Tải bản đầy đủ (.pdf) (70 trang)

Giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân huyện đầm dơi, tỉnh cà mau

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (554.57 KB, 70 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HỒNG CẨM

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA THỪA KẾ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN HỒNG CẨM

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA THỪA KẾ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN



HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ: “Giải quyết tranh chấp về chia thừa
kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đầm
Dơi, tỉnh Cà Mau” là do chính tôi thực hiện trên cơ sở hướng dẫn khoa học
của TS. Nguyễn Văn Tuyến.
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, số liệu được tôi sử dụng để phục vụ
cho việc nghiên cứu Luận văn đều do tôi tự tìm hiểu bằng kinh nghiệm trong
thực tiễn công tác và đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu của một Luận văn
khoa học.
Đầm Dơi, ngày 30 tháng 8 năm 2017
Tác giả

Trần Hồng Cẩm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP CHIA
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ CHIA THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG TÒA ÁN ............. 6
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất .... 6
1.1.1. Khái niệm tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất ................... 6
1.1.2. Đặc trưng của tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất ........ 9
1.1.3. Phân loại tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất .............. 10
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp chia thừa kế
quyền sử dụng đất ........................................................................................ 13

1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất 13
1.2.2. Phương thức giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
.................................................................................................................. 15
1.2.3. Căn cứ giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất . 17
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp về chia thừa
kế quyền sử dụng đất ................................................................................ 21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP CHIA THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ
MAU ............................................................................................................... 25
2.1. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử
dụng đất........................................................................................................ 25
2.1.1. Thực trạng quy định của Luật đất đai năm 2013 về các vấn đề liên
quan đến giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất ............ 25
2.1.2. Thực trạng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về giải quyết
tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất ............................................. 26


2.1.3. Thực trạng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về giải
quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất ................................... 32
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất tại
Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau .......................................... 38
2.2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội của huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà
Mau có khả năng ảnh hưởng, tác động đến việc giải quyết tranh chấp
chia thừa kế quyền sử dụng đất ................................................................ 38
2.2.2. Những kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp chia thừa kế
quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi ........................ 40
2.2.3. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân ......................................... 42
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI PHÁP LUẬT VÀ ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA

THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TÒA ÁN ................................. 50
3.1. Một số kiến nghị sửa đổi pháp luật về giải quyết tranh chấp chia thừa
kế quyền sử dụng đất ................................................................................... 50
3.2. Áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử
dụng đất........................................................................................................ 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 62


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS:

Bộ luật dân sự

BLTTDS:

Bộ luật tố tụng dân sự

LĐĐ:

Luật đất đai

QSDĐ:

Quyền sử dụng đất

UBND:

Ủy ban nhân dân



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt không có gì thay thế được, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống con người. Trải qua bao thế hệ, nhân dân ta đã đổ bao nhiêu mồ
hôi và xương máu mới khai thác, bồi bổ, cải tạo và bảo vệ được đất đai cho
đến ngày hôm nay. Với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, đời sống
vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao thì đất đai ngày
càng trở nên có giá trị, là tài sản đáng giá. Trong bối cảnh đó, sự ý thức của
người dân về giá trị ngày càng cao của đất đai đã khiến cho việc sở hữu loại
tài sản này ngày càng được quan tâm đặc biệt và chính điều đó là một trong
những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp đất đai nói chung và tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng.
Trong những năm gần đây, có khá nhiều vụ án tranh chấp về chia thừa
kế quyền sử dụng đất xãy ra đã được Tòa án thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, việc
giải quyết các vụ tranh chấp loại này đã và đang gặp nhiều khó khăn, vướng
mắc do những nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như: do nguồn gốc đất đã
lâu khó xác định, một phần do luật hướng dẫn giải quyết chưa được rõ ràng,
áp dụng vào thực tiễn mỗi nơi hiểu theo mỗi kiểu khác nhau nên nhiều vụ án
bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hủy sửa nhiều lần, có nhiều vụ án
kéo dài hàng chục năm, từ thế hệ ông bà, cha mẹ, đến thế hệ con cháu vẫn còn
đi khởi kiện. Điều này khiến cho hậu quả của tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất để lại rất nặng nề, không chỉ phá vỡ không khí đầm ấm,
hòa thuận, yêu thương trong gia đình, mà còn gây ra mâu thuẫn, mất đoàn kết
trong nội bộ gia đình, dòng họ với nhau, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương nói riêng và cả nước nói
chung.
1



