Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1008.43 KB, 92 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRUNG HIẾU

KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC
TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRUNG HIẾU

KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC
TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành

: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số


: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN

Hà Nội, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi" là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Văn Hiển. Tôi
xin cam đoan kết quả nghiên cứu và số liệu trong Luận văn là hoàn toàn trung
thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các thông tin và
tài liệu trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Trung Hiếu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN ................................................................................ 7
1.1. Các vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
của Viện kiểm sát nhân dân .............................................................................. 7
1.2. Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội

phạm ................................................................................................................ 27
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN
BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................................................... 40
2.1. Khái quát về các yếu tố tác động đến công tác kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm. ................................................................................. 40
2.2. Thực tiễn thi hành công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ....................................... 44
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM
SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TỈNH QUẢNG NGÃI ................................................... 63
3.1. Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới .... 63
3.2. Các giải pháp tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ...................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT


: Cơ quan điều tra

ĐTV

: Điều tra viên

KSV

: Kiểm sát viên

TTHS

: Tố tụng hình sự

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKS

: Viện kiểm sát


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan thuộc hệ thống tư
pháp Việt Nam có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ghi nhận tại
Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân

dân năm 2014, có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm
tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm
minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội,
không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bị khởi tố, bị
bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.
Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân
kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng hình sự nói
riêng, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm
sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật. Thực
tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo, tố
giác về tội phạm sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra, kiểm sát xét xử để có thể khẳng định có hay không có hành vi phạm
tội xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và hậu quả
do hành vi phạm tội đó gây ra như thế nào.

1


Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức
năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, công tác kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm của VKSND tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được những
kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên trước sự thay đổi của các điều kiện kinh tế
xã hội, đặc biệt trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình

hình mới nên các quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế dẫn đến hiệu quả giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm chưa cao, tình hình tội phạm ẩn còn nhiều,
tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Từ những lý do nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài "Kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, xác định được tầm quan trọng của hoạt
động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là một
trong những cơ sở để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm làm căn cứ
để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án
hình sự. Do đó hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
của Viện kiểm sát nhân dân được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
đặc biệt là các cán bộ làm công tác chuyên môn nhưng chủ yếu vẫn chỉ dừng
lại ở những bài báo khoa học như:
Hà Thái (2010), Một số vấn đề rút ra từ công tác kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra
trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tạp chí chuyên ngành; Nguyễn Duy Hồng
(2009), Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp
chí chuyên ngành; Nguyễn Tiến Sơn (2009), Một số vướng mắc, bất cập và

2


giải pháp nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận, kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố hiện nay, Tạp chí kiểm sát, số
12; Nông Xuân Trường (2014), Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, thực trạng và một số giải pháp, Trang

thông tin điện tử VKSND tối cao, Hà Nội; Lưu Trọng Nguyên (2009), Một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát, số
12; Vũ Việt Hùng (2009), Quy định của pháp luật về kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố - Thực trạng và một số đề
xuất kiến nghị, Tạp chí kiểm sát, số 12; ThS. Lê Ra (2012), Cần thống nhất
nhận thức về các khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
các nguồn thông tin về tội phạm, Tạp chí kiểm sát, số 20;...
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về tin báo, tố giác về tội
phạm, công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
dưới các góc độ Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Dương Tiến Mạnh với
đề tài “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong luật tố tụng
hình sự Việt Nam (Hà Nội – 2015)”; Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả
Trương Văn Chung với đề tài “Tin báo, tố giác về tội phạm theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Tiền Giang (Hà Nội- 2015)”; Luận
văn thạc sĩ Luật học của tác giả Phạm Anh Đức với đề tài “Nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến
nghị khởi tố (Hà Nội 2016)”…
Như vậy, việc nghiên cứu vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm không phải mới nhưng chưa có một công trình khoa
học dưới góc độ pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam nào nghiên cứu có tính
chất hệ thống, toàn diện, sâu sắc cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn những
kết quả đã đạt được và những vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác

3


tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.

