Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.07 MB, 125 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

............…/…………

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÙI NGỌC TUẤN

XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LƢƠNG THANH CƢỜNG

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn không trùng lắp với các công trình có liên quan đã
công bố. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả


các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học
viện Hành chính Quốc gia.
Vậy, tôi viết bản cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia xem
xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên

Bùi Ngọc Tuấn


Lời Câm Ơn
Với lòng kính trọng và sự tri ån såu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời
câm ơn chån thành đến quý Thæy, Cô Học viện Hành chính Quốc
gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tôi xin chån thành câm ơn Giâng viên PGS.TS.
Lương Thanh Cường đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc
định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu, thæy
luôn động viên và täo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn
thành luận văn này.
Tôi cũng xin câm ơn các bän bè, đồng nghiệp đã luôn quan tåm
giúp đỡ, cung cçp rçt nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để
giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này.
Trån trọng!
Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017
Học viên

Bùi Ngọc Tuçn


MỤC LỤC

Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ .... 8
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ............................... 8
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính ................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ................................................................................................. 13
1.1.3. Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ..... 16
1.2. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ................ 18
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ......................................................................................... 18
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ......................................................................................... 21
1.2.3. Kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ................................................................................................. 24
1.2.4. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ ........................................................................................................... 28
1.3. Hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ..................................................................................................... 33
1.3.1 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ ...................................................................................................................... 33


1.3.2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông

đường bộ ........................................................................................................... 36
1.3.3. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ41
Tiểu kết chương 1.................................................................................................. 47
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY ..... 48
2.1. Đặc điểm tình hình trên địa bàn tỉnh Phú yên có liên quan đến xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ......................................... 48
2.2. Thực trạng và nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay ............................................................. 50
2.2.1. Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
tỉnh Phú Yên hiện nay ....................................................................................... 50
2.2.2. Nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay............................................................................... 57
2.3. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
tỉnh Phú Yên hiện nay........................................................................................... 61
2.3.1. Tổng hợp chung ...................................................................................... 61
2.3.2. Kết quả xử lý theo nhóm hành vi vi phạm .............................................. 64
2.4. Hoạt động kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên .................................................................... 77
2.4.1. Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp ............................................. 77
2.4.2. Kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước .................................... 79
2.4.3. Giám sát của Tòa án .............................................................................. 80
2.5. Nhận xét về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
ở tỉnh Phú Yên hiện nay........................................................................................ 80
2.5.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân .......................................................... 80
2.4.2. Hạn chế, khó khăn và nguyên nhân ........................................................ 82
Tiểu kết chương 2.................................................................................................. 87


Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT VI

PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN .............................................................................. 88
3.1. Phương hướng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên ........................................................... 88
3.1.1. Bảo đảm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ........................ 88
3.1.2. Minh bạch hóa xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ ........................................................................................................... 91
3.1.3. Bảo đảm sự kiểm soát đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ .................................................................................. 92
3.2. Giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên ...................................................................... 93
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói chung,
trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng ................................................. 93
3.2.2. Nâng cao năng lực thực thi công vụ của các cơ quan, cá nhân tham mưu
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ............. 94
3.2.3. Hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ phát hiện và ngăn chặn
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ................................ 96
3.2.4. Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ và các trường hợp sai phạm khác của
người thực thi công vụ nhà nước ...................................................................... 98
3.2.5. Giải pháp khác cho tỉnh Phú Yên ......................................................... 101
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 109


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSGT:

Cảnh sát giao thông


GTĐB:

Giao thông đường bộ

TTATGT:

Trật tự an toàn giao thông

TTKS-XLVP:

Tuần tra kiểm soát – xử lý vi phạm


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số vụ vi phạm hành chính giao thông đường bộ đã được xử lý trên địa
bàn tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) ...................................................51
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu về số vụ tai nạn giao thông đường bộ do vi phạm hành
chính gây nên ở tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) ...............................53
Bảng 2.3: Tổng hợp số vụ tai nạn giao thông đường bộ do vi phạm hành chính gây
nên theo từng khu vực (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) ...........................................56
Bảng 2.4: Tổng hợp số lượng phương tiện giao thông gia tăng ở Phú Yên từ năm
2012 đến tháng 2/2017 .............................................................................................58
Bảng 2.5: Tổng hợp tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ ở tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến tháng 02/2017 ......................................62
Bảng 2.6: Tổng hợp số vụ lái xe ô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) .........65
Bảng 2.7: Tổng hợp số vụ lái xe mô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao
thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) .........67
Bảng 2.8: Tổng hợp số vụ xe ô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao

thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) ...........................70
Bảng 2.9: Tổng hợp số vụ xe mô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia
giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) ...................70
Bảng 2.10: Tổng hợp số vụ người điều khiển phương tiện cơ giới không giấy phép khi
tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) ..........73
Bảng 2.11: Tổng hợp số vụ xe Ô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý trên
địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) ............................................75
Bảng 2.12: Tổng hợp số vụ xe Mô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý
trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) .....................................76


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Yên ..............................................................48
Hình 2.2: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ vi phạm hành chính giao thông
đường độ đã xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên ...........................................................52
Hình 2.3: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ tai nạn giao thông đường độ do vi
phạm hành chính gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên .......................................................53
Hình 2.4: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người chết do tai nạn giao thông đường
độ gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên ..............................................................................54
Hình 2.5: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người bị thương do tai nạn giao thông
đường độ bộ gây nên địa bàn tỉnh Phú Yên ..............................................................55
Hình 2.6: Đánh giá số lượng xe ô tô gia tăng ở Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 ..59
Hình 2.7: Đánh giá số lượng xe mô tô gia tăng ở Phú Yên từ năm 2012 đến năm
2016 ...........................................................................................................................60
Hình 2.8: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính – Tước giấy phép lái xe trên địa
bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 ..........................................................63
Hình 2.9: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính – Tạm giữ xe ô tô, xe mô tô trên
địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 ....................................................64
Hình 2.10: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định trên
địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 ....................................................65

Hình 2.11: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô sử dụng rượu, bia quá nồng độ
cho phép trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 .............................66
Hình 2.12: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh
CSGT trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 .................................66
Hình 2.13: Tình hình số vụ người điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ quy định trên
địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 ....................................................68
Hình 2.14: Tình hình số vụ người điều khiển xe mô tô không chấp hành hiệu lệnh
CSGT trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 .................................68


Hình 2.15: Tình hình người điều khiển xe ô tô không không giấy phép khi tham gia
giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 ...........................74
Hình 2.16: Tình hình người điều khiển xe mô tô không không giấy phép khi tham
gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 .....................74
Hình 2.17: So sánh số vụ vi phạm quy định vận tải đường bộ về chở quá người của
xe Ô tô và xe Mô tô trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 ............77


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Những năm qua, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ
nhằm tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,
Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện pháp luật về giao thông đường bộ, trong đó
có nội dung quan trọng là xử phạt vi phạm hành chính.
Dưới góc độ luật học, xử phạt vi phạm hành chính là một chế định quan
trọng của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, để điều chỉnh hoạt động xử phạt các vi
phạm hành chính. Dưới góc độ quản lý, xử phạt vi phạm hành chính là một hoạt
động để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Hoạt động xử phạt vi

phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng hướng
tới mục phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của
Nhà nước.
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở
Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi hai “dọc” pháp lý là pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính và pháp luật về giao thông đường bộ. Trong những năm qua, hai
hệ thống quy phạm này đã ngày càng được hoàn thiện, tiêu biểu là sự ra đời của
Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 (tiền thân là Pháp lệnh xử phạt vi phạm
hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm các năm 2007, 2008), Luật Giao thông
đường bộ năm 2008 (thay thế Luật này được ban hành năm 2001), cùng với chúng
là sự ra đời các văn bản hướng dẫn thi hành của khối các cơ quan hành chính nhà
nước có thẩm quyền. Điều này đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời
sống xã hội: Tổ chức giao thông đã có những chuyển biến rõ rệt; ý thức chấp hành
luật giao thông đường bộ được nâng lên, trật tự lòng đường, vỉa hè thông thoáng
hơn, hạn chế ùn tắc giao thông; công tác quản lý của Nhà nước về trật tự an toàn