Xuất phát từ nhận thức như vậy về thực trạng tranh chấp và giải quyết
tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất hiện nay ở Việt Nam, tác giả
quyết định lựa chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền
sử dụng đất từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi,
tỉnh Cà Mau” để làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, do thực tế phát sinh nhiều tranh chấp đất
đai nói chung, trong đó có tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất nên
việc giải quyết các tranh chấp này cũng ngày càng nhiều và nhận được sự
quan tâm, nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều học giả ở nhiều cấp độ khác nhau.
Ở mức độ khái quát, có thể nhận thấy rằng trong thời gian qua đã có
nhiều công trình nghiên cứu khác nhau tìm hiểu về chủ đề này, trong đó có
các công trình ở cấp độ luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề
tài như:
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài: “Di sản thừa kế là quyền sử dụng
đất theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của tác giả Trần Bình Trọng (2014);
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài: “Pháp luật về thừa kế quyền sử
dụng đất từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh”
của tác giả Hoàng Việt Trung (2015);
- Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài: “Tranh chấp về thừa kế quyền sử
dụng đất từ thực tiễn giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” của tác
giả Vũ Thị Thu Thủy (2015).
Ngoài ra, còn một số sách tham khảo, chuyên khảo của tác giả là các
giáo sư, tiến sĩ có uy tín như:
- Tác phẩm: Pháp luật dân sự và thực tiễn xét xử của Tưởng Duy
Lượng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009;
2



- Tác phẩm: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, chủ biên
PGS. TS Hoàng thế Liên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – sự thật, Hà Nội,
2013;
- Tác phẩm: 99 tình huống và tư vấn pháp luật về thừa kế nhà và quyền
sử dụng đất của LS.TS Phan Thị Hương Thủy, Nhà xuất bản Tư pháp,
2005…
Có thể khẳng định những công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào
giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giải quyết
tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất và là nguồn tư liệu quý giá để
tác giả luận văn có thể tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của
mình. Tuy nhiên, có thể cho rằng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu
nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về giải quyết tranh chấp
chia thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn xét xử của Tòa án trên địa bàn
huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Vỉ thế, đây là công trình đáp ứng được yêu cầu
về tính thời sự, có giá trị cả về lý luận cũng như thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác lập luận cứ khoa học cho việc
hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử
dụng đất theo BLDS Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp có cơ sở
lý luận và thực tiễn nhằm góp phần nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm trong
thực tiễn xét xử của Tòa án.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về tranh chấp
và giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất để làm cơ sở lý
luận cho việc đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
trong giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất ở Việt Nam;
- Nghiên cứu tổng quan về quá trình hình thành và phát triển của chế
3



định giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất ở Việt Nam và
phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của pháp luật hiện hành về giải
quyết tranh chấp chia thừa kế QSDĐ từ thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân
huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau trong những năm gần đây.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp về chia thừa kế QSDĐ trong thời gian tới ở Việt Nam nói chung và tòa
án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, học thuyết, các
quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề giải
quyết tranh chấp về chia thừa kế QSDĐ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận và
thực tiễn pháp lý về giải quyết tranh chấp về chia thừa kế QSDĐ theo pháp
luật Việt Nam từ thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh
Cà Mau trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, về cải cách tư
pháp.
Trong quá trình nghiên nghiên cứu, luận văn sử dụng phối hợp các
phương pháp truyền thống của khoa học xã hội và nhân văn như: Phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp
thống kê, phương pháp khái quát hóa… để giải quyết các vấn đề lý luận và
thực tiễn mà đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Theo nhận thức chủ quan của mình, tác giả cho rằng luận văn có những
4



đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Thứ nhất, về phương diện lý luận, luận văn đã bổ sung, làm rõ hơn một
số vấn đề lý luận về tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất và giải quyết
tranh chấp về chia thừa kế QSDĐ theo pháp luật dân sự Việt Nam bằng con
đường tòa án. Các kết quả nghiên cứu này được đúc kết từ thực tiễn xét xử, áp
dụng tại Tòa án huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Thứ hai, về khía cạnh thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn có
thể được vận dụng trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về giải
quyết tranh chấp về chia thừa kế QSDĐ tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi,
tỉnh Cà Mau, từ đó giúp Kiểm sát viên cũng như các Thẩm phán, Hội thẩm có
cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn trong quá trình giải quyết các tranh chấp về
chia thừa kế QSDĐ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử sơ thẩm
các vụ án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp chia thừa kế quyền sử
dụng đất và giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất bằng Tòa
án.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp chia thừa kế
quyền sử dụng đất và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi,
tỉnh Cà Mau.
Chương 3: Một số kiến nghị sửa đổi pháp luật và áp dụng pháp luật về
giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất tại Tòa án.