Với tình hình nghiên cứu trên, một lần nữa cho phép khẳng định việc
nghiên cứu đề tài "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm theo
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi" là đòi hỏi
khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 . Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của
pháp luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân về chức năng
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát và
khảo sát thực trạng thực hiện chức năng này của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, luận văn đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thực tiễn.
3.2 . Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những vấn đề cần
giải quyết sau:
- Luận văn nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và các
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về hoạt động kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
- Khái quát sự phát triển của chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm của VKSND từ năm 1960 đến nay để rút ra những nhận
xét, đánh giá.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm, quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động tư
pháp trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trên cơ sở đó đánh giá

4


thực tiễn việc thực hiện chức năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, phân tích làm rõ

những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ
bản của tồn tại, hạn chế đó.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho VKSND tỉnh Quảng Ngãi.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Cùng với việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản và
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan xung quanh chức
năng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kết hợp với việc
nghiên cứu đánh giá thực tiễn việc thực hiện công tác trên của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để
kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu
quả thực hiện trong thực tiễn. Luận văn không nghiên cứu quy định pháp luật
nước ngoài về vấn đề này.
Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã được ban hành, nhưng theo Nghị quyết
số 144/2015/QH13 về việc lùi hiệu lực thi hành của BLTTHS số
101/2015/QH13 từ ngày 01/7/2016 đến ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 có hiệu lực thi hành, luận văn
này ngoài việc phân tích các quy định của BLTTHS năm 2003 về chức năng
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát thì tác
giả còn đối chiếu với BLTTHS năm 2015, chỉ ra những điểm mới đã được
khắc phục và đề xuất tiếp tục hoàn thiện.
Về phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện
công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong 05 năm
(2012 – 2016) trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5


4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta đối với chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp phổ biến hiện nay trong nghiên cứu khoa học như: phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn
dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê. Các phương pháp này hỗ
trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để làm rõ những vấn đề thuộc đối
tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
5. Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về hoạt động kiểm sát
việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
Qua nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc giải quyết tin báo tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất các định
hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện công
tác kiểm sát này.
Luận văn được sử dụng là nguồn tài liệu nghiên cứu, tham khảo phục
vụ công tác kiểm sát ở tỉnh Quảng Ngãi.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân;
Chương 2: Thực trạng kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi;
Chương 3: Các giải pháp tăng cường công tác kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

6



CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT
VIỆC GIẢI QUYẾT TIN BÁO, TỐ GIÁC VỀ TỘI PHẠM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. Các vấn đề lý luận về kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm và kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1.1. Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm
Tin báo, tố giác về tội phạm là nguồn thông tin quan trọng góp phần giúp
các cơ quan tố tụng có cơ sở, căn cứ để tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra
các vụ án hình sự. Quy định của pháp luật về tin báo, tố giác về tội phạm góp
phần tăng cường trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đối
với việc đấu tranh phòng, chống tội phạm đồng thời góp phần tạo sự rõ ràng
và minh bạch cho các chủ thể này có thể tố cáo hành vi phạm tội hoặc thông
tin về hành vi phạm tội của người khác đến cơ quan có thẩm quyền. Do vậy,
việc đưa ra một khái niệm chính xác về tố tin báo, tố giác về tội phạm sẽ giúp
các cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn khi thực thi nhiệm vụ.
Để nắm rõ ràng, chính xác khái niệm về tin báo, tố giác về tội phạm
cần phải phân biệt được các khái niệm: tố cáo, tố giác về tội phạm, tin báo về
tội phạm vì những khái niệm này có những điểm tương đồng nhất định, có
thể gây nhầm lẫn trong quá trình tiếp cận và thực hiện.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ: Tố cáo, tố giác, tin báo được
hiểu là:
Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “tố cáo” được hiểu theo hai nghĩa.

7



Nghĩa thứ nhất: Tố cáo là báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền
biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó. Nghĩa thứ hai: tố cáo là vạch
trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn
chặn [31].
Khái niệm “tố giác” được hiểu là: báo cho cơ quan chính quyền biết
người hoặc hành động phạm pháp nào đó [31].
“Tin” có khái niệm và phạm vi rất rộng. Trong lý luận của các ngành
khoa học khác nhau như: Triết học, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội… có
nhiều quan điểm khác nhau về tin. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật
biện chứng thì tin là nội dung của sự phản ánh, là thuộc tính bản chất của vật
chất. Hiện nay, khái niệm “Tin” thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất,
điều được truyền đi, báo đi cho biết sự việc, tình hình xảy ra. Thứ hai, sự
truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới
xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó [31].
Khái niệm “Báo” được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, cho biết việc gì
đó đã xảy ra. Thứ hai, cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có
thể hại đến trật tự an ninh chung… là dấu hiệu biết trước [31].
Từ điển Luật học giải thích: “Tố giác về tội phạm là báo cho cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền biết về hành vi phạm tội của người nào đó”; “Tin báo
về tội phạm là thông tin về tội phạm do cơ quan, tổ chức cung cấp dùng làm
căn cứ để khởi tố vụ án” [32].
Theo khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định:
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của
bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức [27].