1


giao thông đường bộ được tăng cường, trang bị các phương tiện kỹ thuật thuận lợi
cho sự chỉ huy thống nhất và nhanh chóng ở các đô thị. Công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật đã được quan tâm, đa dạng hóa với nhiều hình thức, nội dung phong
phú, thiết thực. Công tác tuần tra kiểm soát, xử phạt vi phạm có tác dụng răn đe,
phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, trong những năm qua, tình hình vi phạm hành chính về trật tự an
toàn giao thông (TTATGT) đường bộ ở nước ta diễn biến rất phức tạp, vi phạm
hành chính về TTATGT đường bộ còn mang tính phổ biến. Theo báo cáo của Cục
Cảnh sát giao thông (CSGT), trong năm 2016 (tính từ ngày 16/12/2015 15/12/2016) toàn quốc xảy ra 21.568 vụ tai nan giao thông (TNGT), làm chết 8.680

người, bị thương 19.280 người. So với năm 2015, giảm 1.259 vụ (-5,52 ), giảm 47
người chết (-0,54 ), giảm 1.789 người bị thương (-8,49 ), trong đó, đường bộ xảy
ra 21.094 vụ, làm chết 8.417 người, bị thương 19.035 người; đường sắt xảy ra 360
vụ, làm chết 191 người, bị thương 229 người; đường thủy nội địa xảy ra 114 vụ,
làm chết 72 người, bị thương 16 người. Đa phần tai nạn giao thông xảy ra trên
đường bộ với 97,8 , đường sắt chiếm 1,7 , đường thủy nội địa chiếm 0,5

tổng

số vụ TNGT [30].
Trong công tác tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm, lực lượng CSGT trên toàn
quốc đã tập trung vào một số chuyên đề như: xử lý vi phạm tốc độ, xe quá tải, vi
phạm nồng độ cồn, xe tự chế, xe hết niên hạn sử dụng… CSGT toàn quốc đã lập
biên bản xử lý 4.258.431 trường hợp vi phạm trật tự ATGT đường bộ, đường sắt và
đường thủy nội địa, nộp kho bạc Nhà nước 2.745,114 t đồng. Trong đó, đường bộ:
4.250.114 trường hợp, tước giấy phép lái xe 374.026 trường hợp, tạm giữ 680.851
phương tiện; đường sắt: 9.563 trường hợp; đường thủy nội địa: 223.548 trường hợp.
Các lỗi chủ yếu bị xử lý như chở hàng quá trọng tải trên đường bộ 94.188 trường
hợp; người điều khiển mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm
không cài quai đúng quy cách 800.650 trường hợp; vi phạm quy định về nồng độ
cồn 80.000 trường hợp; vi phạm của xe khách 108.388 trường hợp…[30].
Trước tình hình này, đã có nhiều nguyên nhân được được chỉ ra, trong đó có
nguyên nhân thuộc về công tác phòng chống vi phạm của cơ quan công quyền có

2


liên quan tới sự khiếm khuyết của hệ thống thi hành pháp luật như: triển khai thực
hiện luật chưa quyết liệt, chậm phát hiện vi phạm, xử phạt thiếu tính răn đe, xử phạt
thiếu nghiêm túc. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành chính là

cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc,
đặc biệt là đối với những người làm công tác quản lý nhà nước về giao thông đường
bộ hay những người nghiên cứu về khoa học luật, khoa học hành chính công.
Ở bình diện địa phương, tình trạng vi phạm hành chính trong giao thông
đường bộ cũng diễn ra phổ biến và đa dạng, trong đó có tỉnh Phú Yên. Tỉnh Phú
Yên có hệ thống giao thông khá đa dạng. Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu
trên địa bàn tỉnh gồm có: Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa; Quốc lộ
25 nối với Gia Lai; Quốc lộ 1D nối Thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn;
Quốc lộ 29 nối huyện Đông Hòa (từ Vũng Rô) với thị xã Buôn Hồ Đăk Lăk; Tỉnh
lộ 641 từ Thị trấn Chí Thạnh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai
rồi gặp lại QL1A tại Thị trấn Diêu Trì (Bình Định); Đường Phước Tân-Bãi Ngà
chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô. Những tuyến quốc lộ này là
mạch máu trung gian quan trọng của vùng. Chính vì thế, tình hình vi phạm và xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của tỉnh là một vấn đề
quan trọng. Làm tốt được hoạt động này, có nghĩa là huyết mạch giao thông của
tỉnh Phú Yên sẽ được thông suốt, góp phần lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của Phú Yên nói riêng và của kinh tế miền Nam Trung Bộ nói chung.
Trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay, tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ còn diễn biến phức tạp và liên tục có xu hướng tăng lên.
Tại Phú Yên, trong quý I/2017, toàn tỉnh xảy ra 61 vụ TNGT, làm chết 41 người, bị
thương 43 người, thiệt hại tài sản 0,73 tỉ đồng; giảm 2 mặt về số vụ và số người bị
thương so cùng kỳ. Đến nay, lực lượng Cảnh sát giao thông và Thanh tra giao thông
vận tải toàn tỉnh đã lập biên bản 220.706 vụ vi phạm, phạt tiền khoảng 4,6 tỉ đồng,
tạm giữ 25 ô tô và2.325 mô tô, tước 707 giấy phép lái xe [57]. Có nhiều nguyên
nhân được đề cập, trong đó có ý kiến cho rằng do cơ sở hạ tầng giao thông chưa đáp
ứng được yêu cầu, nhiều nơi còn xuống cấp nghiêm trọng trong khi lượng phương
tiện giao thông đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân (chủ yếu là ô tô và xe

3



máy) không ngừng tăng lên; hệ thống pháp luật giao thông đường bộ và xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ còn nhiều hạn chế, chưa
nghiêm khắc và mang tính răn đe, giáo dục cao; năng lực và đạo đức nghề nghiệp
của một bộ phận đội ngũ cảnh sát giao thông chưa cao; ý thức tham gia giao thông
của người dân còn kém… Hiện thực này đã thôi thúc tôi mong muốn tìm hiểu một
cách khoa học và có hệ thống về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên. Đây là một vấn đề chưa được nghiên cứu đối
với trường hợp ở Phú Yên một cách đầy đủ ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học,
chuyên ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính.
Vì tất cả những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - từ thực tiễn tỉnh Phú Yên” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp hệ cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp - Hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông
đường bộ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và giới nghiên
cứu khoa học. Một số công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đến là:
- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1980), Xử phạt vi phạm hành chính,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
Đề tài lần đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện về việc xây dựng một hệ
thống khoa học của việc xử phạt vi phạm hành chính. Từ đó, đề tài làm nền tảng
pháp lý nghiên cứu áp dụng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trên nhiều lĩnh
vực khác nhau trong đó có cả lĩnh vực giao thông đường bộ.
- TS. Vũ Thư (1996), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, Chuyên đề
hội thảo khoa học về giao thông, Hà Nội;
Tác giả đã đề cập sâu về nội dung chế tài hành chính cả trên phương diện lý
luận và thực tiễn. Công trình nghiên cứu đã làm tài liệu tham khảo hiệu quả cho
nhiều tác giả của các trường Đại học trong cả nước khi hoàn thành giáo trình Luật
Hành chính như Học viện Hành chính quốc gia, Đại học Luật Hà Nội…
Nhiều đề tài luận văn liên quan đến đề tài, có thể kể đến:


4


- Nguyễn Văn Đô (2007), Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự,
an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ quản lý hành
chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội;
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đô đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc khá toàn
diện với lý luận sâu và đặc biệt là bảng số liệu phong phú về nhiều nội dung đã khái
quát được khá rõ về hoạt động về đề tài nghiên cứu. Nhưng, nhìn chung thì Luận
văn của tác giả lại khá giống với một bản báo cáo của ngành Công an về hoạt động
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên phạm vi toàn quốc vì tác giả
không có sự đánh giá trên phương diện của người nghiên cứu vấn đề về những tồn
tại của hoạt động trên.
- Phạm Trung Hòa (2008), xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao
thông đường bộ của cảnh sát giao thông ở Việt Nam, Luận văn Hành chính công, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Mặc dù chỉ có độ dài 88 trang song Luận văn của tác giả Phạm Trung Hòa đã
đề cập toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB của
Cảnh sát giao thông ở Việt Nam. Là luận văn mang tính chuyên ngành sâu sắc, tác
giả đã có lý luận sâu sắc, thực tế rõ ràng và cả những giải pháp toàn diện cho hoạt
động mà đề tài đề cập đến.
- Trần Sơn Hà (2011), cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành
chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam đến năm 2020, Luận văn thạc
sỹ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
Đề cập đến nội dung khá mới mẻ và mang tính định hướng cho tương lai về
cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB
đến năm 2020 nhưng tác giả Trần Sơn Hà đã có một công trình nghiên cứu thành
công và được Hội đồng khoa học đánh giá cao. Vấn đề còn lại là làm thế nào để