5



Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA
THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT BẰNG TÒA ÁN
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp chia thừa kế quyền sử
dụng đất
1.1.1. Khái niệm tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất
Trong pháp luật dân sự, thừa kế là một chế định pháp luật lớn với nhiều
quy phạm pháp luật cơ bản được thiết kế nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của người thừa kế cũng như người để lại thừa kế. Theo quy định tại
Điều 609 Bộ luật dân sự 2015 về quyền thừa kế, nhà làm luật khẳng định cá
nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của
mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo
pháp luật. Đối với người thừa kế không là cá nhân thì có quyền hưởng di sản
theo di chúc chứ không có quyền hưởng di sản theo pháp luật. Ở Việt Nam,
theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 về di sản thừa kế, nhà làm
luật cho rằng di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản
của người chết trong tài sản chung với người khác. Như vậy có nghĩa là, về
nguyên tắc mọi tài sản hợp pháp của người chết đều có thể trở thành di sản
thừa kế, trong đó có một loại tài sản khá đặc biệt là “quyền sử dụng đất”.
Với tư cách là một loại tài sản đặc biệt, quyền sử dụng đất có bản chất
là quyền tài sản theo quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự 2015. Do là quyền
tài sản nên quyền sử dụng đất là một loại tài sản vô hình, không thể nắm giữ,
chiếm hữu theo cách thông thường giống như tài sản là vật, tiền hay giấy tờ
có giá. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, chủ sở hữu tài sản là quyền sử
dụng đất chính là tổ chức, cá nhân đang có quyền sử dụng đất hợp pháp được
Nhà nước công nhận bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
6



Về lý thuyết cũng như trong pháp luật thực định, quyền sở hữu tài sản
nói chung (trong đó có tài sản đặc thù là quyền sử dụng đất) luôn được Nhà
nước tôn trọng và bảo vệ. Trong trường hợp chủ tài sản chết, các tài sản thuộc
quyền sở hữu của họ (bao gồm cả tài sản là quyền sử dụng đất) được xem là
di sản thừa kế và được xem xét để chia cho những người thừa kế theo di chúc
hoặc theo pháp luật. Giống như mọi tài sản khác, quyền sử dụng đất cũng
được xem là đối tượng được chia thừa kế cho những người thừa kế sau khi
người để lại thừa kế chết.
Trước đây, trong Bộ luật dân sự 2005, tại Điều 733 nhà làm luật có
định nghĩa: “Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của
người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật này và pháp luật
về đất đai”. Tại Điều 734 của Bộ luật này, nhà làm luật tiếp tục ghi nhận: “Cá
nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất
có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ
luật này và pháp luật về đất đai”. [10, tr.339].
Trên nguyên tắc, sau khi người sử dụng đất hợp pháp là cá nhân bị
chết, việc chia thừa kế quyền sử dụng đất – với tư cách là di sản thừa kế của
người này, sẽ được thực hiện theo di chúc (nếu có di chúc) hoặc theo pháp
luật, bằng phương thức do các bên có liên quan trực tiếp thỏa thuận với nhau
về việc chia thừa kế, hoặc yêu cầu tòa án giải quyết việc chia thừa kế nếu các
bên không thỏa thuận được về việc chia thừa kế.
Hiện nay, trong pháp luật thực định Việt Nam không có định nghĩa
chính thức nào về khái niệm “chia thừa kế” nói chung và “chia thừa kế quyền
sử dụng đất” nói riêng. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại Chương XXIV của
Bộ luật dân sự 2015 về thanh toán và phân chia di sản thì có thể hiểu rằng
chia thừa kế chính là việc phân chia di sản của người đã chết theo di chúc của
người đó hoặc theo quy định của pháp luật. Trong Bộ luật dân sự 2015 có ghi
7