8



Tố cáo và tố giác về tội phạm có một số điểm tương đồng nhất định
như: Thứ nhất, chủ thể tố cáo và tố giác tội phạm đều là cá nhân, có tên tuổi,
địa chỉ rõ ràng. Người tố cáo và tố giác tội phạm phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về nội dung tố cáo, tố giác của mình, trường hợp tố cáo, tố giác sai
sự thật thì tùy theo mức độ có thể bị xử lý về hành chính hoặc truy cứu trách
nhiệm hình sự. Việc tố cáo, tố giác tội phạm có thể được thực hiện bằng lời
nói hoặc bằng văn bản. Thứ hai, tố cáo và tố giác về tội phạm đều là việc
công dân thực hiện quyền của mình báo tin cho cơ quan có thẩm quyền về
hành vi vi phạm pháp luật ở một lĩnh vực nhất định.
Tố cáo và tố giác về tội phạm có những điểm khác biệt nhất định như:
Thứ nhất, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, không phân biệt tính chất, mức
độ vi phạm. Còn tố giác về tội phạm chỉ bao gồm hành vi vi phạm pháp luật
có thể cấu thành tội phạm đã được quy định trong BLHS. Do đó, có thể nói
khái niệm tố cáo rộng hơn và cơ bản đã bao hàm cả khái niệm tố giác về tội
phạm, trong TTHS tố cáo hành vi phạm tội được gọi là tố giác về tội phạm.
Thứ hai, tố cáo là quyền của công dân, còn tố giác về tội phạm vừa là quyền,
vừa là nghĩa vụ của công dân. Quan hệ pháp luật về tố cáo hành vi vi phạm
pháp luật chỉ phát sinh sau khi công dân thực hiện quyền tố cáo, còn quan hệ
pháp luật tố giác về tội phạm thì phát sinh ngay sau khi công dân biết về tội
phạm. Công dân có quyền quyết định việc mình sẽ tố cáo hay không tố cáo
một hành vi vi phạm pháp luật nhưng bắt buộc phải tố giác tội phạm nếu đã
biết rõ về một số tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS đang được chuẩn bị
hoặc đã được thực hiện [17].
Dưới góc độ pháp lý, định nghĩa tin báo, tố giác về tội phạm được nêu
tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT - BCA - BQP - BTC BNN&PTNT - VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 của Bộ Công an - Bộ
Quốc phòng - Bộ tài chính - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Viện

9



kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định BLTTHS năm 2003
về tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố (Sau
đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 06/2013) như sau: “Tố giác về tội phạm là
những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa
chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải
quyết. Tin báo về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm
trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp
cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết” [1, Điều 3].
Khái niệm tin báo, tố giác về tội phạm trên đã chỉ ra tin báo, tố giác đều
là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, nhưng khác nhau ở chủ
thể cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết. Theo
đó, chủ thể của tố giác về tội phạm chỉ có thể là cá nhân; chủ thể của tin báo
về tội phạm chỉ có thể là cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, khái niệm trên chưa thể
hiện đúng bản chất, nội dung của tin báo, tố giác về tội phạm. Bởi vì, không
phải tất cả những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có
danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp đều là tố giác về tội phạm. Mặt khác, trách
nhiệm tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chỉ có thể là cơ quan
có thẩm quyền chứ không thể là cá nhân. Bởi lẽ cá nhân không thể tự nhân
danh bản thân tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm mà chỉ có
những chủ thể được giao trách nhiệm, quyền hạn theo quy định của pháp luật
nhân danh cơ quan có thẩm quyền mới được thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận,
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
Như vậy, theo chúng tôi có thể rút ra các khái niệm tố giác và tin báo
về tội phạm như sau:
Tố giác về tội phạm được hiểu là việc cá nhân phát hiện và tố cáo
người phạm tội hoặc hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm
quyền tiếp nhận, giải quyết theo quy định của BLTTHS.