những định hướng mà luận văn nêu ra sớm được áp dụng trong thực tế ở Việt Nam
hiện nay.
Qua khảo sát thấy được, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được những
vấn đề lý luận cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính như: khái niệm, đặc điểm của

5


trách nhiệm hành chính, các yếu tố của vi phạm hành chính, nội dung pháp luật điều
chỉnh công tác xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ,... Tuy nhiên, việc
thực hiện pháp luật xử phạt, xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ là
hoạt động mang tính đặc thù không giống nhau ở mỗi địa phương, do vậy, trong bối
cảnh thiếu vắng những công trình nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật xử phạt vi
phạm hành chính giao thông đường bộ ở Phú Yên, việc tác giả lựa chọn đề tài trên là
cần thiết và không bị trùng lặp với các công trình khác đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ quy định pháp luật và tình hình
thực hiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện
quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về
giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
Để hoàn thành được mục đích đặt ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, giao thông đường bộ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn
tỉnh Phú Yên trong thời gian qua. Từ đó, rút ra được những ưu điểm và hạn chế của
công tác này.
Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất một số

giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Phú Yên trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ;
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến tháng 2/2017.
- Về không gian: tỉnh Phú Yên.

6


- Về nội dung: Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát
giao thông Công an tỉnh Phú Yên.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống
hóa…để nghiên cứu các vấn đề lý luận: khái niệm, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội
dung, phương pháp và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ để thu thập các thông tin, số liệu thực tế phục vụ cho việc phân
tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu và luận chứng tính
khả thi của các giải pháp mà luận văn đưa ra.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt, xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

- Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quản lý hữu quan ở
tỉnh; là tài liệu tham khảo cho công tác bồi dưỡng, giáo dục pháp luật về xử phạt, xử
phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở một địa
phương nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được
kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

7


Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
1.1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng bộ
1.1.1. Khái niệm vi phạm hành chính
Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập nên để thực hiện việc quản
lý, phát triển xã hội. Để có thể thực hiện được vai trò đó, Nhà nước luôn phải tác
động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy tắc quản lý nhà nước được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế, trong đời sống xã hội
luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước. Các vi phạm đó diễn
ra hàng ngày trong đời sống xã hội, từ những hành vi đơn giản và phổ biến như hút
thuốc lá nơi công cộng, đến những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như
tham gia giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách

đánh võng, gây tai nạn,…hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép,
trốn thuế… Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả các lĩnh
vực quản lý nhà nước.
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi các
mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó. Tổng hợp các yếu tố đó ta
có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng
lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ.
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thành
nhiều loại khác nhau. Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:
- Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi
và được quy định trong bộ luật hình sự.
- Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưng mức độ
nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp
luật hành chính bảo vệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước.

8


- Vi phạm dân sự: là những hành vi trái luật dân sự, hay ngược lại với truyền
thống, phong tục tập quán, đạo đức xã hội được nhà nước thừa nhận, có lỗi, xâm hại
tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân và quan hệ phi tài sản có liên quan tới tài
sản được pháp luật dân sự bảo vệ.
- Vi phạm k luật: là hành vi có lỗi, trái với các quy tắc k luật lao động, học
tập, công vụ nhà nước trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học được
pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy của từng cơ quan, doanh
nghiệp quy định.
Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa ra định nghĩa pháp lý về
“vi phạm hành chính”. Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định: Vi phạm hành chính là

hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về
quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính.
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính,
đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật hành
chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó nó cũng bao gồm
các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách
thể. Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính sẽ
được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế
giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểu hiện ra bên ngoài của
hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện hay mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính.
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ
chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại
đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý. Những biểu hiện này được kiểm
soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành chính. Hành vi là
biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa

9


quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt khách quan (hậu quả, công cụ
phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời hành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt
khách quan và chủ quan. Hành vi khách quan của vi phạm hành chính có thể là
hành vi hành động hoặc không hành động. Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi
chăng nữa thì nó cũng chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp
luật. Hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành

chính, nhưng đây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính. Rất nhiều
hành vi tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính. Để phân biệt vi phạm
hành chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng chung khách thể,
người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Hành vi vi phạm hành
chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình sự.
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và
hậu quả của vi phạm hành chính vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách
quan của vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc
đe dọa xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc quản lý nhà
nước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hành chính được
biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thể
của cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân. Hậu
quả của vi phạm hành chính là kết quả của hành vi vi phạm hành chính do con
người hoặc tổ chức thực hiện. Do đó giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả vi
phạm hành chính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính
có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính; sự tồn tại
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm
hành chính dựa trên các căn cứ sau: Một là; hành vi vi phạm hành chính xảy ra
trước hậu quả xâm hại các mối quan hệ về mặt thời gian; Hai là, hành vi vi phạm
phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội;
Ba là, hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát
sinh hậu quả của hành vi vi phạm. Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan
của vi phạm còn có một số dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm, công
cụ và phương tiện vi phạm.

10


Mặt chủ quan của vi phạm hành chính
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của

chủ thể. Yếu tố cơ bản nhất của mặt chủ quan là tính có lỗi. Lỗi chính là trạng thái
tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi vi phạm
và hậu quả của hành vi đó. Yêu cầu về lỗi trong Luật hành chính không cao như
trong luật hình sự, trong nhiều trường hợp chỉ cần có lỗi nghĩa là người vi phạm biết
hoặc có thể biết tính chất sai phạm của mình là đủ để xác định vi phạm hành chính
xảy ra. Đối với luật hình sự đòi hỏi phải chính xác hơn, không chỉ xác định lỗi mà
còn phải xác định cho được hình thức và mức độ lỗi; mặt khác lỗi trong luật hình sự
chỉ đặt ra với cá nhân vi phạm, trong hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức
vi phạm. Lỗi trong vi phạm hành chính thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi
vô ý. Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Lỗi vô ý trong vi phạm hành
chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình
thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc dù họ có
đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân, trong
luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức; cá nhân
hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực
trách nhiệm pháp lý hành chính.
+ Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công
dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi,
miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh
thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải. Những người này
phải có năng lực trách nhiệm hành chính. Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính
thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để
xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp
luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi. Điều 5 Luật xử phạt
vi phạm hành chính năm 2012 xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là

11



cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành
chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm
hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính (điểm a khoản 1).
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành
chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức
phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động
có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan,
đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt.
Mặt khác, Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 còn quy định: Người
từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; Người chưa
thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật; trong trường hợp này người chưa thành niên không có tiền nộp phạt
thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải nộp thay, quy định như trên
không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm mà ở đây chúng ta hướng tới
trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho người chưa thành niên.
+ Đối với tổ chức: Pháp luật hành chính coi tổ chức là chủ thể của vi phạm
hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế. Cơ quan, tổ chức
nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh
tế, vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị xử phạt như cơ quan, tổ chức Việt Nam (trừ tổ chức
được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao).
Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm xâm hại tới. Đó chính
là các quan hệ xã hội được các quy tắc quản lý nhà nước bảo vệ. Các quan hệ xã hội
bị/có thể bị vi phạm hành chính xâm phạm rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã
hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,...
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành các loại sau:
Khách thể chung: đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý
nhà nước, hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.

Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau
trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước. Các quan hệ này được phát

12


sinh trong cũng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, do vậy chúng có mối liên
hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước.
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo
vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính phạm xâm hại tới.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ
Trên cơ sở lý luận về vi phạm hành chính nói chung đã được phân tích ở trên,
chúng ta sẽ làm rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng.
Văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) và đường sắt là Nghị định số
46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 không đưa ra định nghĩa pháp lý thế nào là vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Điều này cũng diễn ra tương
tự với Nghị định bị thay thế trước đó là Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày
13/3/2013. Tuy nhiên hai văn bản này lại xác định phạm vi của thuật ngữ “lĩnh vực
giao thông đường bộ” theo các hiểu tại các Nghị định này. Theo Khoản 1 Điều 2
Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, “lĩnh vực giao thông đường bộ” được xác định bởi
loại phương tiện tham gia giao thông, đó là: a) Máy kéo; b) Các loại xe tương tự xe
ô tô; c) Các loại xe tương tự xe mô tô; d) Xe máy điện; đ) Các loại xe tương tự xe
gắn máy; e) Xe đạp máy.
Từ góc độ lý luận, có thể thấy đã từng có một định nghĩa pháp lý về vi phạm
hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 34/2010/NĐ–CP
ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định: “Vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy

định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà
không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính…” .
Như vậy, điều luật này đã đưa ra định nghĩa pháp lý về vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ. Qua định nghĩa này, có thể thấy được các dấu
hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là:

13


tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, có lỗi, tính
trái pháp luật hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ có đặc điểm của vi phạm
hành chính nói chung, song bên cạnh đó nó cũng có những đặc điểm riêng sau đây:
- Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là
những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giao thông đường bộ được bảo vệ bởi
các quy phạm pháp luật hành chính.
- Đặc trưng của cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ thường là sử dụng kết cấu trực tiếp. Việc xác định vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ được quy định tập trung và chủ yếu ở văn bản
chuyên ngành về giao thông đường bộ, chứ không theo lối kết cấu dẫn chiếu như
một số lĩnh vực khác – nơi mà việc xác định vi phạm thường phải căn cứ vào các
văn bản pháp luật chuyên ngành khác, ví dụ như lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Tính chất và mức độ hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại thực tế và hành vi đó gây ra
hoặc có thể gây ra cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và của chính chủ
thể vi phạm.
- Giao thông đường bộ được tạo thành bởi nhiều thành phần, dẫn đến hoạt
động bảo vệ trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật quy định khá đa
dạng và phong phú, bao gồm các nội dung: bảo vệ quy tắc giao thông đường bộ,

phương tiện tham gia giao thông đường bộ, về kết cấu hạ tầng giao thông đường
bộ, quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông và về vận tải
đường bộ.
Xuất phát từ tính đa dạng và phong phú của các hoạt động bảo vệ trật tự an
toàn giao thông đường bộ, nên vi phạm hành chính trong lĩnh vực này được pháp
luật quy định có đặc điểm khá rộng và đa dạng tương ứng với các nội dung được
pháp luật về giao thông đường bộ bảo vệ. Đặc điểm này được thể hiện tập trung ở
Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các Nghị định đã hết hiệu lực như: Nghị định
số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định số

14


33/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị
định 34/2010/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ (có hiệu lực 10/11/2012), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 (thay
thế Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định 71/2012/NĐ-CP), và Nghị định hiện
hành: Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 Quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Một vấn đề quan trọng khi nghiên cứu vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ đó là việc phân định giữa vi phạm hành chính và tội phạm về
giao thông đường bộ.
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự có thể hiểu: tội phạm về giao thông
đường bộ là các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự
Việt Nam, xâm hại tới các quan hệ xã hội về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.
Các tội phạm về giao thông đường bộ được quy định tại 06 điều luật trong
chương XIX, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Các tội
xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Đó là các điều luật từ Điều 203

đến Điều 207 (Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ; Điều 203. Tội cản trở giao thông đường bộ; Điều 204. Tội đưa
vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; Điều
205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ; Điều 206. Tội tổ chức đua xe trái phép; Điều
207. Tội đua xe trái phép).
Vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ đều là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội, điểm khác nhau ở đây chỉ là “mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi”. Hành vi vi phạm hành chính về giao thông đường bộ
ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với hành vi bị coi là tội phạm về môi trường. Để xác
định mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm
nói chung, có thể dựa trên những tiêu chí sau: i) Tính chất của khách thể bị xâm
hại; ii) Chủ thể; iii) Mức độ hậu quả; iv) Số lượng tang vật, hàng hóa,…vi phạm; v)

15


×