nhận tại Điều 656 về việc họp mặt những người thừa kế sau khi có thông báo
về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố để thỏa thuận những việc như:
a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ
của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; b)
Cách thức phân chia di sản. Điều luật này cũng quy định mọi thỏa thuận của
những người thừa kế phải được lập thành văn bản.
Như vậy, có thể quan niệm rằng trong thủ tục về chia thừa kế, các bên
có liên quan (bao gồm những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật)
có thể thỏa thuận xác định người phân chia di sản là ai và cách thức phân chia
di sản như thế nào trong văn bản thỏa thuận giữa họ với nhau về việc chia
thừa kế tài sản nói chung và chia thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng. Tại
Điều 657 Bộ luật dân sự 2015, nhà làm luật quy định rằng người phân chia di
sản có thể đồng thời là người quản lý di sản được chỉ định trong di chúc hoặc
được những người thừa kế thỏa thuận cử ra. Người phân chia di sản phải chia
di sản theo đúng di chúc hoặc đúng thỏa thuận của những người thừa kế theo
pháp luật. Người phân chia di sản được hưởng thù lao, nếu người để lại di sản
cho phép trong di chúc hoặc những người thừa kế có thỏa thuận.
Nếu việc chia thừa kế không thỏa mãn được lợi ích chính đáng của
những người thừa kế, giữa họ sẽ phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng về việc
chia thừa kế quyền sử dụng đất và khi đó, tranh chấp về việc chia thừa kế
quyền sử dụng đất sẽ phát sinh, dẫn đến việc phải giải quyết tranh chấp.
Xuất phát từ khái niệm tranh chấp tài sản nói chung, có thể đưa ra định
nghĩa tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất như sau:
Tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất là tình trạng pháp lý đặc
biệt của quan hệ chia thừa kế quyền sử dụng đất, theo đó các bên tham gia
quan hệ chia thừa kế có những xung đột, bất đồng về quan điểm, lợi ích trong
quá trình phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, dẫn đến hệ quả phải
8



giải quyết xung đột, mâu thuẫn, bất đồng đó bằng các phương thức như
thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu tòa án giải quyết theo pháp luật.
1.1.2. Đặc trưng của tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất
Như đã đề cập ở trên, tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất là
tranh chấp về tài sản nên đương nhiên sẽ có đầy đủ các đặc điểm chung của
tranh chấp về tài sản. Tuy nhiên, ngoài những đặc điểm chung đó thì tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất còn có những đặc trưng riêng sau đây:
Thứ nhất, tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất có đối tượng
tranh chấp là các quyền lợi phát sinh từ quyền sử dụng đất được thừa kế. Các
quyền lợi này có liên quan trực tiếp đến những người thừa kế theo di chúc
hoặc thừa kế theo pháp luật. Quyền thừa kế của cá nhân là quyền để lại di sản
của mình cho người khác hoặc hưởng di sản của người khác để lại theo di
chúc hay theo pháp luật. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, việc chia thừa
kế tài sản này cũng được thực hiện tương tự như tài sản khác. Tuy nhiên, điều
kiện cơ bản để thực hiện việc chia thừa kế quyền sử dụng đất là người để lại
thừa kế quyền sử dụng đất phải được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất
hợp pháp (ví dụ: Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người
sử dụng đất...). Khi đề cập đến đối tượng của tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất, cần lưu ý rằng trong tranh chấp này, các bên không tranh
chấp với nhau về quyền sử dụng đất mà thực chất là tranh chấp về việc phân
chia di sản là quyền sử dụng đất. Nói cách khác, đối tượng của tranh chấp này
chính là các quyền lợi phát sinh từ quyền sử dụng đất trong quá trình phân
chia di sản hoặc sau khi phân chia di sản giữa những người thừa kế quyền sử
dụng đất.
Thứ hai, chủ thể của tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất
chính là những người tham gia vào việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử
dụng đất. Về lý thuyết, các chủ thể của tranh chấp trước hết và chủ yếu bao
9



gồm những người thừa kế quyền sử dụng đất (theo di chúc hoặc theo pháp
luật), bởi vì chính những người này là chủ thể được hưởng quyền thừa kế di
sản là quyền sử dụng đất của người chết để lại. Ngoài ra, trong một số trường
hợp, nếu việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất có sự tham gia của người
phân chia di sản thì tranh chấp này cũng có thể phát sinh giữa những người
thừa kế quyền sử dụng đất với người phân chia di sản.
Thứ ba, tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất có bản chất là
tranh chấp dân sự, tức là tranh chấp liên quan đến quyền lợi “tư” của các tổ
chức, cá nhân có quyền hưởng thừa kế di sản là quyền sử dụng đất của người
chết để lại. Các tranh chấp này chỉ thuần túy có tính chất dân sự chứ không
phải là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại, mặc dù chủ
thể tham gia vào quan hệ tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất có thể
là người kinh doanh thương mại. Do tranh chấp về chia thừa kế quyền sử
dụng đất có bản chất là tranh chấp dân sự nên về nguyên tắc, tranh chấp này
sẽ được ưu tiên giải quyết bằng cơ chế thương lượng giữa các bên hoặc hòa
giải qua trung gian để bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của
các bên đương sự. Trong trường hợp các bên không thể thương lượng được
hoặc hòa giải không thành thì tòa án mới can thiệp để giải quyết khi các bên
có yêu cầu bằng thủ tục khởi kiện tại tòa.
1.1.3. Phân loại tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất
Xét về phương diện lý thuyết, việc phân loại tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như thực
tiễn. Điều đó thể hiện ở chỗ: Về phương diện lý luận, việc phân loại tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất sẽ góp phần làm phong phú thêm lý
thuyết về tranh chấp quyền sử dụng đất nói chung và tranh chấp về chia thừa
kế quyền sử dụng đất nói riêng để làm cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp
luật về thừa kế quyền sử dụng đất. Về phương diện thực tiễn, việc phân loại
10



tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất sẽ nâng cao nhận thức lý luận
cho những người có liên quan đến tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng
đất và việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất.
Qua nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn, tác giả luận văn cho rằng
tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất có thể được phân loại dựa vào
các tiêu chí cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nếu dựa vào tiêu chí chủ thể của quan hệ tranh chấp về chia
thừa kế quyền sử dụng đất thì có thể phân loại thành: (i) tranh chấp giữa
những người thừa kế quyền sử dụng đất với nhau; và (ii) tranh chấp giữa
những người thừa kế quyền sử dụng đất với người phân chia di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất.
Đối với loại tranh chấp thứ nhất, chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp
chính là những người thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Loại
tranh chấp này là khá phổ biến vì chính những người này mới có các quyền
lợi gắn với việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Đối với loại
tranh chấp thứ hai, chủ thể tham gia quan hệ tranh chấp bao gồm một bên là
những người thừa kế quyền sử dụng đất, còn bên kia có thể là người được
quyền đứng ra phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất cho những người
thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Thực tế cho thấy loại tranh chấp này
sẽ phát sinh khi người đứng ra phân chia di sản thừa kế đã không thực hiện
việc phân chia di sản theo đúng di chúc hoặc theo đúng quy định của pháp
luật, dẫn đến vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của những người hưởng thừa
kế.
Thứ hai, nếu dựa vào tiêu chí đối tượng tranh chấp thì có thể phân chia
tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất thành hai loại, bao gồm: (i)
tranh chấp về quyền thụ hưởng các lợi ích từ việc phân chia di sản thừa kế là
quyền sử dụng đất; và (ii) tranh chấp về nghĩa vụ tài sản của những người
11



thừa kế từ việc phân chia di sản là quyền sử dụng đất.
Đối với tranh chấp về quyền thụ hưởng các lợi ích từ việc phân chia di
sản thừa kế là quyền sử dụng đất: Có thể nhận thấy rằng loại tranh chấp này
thường liên quan đến sự mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về việc phân chia
quyền lợi giữa những người thừa kế quyền sử dụng đất như: giá trị và giá trị
sử dụng của tài sản được thừa kế, các quyền lợi khác phát sinh từ tài sản được
thừa kế. Ví dụ: A chết để lại tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất 35m2 tọa lạc tại một vị trí thuận lợi cho việc kinh doanh buôn bán.
Theo di chúc, A để lại thừa kế quyền sử dụng đất này cho hai người thừa kế là
B và C (đều là các con đẻ của A), trong đó ghi rõ A là con cả nên được nhận
tài sản là quyền sử dụng diện tích đất 35m2, đồng thời thanh toán lại cho B số
tiền bằng nửa giá trị quyền sử dụng mảnh đất là di sản thừa kế, sau khi được
định giá. Sau khi phân chia di sản là quyền sử dụng đất đối với 35m 2, người
thừa kế B cho rằng mình được chia tài sản thừa kế bằng tiền (cho dù số tiền
đó đúng bằng ½ giá trị của quyền sử dụng đất theo định giá của cơ quan có
thẩm quyền) là không công bằng và không thỏa đáng, vì cho rằng A nhận di
sản thừa kế là quyền sử dụng đất sẽ có lợi hơn, do quyền sử dụng đất có khả
năng sinh lời cao hơn so với khoản tiền thừa kế mà B được nhận. B khởi kiện
A ra tòa vì cho rằng việc phân chia di sản thừa kế không công bằng.
Đối với tranh chấp về nghĩa vụ tài sản phát sinh do phân chia di sản
thừa kế là quyền sử dụng đất: Loại tranh chấp này thường phát sinh khi những
người thừa kế quyền sử dụng đất cho rằng nghĩa vụ tài sản mà mình phải thực
hiện sau khi phân chia di sản thừa kế (quyền sử dụng đất) là không công bằng.
Ví dụ: A và B cùng được hưởng di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do người
chết để lại, đồng thời cùng có nghĩa vụ thực hiện việc thanh toán khoản tiền
thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kinh doanh của người chết mà người
này chưa thực hiện khi còn sống. Sau khi phân chia di sản thừa kế, A và B
12