10



Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do
các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận, giải quyết theo quy định của BLTTHS hoặc thông tin về tội phạm trên
phương tiện thông tin đại chúng.
Và có thể rút ra khái niệm chung về tố giác và tin báo về tội phạm như
sau: Tin báo, tố giác về tội phạm là những thông tin có dấu hiệu tội phạm
được quy định trong BLHS do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp bằng các
hình thức thông tin khác nhau hoặc do các phương tiện thông tin đại chúng
nêu lên để cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết theo quy định
của BLTTHS.
Từ khái niệm và các quy định nêu trên, có thể nhận thấy tin báo, tố giác
về tội phạm có một số đặc trưng sau:
Thứ nhất, tố giác và tin báo về tội phạm tồn tại dưới nhiều hình thức rất
đa dạng bao gồm các thông tin được lưu giữ bằng các đối tượng vật chất, tài
liệu, các bản ảnh, băng ghi hình, ghi âm… và những phản ánh bằng tinh thần,
tức là những thông tin còn lưu giữ trong trong trí nhớ của con người đã tri
giác về những tình tiết phản ánh về hành vi có dấu hiệu tội phạm [10]. Tin
báo, tố giác về tội phạm có thể phản ánh về tội phạm đang ở giai đoạn chuẩn
bị (sẽ xảy ra) đang xảy ra và đã xảy ra. Điều này khẳng định vai trò to lớn của
tin báo, tố giác về tội phạm trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
hiện nay.
Thứ hai, tố giác và tin báo về tội phạm là những thông tin đầu tiên về
tội phạm được phản ánh qua những hình thức khác nhau. Chính vì vậy, tin
báo, tố giác về tội phạm thường chưa được xử lý, diễn giải nên chất lượng
thông tin có những giá trị khác nhau. Tại thời điểm nhận được thông tin về tội
phạm các cơ quan tiến hành tố tụng không thể ngay lập tức xác định được sự
việc xảy ra có phải là tội phạm hay không, đồng thời tại khoản 4 Điều 8


11


BLHS 1999 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng
tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm”.
Chính vì vậy, những cơ sở được quy định trong Điều 100 BLTTHS năm 2003
chỉ là những thông tin ban đầu về tội phạm. Dựa vào những cơ sở này, các cơ
quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh xem có hay không có dấu hiệu
tội phạm, tính chất nguy hiểm cho xã hội có đáng kể hay không để quyết định
khởi tố vụ án, không khởi tố vụ án.
Nắm rõ khái niệm, xác định chính xác những dấu hiện đặc trưng của tin
báo, tố giác về tội phạm không chỉ giúp chúng ta xác định nhanh chóng phạm
vi, thông tin ban đầu về tội phạm và các nguồn chứa đựng những thông tin đó
mà còn là cơ sở để xác định đặc điểm của tin báo, tố giác về tội phạm, chủ thể
tiến hành, phát hiện, thu thập, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm, các biện pháp
cần phải áp dụng trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm.
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Trong khoa học pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay chưa có một định
nghĩa thống nhất về khái niệm: "Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm" bởi lẽ, chúng ta mới chỉ dừng lại nghiên cứu ở cấp độ kiểm sát các hoạt
động tư pháp nói chung. Để xây dựng khái niệm: “Kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm” chúng ta có thể đi từ khái niệm: “Kiểm sát các hoạt
động tư pháp” để đưa ra một khái niệm có tính thống nhất và chính xác.
Khái niệm "Kiểm sát" theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: "Là kiểm
tra việc chấp hành pháp luật của nhà nước" [31]. Theo đó, nội dung của khái
niệm "Kiểm sát" là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp
hành pháp luật. Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà
nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tuy nhiên,


