư, trong một số điều luật của các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt có quy định về tình tiết định tội “đã bị xử phạt hành
chính hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm", còn tồn tại một số vướng
mắc: Một hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý 2 lần (vừa bị xử lý hành
chính, vừa bị cộng dồn để xử lý hình sự).
Thứ năm, đối với một số tội danh có quy định về định lượng tài

sản để truy cứu trách nhiệm hình sự như: Tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản; tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản … Việc
quy ra tiền để xác định định lượng truy cứu TNHH sự chưa thật sự
hợp lý.
Thứ sáu, quy định "dùng thủ đoạn nguy hiểm" tại điểm d khoản
2 Điều 136 BLHS, cứ đối tượng sử dụng mô tô, xe máy để phạm tội
thì đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng này, như vậy có thật sự hợp lý.
Thứ bảy, các Toà án rất hạn chế áp dụng hình phạt bổ sung phạt
tiền, phạt quản chế, cấm cư trú, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản đối với người phạm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế vướng mắc
2.3.2.1. Nguyên nhân về pháp luật và hướng dẫn áp dụng pháp
luật
- Hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với các tội xâm phạm sở
hữu có tính chiếm đoạt chưa được kịp thời.
17


2.3.2.2. Nguyên nhân do trình độ, năng lực của người áp dụng
pháp luật
- Nhầm lẫn trong việc xác định các tình tiết định khung, tình
tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS.
- Có Thẩm phán chưa vững vàng về bản lĩnh, nghề nghiệp.
thiếu sự thận trọng cần thiết, dẫn đến bỏ sót một số tình tiết quan
trọng ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
- Hội thẩm quân nhân làm việc kiêm nhiệm, đa số hạn chế về
kiến thức pháp lý.
2.3.2.3. Các nguyên nhân khác

18



CHƯƠNG 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
3.1. Các quan điểm yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt ở Tòa án quân sự Quân khu 5
- Quán triệt chính sách hình sự hướng thiện trong cải cách tư
pháp, coi trọng tính phòng ngừa, giảm hình phạt tù, tăng cường hình
phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ;
- Cụ thể hoá tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền con người
của Hiến pháp năm 2013; quyền con người, quyền công dân chỉ có
thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
- Đảm bảo tính cụ thể, minh bạch, khả thi trong kỹ thuật lập
pháp; QPPL ban hành phải bảo đảm thuận tiện, dễ áp dụng và có tính
thống nhất trong ADPL;
- Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, xem giải pháp về pháp luật là
một trong những giải pháp trọng yếu để nâng cao chất lượng xét xử
các vụ án hình sự về tội này.
- Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét
xử và giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
3.2. Khái quát các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt theo BLHS năm 2015
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm sở hữu có tính
19



chiếm đoạt được quy định tại Chương XVI gồm 8 tội danh từ Điều
168 đến Điều 175, được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với
tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời kỳ mới.
3.3. Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
3.3.1.1. Hoàn thiện cấu thành các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
Thực tiễn áp dụng BLHS thời gian qua cho thấy còn những
bất cập vướng mắc trong quá trình định tội danh cũng như quyết định
hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Vì
vậy, cần hoàn thiện cấu thành ở một số vấn đề.
Thứ nhất, cần quy định cấu thành cơ bản của các tội cướp tài
sản, cưỡng đoạt tài sản như sau:
Điều 133. Tội cướp tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng vũ lực,
đe dọa sử dụng vũ lực nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người
khác hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình
trạng không thể chống cự được, thì.....”
Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản bằng cách sử dụng vũ lực,
đe dọa sử dụng vũ lực không thuộc các trường hợp quy định tại
khoản 1 điều 133 của Bộ luật này hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh
thần người khác, thì …”
Thứ hai, sửa đổi Điều 136 BLHS theo hướng như sau:
“Điều 136. Tội cướp giật tài sản


20


1. Người nào chiếm đoạt tài sản của người khác một cách
công khai, nhanh chóng tẩu thoát thì…..”
Thứ ba, cần sửa đổi Điều 138 BLHS theo hướng :
“Điều 138. Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác,
thì….”
Thứ tư, sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng của Điểm đ
Khoản 2 Điều 138 BLHS “tội trộm cắp tài sản” quy định tình tiết
định khung tăng nặng “hành hung tẩu thoát”. Hành vi này được xem
là bản năng của con người, không nên xem là tình tiết tăng nặng
TNHS áp dụng đối với tội trên.
Đối với các tội CĐTS có quy định tình tiết định khung tăng
nặng phạm tội “đối với nhiều người ”, BLHS cần sửa đổi theo hướng
cụ thể hơn.
Mở rộng quy định của tội lừa đảo CĐTS tại Điều 139 BLHS.
Theo đó, tội phạm này sẽ bao gồm cả một số hành vi CĐTS quy định
trong tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS tại Điều 140 BLHS. Sau khi điều
chỉnh như vậy, có thể bỏ tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS cho phù hợp
với bản chất thực tế của hành vi này do chỉ còn là các quan hệ dân sự,
thương mại vay, mượn tài sản… Việc xử lý giải quyết các vụ việc lúc
đó được thực hiện thông qua quy định của pháp luật tố tụng dân sự
3.3.1.2 Hoàn thiện chế tài
- Cần quy định hình phạt tiền áp dụng là hình phạt chính
trong chế tài khung cơ bản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt sau: Tội cướp giật tài sản; tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản; tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo CĐTS; tội lạm dụng tín nhiệm
CĐTS.

- Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với tư cách là
21


chế tài lựa chọn với hình phạt tù trong một số tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt như trộm cắp tài sản, công nhiên CĐTS.
- Quy định cụ thể về xác định thời điểm chấp hành hình phạt
cải tạo không giam giữ, tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành
niên trong trường hợp có hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa
trong một số điều luật có khoảng cách hình phạt tù quá rộng tạo điều
kiện cho các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng được dễ dàng, chính
xác.
3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
3.3.2.1. Nâng cao nhận thức về các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
Phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể làm tốt công
tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thường xuyên xét xử
lưu động các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt để nâng cao nhận thực pháp luật cho toàn xã hội.
3.3.2.2. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật, xây dựng
án lệ
Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành BLHS,
BLTTHS nói chung và các điều luật về các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt nói riêng. Qua thực tiễn hoạt động xét xử, TANDTC
xây dựng án lệ làm cơ sở cho Tòa án các cấp áp dụng khi xét xử.
3.3.2.3. Nâng cao năng lực, phẩm chất Điều tra viên, Kiểm
sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm
Gồm các giải pháp về nâng cao trình độ năng lực chuyên

môn của những người THTT; Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức
nghề nghiệp của những người THTT; Nâng cao chế độ trách nhiệm,
22


chế độ chính sách và dành sự quan tâm hơn cho những người làm
nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.
3.3.2.4. Các giải pháp khác
Trong phạm vi của Luận văn, tác giả trình bày những kiến
nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án
hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
nói riêng.

23


KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn của Tòa án quân sự
Quân khu 5, đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, khái
quát lịch sử lập pháp về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Luận văn đã đi sâu phân tích mặt lý luận cũng như thực tiễn
hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn của Tòa án quân sự
Quân khu 5. Qua đó thấy rằng các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt theo pháp luật hình sự nước ta khi đưa vào áp dụng trong
thực tiễn còn khá nhiều vướng mắc, bất cập. Từ đó, Luận văn đưa ra
một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử
các vụ án hình sự nói chung, các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
đoạt nói riêng.


24



×