tranh chấp với nhau về việc phân chia di sản này, trong đó có việc phân chia
nghĩa vụ đóng thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho người để lại thừa kế.
1.2. Những vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp chia
thừa kế quyền sử dụng đất
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng
đất
Theo Từ điển tiếng Việt, giải quyết tranh chấp được hiểu là việc các
chủ thể có thẩm quyền áp dụng những biện pháp khác nhau để chấm dứt xung
đột, mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia quan hệ
tranh chấp. Về lý thuyết, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện
bằng nhiều cách thức khác nhau nhưng nguyên tắc chung là mọi phương
pháp, cách thức giải quyết tranh chấp đều phải do các bên và vì quyền, lợi ích
hợp pháp của các bên tranh chấp. Trên tinh thần của nguyên tắc đó, pháp luật
các nước đều quy định và thừa nhận các phương thức giải quyết tranh chấp
hiện nay như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án.
Đối với tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất, việc giải quyết
loại tranh chấp này về nguyên tắc cũng được thực hiện theo một trong các
phương thức nói trên, trong đó phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án
được xem là cách thức được nhiều bên tranh chấp lựa chọn.
Giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất là việc Tòa án
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng, áp dụng các quy định của
Bộ luật dân sự, Luật đất đai để giải quyết mâu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa
các bên tranh chấp về việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất do
người chết để lại theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự quy định.
[24, tr.12]
Định nghĩa trên đây cho thấy rằng việc giải quyết tranh chấp về chia
thừa kế quyền sử dụng đất là một hoạt động có ý thức của các chủ thể có thẩm
13



quyền nhằm mục đích cuối cùng là chấm dứt sự xung đột, mâu thuẫn, bất
đồng về quyền lợi, nghĩa vụ tài sản giữa các bên tranh chấp.
Về phương diện lý thuyết, có thể nhận thấy việc giải quyết tranh chấp
về chia thừa kế quyền sử dụng đất có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Ngoài phương thức thương lượng hay hòa giải (vốn dĩ do các bên tranh
chấp tự giải quyết với nhau) thì việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất chỉ thuộc thẩm quyền của tòa án chứ không thuộc thẩm
quyền của các cơ quan hành chính hay cơ quan trọng tài. Sở dĩ như vậy là bởi
vì, về bản chất thì tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất là tranh chấp
có tính chất dân sự, không phải là tranh chấp về kinh doanh thương mại nên
nếu các bên không thể giải quyết được tranh chấp bằng con đường thương
lượng hay hòa giải thì về nguyên tắc, các bên chỉ có thể khởi kiện ra tòa án để
yêu cầu giải quyết chứ không thể khởi kiện ra trọng tài (giống như tranh chấp
kinh doanh thương mại) hay yêu cầu các cơ quan hành chính giải quyết
(giống như tranh chấp đất đai). Cần lưu lý rằng trong thực tế, nếu các bên tự
thương lượng, thỏa thuận với nhau về cách phân chia di sản thừa kế là quyền
sử dụng đất và có chứng thực của các chủ thể có thẩm quyền như UBND,
Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng thì cũng không thể hiểu rằng
các cơ quan này có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền
sử dụng đất. Trên thực tế, các chủ thể này chỉ có thẩm quyền công nhận,
chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
giữa các bên tranh chấp, chứ không phải là cơ quan giải quyết tranh chấp.
Thứ hai, về thủ tục giải quyết tranh chấp.
Việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất thường
được thực hiện theo trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp do Bộ luật tố tụng dân sự
quy định (trừ trường hợp các bên tự giải quyết tranh chấp với nhau bằng cơ
14