12


khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các
hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ
quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp
luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất. Bản chất pháp lý của chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS là kiểm tra tính có căn cứ và
tính hợp pháp trong hành vi, quyết định của các chủ thể bị kiểm sát. Khi thực
hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS được giao một số quyền năng
theo quy định của pháp luật mà chỉ riêng VKS mới có, các quyền này cũng đồng
thời là nghĩa vụ của VKS, tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt
động kiểm sát mà các chủ thể khác không có [18, tr.18].
Theo Từ điển tiếng Việt: “Giải quyết là làm cho không thành vấn đề
nữa” [31,tr.103]. Giải quyết là làm cho xong, kết thúc một vấn đề, công việc
nào đó của cơ quan có thẩm quyền.
Hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan có thẩm
quyền được diễn ra thông qua các hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,
không tách rời, gồm: việc tiếp nhận, phân loại vụ việc và thụ lý giải quyết;
tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin; phân công Điều tra viên tiến hành thu
thập các tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa chứng minh tội phạm; kết luận và ra
quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận
nguồn tin về tội phạm để tổ chức kiểm tra, xác minh nguồn tin, thu thập
chứng cứ phục vụ cho việc kết luận có hay không có sự việc phạm tội, qua đó
quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.
Theo đó, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là việc
VKS bằng quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền kiểm sát do pháp luật tố
tụng hình sự quy định thực hiện việc kiểm tra, giám sát trực tiếp, cụ thể và

liên tục hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của Cơ quan có thẩm

13


quyền giải quyết nhằm đảm bảo mọi tin báo, tố giác về tội phạm đều phải
được tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, xử lý kịp thời theo đúng quy định của
pháp luật. Tính trực tiếp, cụ thể trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm của VKS được thể hiện thông qua phương diện: trong
giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, VKS có quyền trực tiếp tham
gia kiểm sát các hoạt động nghiệp vụ cụ thể như khám nghiệm hiện trường,
hoạt động lấy lời khai, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định… nhằm xác
định rõ bản chất, nội dung của tin báo, tố giác về tội phạm. Tính liên tục trong
hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS thể
hiện thông qua phương diện: VKS có quyền và nghĩa vụ phải giám sát xuyên
suốt hoạt động của cơ quan có thẩm quyền từ giai đoạn tiếp nhận, thụ lý, xác
minh, giải quyết đến giai đoạn thông báo kết quả giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm nhằm đảm bảo các hoạt động trên của cơ quan có thẩm quyền tuân
thủ đúng pháp luật, có căn cứ, khách quan, chính xác [12, tr.12].
Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm như sau: "Kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp quyền năng pháp
lý thuộc nội dung công tác kiểm sát do pháp luật tố tụng hình sự quy định để
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật".
1.1.1.3. Ý nghĩa của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân
Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của Viện
kiểm sát có vị trí, vai trò và ý nghĩa tiên quyết để bảo đảm mọi hành vi phạm

tội, người phạm tội đều được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật.
Thực tiễn thực hành quyền công tố cho thấy, kiểm sát tốt việc giải quyết tố

14


giác, tin báo tội phạm sẽ quyết định chất lượng thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra, kiểm sát xét để có thể khẳng định có hay không có hành vi
tội phạm xảy ra, người nào thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ và
hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra như thế nào.
Kiểm sát tốt việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm góp phần đảm bảo
các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm đúng theo quy định của pháp
luật, các chứng cứ, tài liệu được thu thập theo một trình tự thủ tục khách quan,
toàn diện, đầy đủ, chính xác; những vi phạm pháp luật trong quá trình giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm phải được phát hiện kịp thời, khắc phục và
xử lý nghiêm minh. Mặt khác, tin báo, tố giác về tội phạm phản ánh hoạt
động của các tội phạm trong đời sống xã hội, kiểm sát tốt việc tiếp nhận, phân
loại, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm sẽ giúp đánh giá được diễn biến,
tình hình, xu hướng của tội phạm diễn ra trên địa bàn từ đó có biện pháp can
thiệp, tác động và xây dựng biện pháp phòng ngừa đạt hiệu quả. Như vậy, có
thể khẳng định hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm
là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình tố tụng hình sự vì nó là cơ sở
bảo đảm cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật và không bỏ lọt tội phạm.
1.1.2. Nội dung của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2.1. Chủ thể có quyền kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm
Theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 thì chỉ duy nhất Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp nói chung và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS nói riêng
được thực hiện ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội

15


phạm cho đến giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và kết thúc ở giai đoạn
thi hành án. Theo quy định tại khoản 4 Điều 103 BLTTHS năm 2003 quy
định: “VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tin
báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố”[25]. Theo đó thì hoạt động
kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là một trong những chức
năng, nhiệm vụ theo luật định của VKS nhằm kiểm tra tính hợp pháp, có căn
cứ của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
đảm bảo hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm được khách quan,
toàn diện, đúng pháp luật. VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động giải
quyết tin báo, tố giác về tội phạm trên cơ sở được giao một số quyền năng
đồng thời là nghĩa vụ mà chỉ riêng VKS mới có đặt trong mối quan hệ tổng
thể tạo ra một phương thức kiểm sát đặc trưng, cho phép phân biệt dễ dàng
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS với hoạt động giám sát
khác. Bởi vì, tham gia vào kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước nói
chung, hay kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan có thẩm quyền
trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm nói riêng không chỉ có VKS
mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức,
đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung [18]. Quyền
kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của các chủ thể khác xuất phát từ
những chế định quan trọng của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy
Nhà nước và địa vị pháp lý cơ bản của công dân. Tuy nhiên đối với các chủ
thể này việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng không

phải là chức năng hoạt động giống như VKS mà nó chỉ là quyền, nghĩa vụ
phái sinh từ những chức năng, hoạt động của chủ thể đó. Sự khác nhau cơ bản
giữa hoạt động kiểm sát của VKS và hoạt động giám sát của các chủ thể khác
chính là hình thức thực hiện, cụ thể là phương thức và các quyền năng mà

16


pháp luật TTHS cho phép khi thực hiện. Nhờ những nhiệm vụ, quyền hạn luật
định mà VKS có đầy đủ căn cứ pháp lý để giám sát chặt chẽ hoạt động tiếp
nhận, thụ lý, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của cá nhân, tổ chức, cơ
quan có thẩm quyền, phát hiện và khắc phục kịp thời những hành vi trái với
quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể khẳng định chủ thể duy nhất có chức năng kiểm sát hoạt
động giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là Viện kiểm sát nhân dân. Điều này
đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, Bộ luật TTHS và
những văn bản khác xuất phát từ chính bản chất của hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của VKSND là đảm bảo tính hợp
pháp của các hành vi, quyết định của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong
hoạt động tư pháp.
1.1.2.2. Đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát việc giải quyết
tin báo, tố giác về tội phạm
Khi xác định đối tượng của hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác về tội phạm cần làm rõ hai vấn đề: Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Thứ hai, hệ thống pháp luật được sử
dụng trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Bởi vì, đối tượng
của công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm chính là hoạt
động tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS. Đó
là sự tuân theo các quy định của pháp luật về thủ tục, trình tự, cách thức giải

quyết, nội dung giải quyết, về thẩm quyền và thời hạn giải quyết…
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm theo
quy định của pháp luật TTHS có thể được chia thành hai nhóm là hệ thống
CQĐT và các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra.

17


- Hệ thống CQĐT ở Việt Nam hiện nay là các cơ quan chuyên trách
gồm: CQĐT của công an nhân dân, CQĐT của quân đội dân nhân và CQĐT
của VKSND được luật trao cho nhiệm vụ, quyền hạn điều tra trong hầu hết
các vụ án hình sự có dấu hiệu tội phạm [24]. Do đó, các cơ quan này cũng là
cơ quan tiến hành chủ yếu hoạt động tiếp nhận và giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm. Khi tiến hành hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm thì CQĐT được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ theo luật định
nhằm làm sáng tỏ thông tin có dấu hiệu tội phạm như: triệu tập và lấy lời khai
của những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác minh nguồn tin. Yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp những tài liệu, đồ vật liên quan
đến việc giải quyết nguồn tin về tội phạm. Tiến hành khám nghiệm hiện
trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân
thể, ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tiếp nhận người tự thú,
người bị bắt trong trường hợp quả tang… Nhờ những quyền hạn luật định mà
CQĐT có đầy đủ khả năng, phương pháp để xác minh, làm rõ những thông tin
có dấu hiệu tội phạm đã tiếp nhận và đưa ra biện pháp giải quyết. Mặt khác,
cũng chính vì những quyền hạn đặc biệt nêu trên nếu áp dụng không đúng
theo quy định sẽ dễ dẫn đến tình trạng tiêu cực, làm giảm hiệu quả của công
tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm [19]. Do đó, nhiệm vụ của VKS trong
hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của CQĐT là
nhằm đảm bảo mọi hành vi, quyết định của CQĐT phải hợp pháp, hợp lý và
có căn cứ.