chế thương lượng hay hòa giải). Đây là điểm khác biệt giữa giải quyết tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất với việc giải quyết tranh chấp trong
các lĩnh vực khác, không phải là tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất
(ví dụ: giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng thủ tục tố tụng
trọng tài; giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính tại Ủy ban
nhân dân...).
Thứ ba, về luật áp dụng.
Việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất được thực
hiện trên cơ sở áp dụng luật nội dung là các quy định pháp luật chuyên ngành
như Bộ luật dân sự, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình để xem xét các cơ
sở pháp lý của việc phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Đồng thời,
về luật hình thức thì chủ thể giải quyết tranh chấp là tòa án phải áp dụng Bộ
luật tố tụng dân sự và các quy định khác có liên quan để giải quyết tranh chấp
về chia thừa kế quyền sử dụng đất.
1.2.2. Phương thức giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng
đất
Giống như hầu hết các loại tranh chấp khác, việc giải quyết tranh chấp
về chia thừa kế quyền sử dụng đất cũng có thể được thực hiện bằng nhiều cơ
chế, phương thức khác nhau, trong đó phải kể đến hai cơ chế giải quyết tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng thường được áp dụng nhiều nhất là:
thương lượng giữa các bên tranh chấp và giải quyết tranh chấp tại tòa án.
Thứ nhất, về phương thức thương lượng giữa các bên tranh chấp.
Trong quá trình phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, nếu các
bên không thống nhất được cách thức phân chia di sản hoặc đã thống nhất
được về cách thức phân chia di sản nhưng khi thực hiện việc phân chia theo
cách thức đã thống nhất lại phát sinh những bất đồng, xung đột về quyền lợi,
nghĩa vụ tài sản liên quan đến những người thừa kế thì khi đó, giải pháp đầu
15



tiên mà các bên cần áp dụng là trực tiếp thương lượng với nhau để đạt được
sự đồng thuận trong quá trình phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất.
Trên thực tế, pháp luật hiện hành ở Việt Nam không có quy định cụ thể về
trình tự, thủ tục thương lượng giữa các bên khi giải quyết tranh chấp về chia
thừa kế quyền sử dụng đất.
Về lý thuyết, việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng
đất bằng cơ chế thương lượng giữa các bên phải được lập thành văn bản trong
đó ghi rõ ràng, đầy đủ về nội dung thỏa thuận giữa các bên trong phân chia di
sản thừa kế và cần có sự chứng thực của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
như Ủy ban nhân dân hoặc tổ chức hành nghề công chứng (Phòng công chứng
hoặc Văn phòng công chứng).
Thứ hai, về phương thức giải quyết tranh chấp tại tòa án.
Như đã phân tích ở trên, trong trường hợp các bên tranh chấp về chia
thừa kế quyền sử dụng đất tiến hành thương lượng nhưng không đạt được
mục đích thì việc đưa tranh chấp này ra giải quyết tại tòa án là một lựa chọn
không tồi. Theo quy định chung, việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất tại tòa án sẽ được thực hiện bằng việc bên nguyên đơn nộp
hồ sơ khởi kiện tại cơ quan tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết theo
pháp luật. Tòa án nơi nhận đơn khởi kiện sẽ kiểm tra các thông tin về thời
hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của tòa án, các tài liệu có
trong hồ sơ khởi kiện có đáp ứng được yêu cầu theo quy định hay không để
thụ lý hoặc từ chối thụ lý hồ sơ khởi kiện vụ tranh chấp. Sau khi thụ lý hồ sơ
vụ tranh chấp để giải quyết nếu đúng thẩm quyền luật định, tòa án sẽ tiến
hành các thủ tục tố tụng theo trình tự do Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định.
Ở Việt Nam, trong quá trình giải quyết một số tranh chấp liên quan đến
tài sản là quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết
số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 trong đó hướng dẫn rằng: “Đối với
16



tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài
sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất… thì không phải tiến hành hòa
giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn
phải thực hiện thủ tục hòa giải theo quy định của BLTTDS”. [6, tr.7]
Nội dung hướng dẫn trong Văn bản nói trên cho thấy rằng đối với việc
giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất, việc hòa giải tại Ủy
ban nhân dân cấp xã là không bắt buộc nhưng trong quá trình giải quyết tranh
chấp tại tòa án thì cơ quan này vẫn phải tiến hành hòa giải theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 205 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015 thì thẩm phán phải tiến hành hòa giải trong giai đoạn vụ án chuẩn
bị xét xử để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp
về chia thừa kế quyền sử dụng đất. Thủ tục này là rất cần thiết vì đây là loại
tranh chấp liên quan đến “quyền lợi tư” nên Nhà nước phải tôn trọng quyền tự
định đoạt của các đương sự và cố gắng đảm bảo cho các đương sự tự giải
quyết được các tranh chấp, xung đột, bất đồng giữa họ với nhau mà không cần
phải có sự can thiệp của Nhà nước.
Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau thì thẩm phán có
trách nhiệm lập biên bản hòa giải thành và hết bảy ngày kể từ ngày lập biên
bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì thẩm phán
ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Quyết định này có
hiệu lực ngay sau khi ban hành.
1.2.3. Căn cứ giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng
đất
Trong quá trình giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh
chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng, việc xác định các căn cứ
giải quyết tranh chấp là rất quan trọng, bởi vì nó cho phép việc giải quyết
17