- Bên cạnh các CQĐT chuyên trách thì các cơ quan được giao tiến hành
một số hoạt động điều tra như: các cơ quan của Bộ đội Biên phòng, các cơ
quan của Hải quan, các cơ quan của Kiểm lâm, các cơ quan của lực lượng
Cảnh sát biển, cơ quan của Kiểm ngư và các cơ quan khác của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều

18


tra… được quy định tại Điều 111 BLTTHS năm 2003, cũng có thẩm quyền
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong lĩnh vực quản lý của
mình. Đây là các cơ quan quản lý hành chính trong ngành, lĩnh vực được pháp
luật cho phép tiến hành một số hoạt động điều tra các vụ án hình sự phát sinh
từ lĩnh vực đó. Do đó, các cơ quan trên cũng là đối tượng của hoạt động kiểm
sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm.
Hệ thống pháp luật được sử dụng để giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm đầu tiên là pháp luật tố tụng hình sự mà ở đây chủ yếu được quy định trong
BLTTHS 2003, quy định về trình tự tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội
phạm, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc tiếp
nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Ngoài pháp luật tố tụng hình sự còn
có các quy định của pháp luật về nội dung như pháp luật hình sự cũng đóng vai
trò quan trọng mà các chủ thể giải quyết cần phải tuân theo.
Phạm vi công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết đối với tin báo, tố
giác về tội phạm được bắt đầu từ khi CQĐT, Cơ quan được giao tiến hành
một số hoạt động điều tra tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm đến khi ra
quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự và ban hành
thông báo kết quả giải quyết theo luật định. Việc ra một trong hai loại quyết
định nói trên thể hiện kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, đồng
thời cũng kết thúc quá trình giải quyết này để chuyển sang hoạt động tố tụng

tiếp theo nếu CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án. Như vậy, giữa hai hoạt động
giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và khởi tố vụ án đã có một thời điểm
giao nhau là quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Với điểm giao nhau đó, cần phải xác định rõ ranh giới của hai hoạt động
kiểm sát này. Ranh giới được xác định như sau, kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm kết thúc khi CQĐT ra quyết định khởi tố hoặc không

19


khởi tố vụ án hình sự, VKS chỉ quan tâm đến việc CQĐT có ban hành một
trong hai loại quyết định tố tụng trên và đảm bảo về thời hạn giải quyết hay
không. Trong khi đó, kiểm sát việc khởi tố lại bắt đầu từ lúc CQĐT ra quyết
định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án, với nội dung là kiểm sát
tính có căn cứ, tính hợp pháp của các quyết định này. Vì thế, thời điểm kết
thúc của kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cũng chính là
thời điểm bắt đầu của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự. Sự phân định trên
chỉ mang tính chất tương đối và có ý nghĩa phục vụ mục đích nghiên cứu, bởi
giữa hai hoạt động kiểm sát này luôn có một mối quan hệ chặt chẽ và mật
thiết với nhau. Muốn kiểm sát việc khởi tố một các hiệu quả phải nắm chắc
căn cứ khởi tố, mà căn cứ khởi tố có được xác định đúng hay không lại phụ
thuộc nhiều vào quá trình giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Vì vậy,
trong BLTTHS, trong các văn bản nghiệp vụ cũng như trên thực tế hoạt động
tác nghiệp, kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm luôn gắn liền với
kiểm sát việc khởi tố vụ án [10].
1.1.2.3. Nội dung và trình tự kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về
tội phạm
Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm của
VKS có thể được chia thành 03 giai đoạn gồm: kiểm sát việc tiếp nhận tin
báo, tố giác về tội phạm; kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm

và cuối cùng là kiểm sát kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Tuy
nhiên, việc phân chia các giai đoạn như đã nêu trên chỉ mang tính chất tương
đối, phục vụ cho việc nghiên cứu bởi vì hoạt động kiểm sát việc giải quyết tin
báo, tố giác về tội phạm là một quá trình xuyên suốt từ khi cơ quan có thẩm
quyền tiếp nhận đến khi ra quyết định giải quyết tin báo,tố giác về tội phạm.
Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì phương thức, phạm vi tác động của VKS đến
các chủ thể có thẩm quyền cũng khác nhau. Ngoài ra, tùy thuộc vào nội dung,

20


×