tranh chấp được thực hiện một cách hợp lý, hợp pháp và được các bên tranh
chấp cũng như được Nhà nước thừa nhận, do đó kết quả giải quyết tranh chấp
thường sẽ được các bên tự giác thi hành. Trong khuôn khổ của luận văn này,
tác giả chỉ tập trung vào việc phân tích các căn cứ giải quyết tranh chấp về
chia thừa kế quyền sử dụng đất bằng phương thức thương lượng giữa các bên
và phương thức giải quyết tranh chấp bằng tòa án.
Trước hết, về các căn cứ giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử
dụng đất bằng cơ chế thương lượng giữa các bên tranh chấp.
Không khó để nhận ra rằng trong cơ chế thương lượng giữa các bên
tranh chấp, việc thương lượng, thỏa thuận, hòa giải giữa các bên có thành
công hay không chủ yếu phụ thuộc vào các căn cứ sau đây:
- Căn cứ về pháp lý: Có hai căn cứ pháp lý quan trọng để các bên
thương lượng, thỏa thuận với nhau về quyền hưởng di sản thừa kế và cách
phân chia di sản thừa kế, đó là: (i) Di chúc của người để lại di sản thừa kế; (ii)
các quy định của pháp luật về thừa kế. Trong trường hợp có di chúc, việc xác
định quyền hưởng thừa kế của những người thừa kế cũng như việc phân chia
di sản thừa kế cho mỗi người thừa kế như thế nào sẽ theo quy định của di
chúc. Các bên thương lượng với nhau trong quá trình chia thừa kế quyền sử
dụng đất phải dựa trên nội dung di chúc để thương lượng và thỏa thuận.
Trong trường hợp người để lại thừa kế không có di chúc hoặc di chúc không
hợp pháp, việc thương lượng giữa các bên tranh chấp phải dựa vào các quy
định của pháp luật về quyền hưởng thừa kế, các hàng thừa kế và về cách thức
phân chia di sản thừa kế. Mọi thỏa thuận giữa các bên có nội dung không phù
hợp với pháp luật đều không có giá trị pháp lý và không được Nhà nước thừa
nhận.
- Căn cứ về phong tục, tập quán và đạo đức xã hội, truyền thống văn
hóa, nề nếp gia đình: Các căn cứ này tuy không có tính bắt buộc tuân thủ
18



giống như các căn cứ pháp lý nhưng luôn có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình
giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất bằng con đường
thương lượng giữa các bên hoặc thông qua trung gian hòa giải. Trong nhiều
trường hợp, việc dựa vào các căn cứ pháp lý có thể khó thương lượng thành
công nhưng nếu dựa vào các tập quán, phong tục, đạo đức xã hội, truyền
thống văn hóa hay truyền thống, nề nếp gia đình lại có thể thương lượng
thành công mà không cần phải khởi kiện ra tòa để yêu cầu giải quyết.
Thứ hai, về các căn cứ để giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử
dụng đất bằng cơ chế tòa án.
Giống như việc giải quyết tranh chấp về chia thừa kế quyền sử dụng đất
bằng con đường thương lượng, khi giải quyết tranh chấp về chia thừa kế
quyền sử dụng đất bằng con đường tòa án thì tòa án cũng phải dựa vào hai
căn cứ pháp lý quan trọng là di chúc và pháp luật, theo nguyên tắc ưu tiên giải
quyết tranh chấp theo di chúc, nếu không có di chúc thì tòa án mới giải quyết
theo pháp luật.
- Giải quyết tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc.
Định đoạt tài sản (quyền sử dụng đất) bằng việc để lại thừa kế cho
người khác theo di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân người sử
dụng đất hợp pháp, đồng ý dịch chuyển tài sản là quyền sử dụng đất của mình
cho người khác sau khi mình chết bằng việc lập di chúc theo quy định của
pháp luật.
Theo quy định tại Điều 625 BLDS 2015: người lập di chúc là người đã
thành niên hoặc đủ 15 đến dưới 18 tuổi được sự đồng ý của cha mẹ hoặc
người giám hộ có quyền lập di chúc; tự định đoạt quyền sử dụng đất bằng
việc chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, giao
nghĩa vụ cho người thừa kế, chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di
sản… Tuy nhiên quyền truất quyền hưởng di sản quyền sử dụng đất của
19



×