Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
.............../ ...............

BỘ NỘI VỤ
......../ ........

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ KIM LOAN

QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM
VỀ THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ - TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS – TS LÊ THỊ HƢƠNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực, phản ánh khách quan quá trình nghiên
cứu. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.


Học viên

Nguyễn Thị Kim Loan


Lời Câm Ơn
Với lòng kính trọng và sự tri ån såu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời
câm ơn chån thành đến quý Thæy, Cô Học viện Hành chính Quốc
gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tôi xin chån thành câm ơn Giâng viên PGS .
TS. Lê Thị Hương đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc
định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu. Cô
luôn động viên và täo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn
thành luận văn này.
Tôi cũng xin câm ơn các bän bè, đồng nghiệp đã luôn quan tåm
giúp đỡ, cung cçp rçt nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để
giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này.
Trån trọng!
Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017
Học viên

Nguyễn Thị Kim Loan


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM

THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ ............... 6
1.1. Nhận thức chung về hoạt động điều tra các vụ án hình sự .............................. 6
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động điều tra các vụ án hình sự .................6
1.1.2. Vai trò của hoạt động điều tra các vụ án hình sự ..................................12
1.2. Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động điều tra các
vụ án hình sự .........................................................................................................13
1.2.1. Khái niệm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động điều tra
các vụ án hình sự .............................................................................................. 13
1.2.2. Đặc điểm của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................18
1.2.3. Ý nghĩa của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................19
1.2.4. Nội dung của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự ........................................................................................21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về
thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự .............................................26
1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự ............................................................... 26
1.3.2. Các điều kiện bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự .......................................................................30
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM THÂN
THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC
TRẠNG THỰC HIỆN TẠI TỈNH PHÚ YÊN ................................................................. 35


2.1. Quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự .....................................................................................35
2.1.1. Quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001) ..................................................................................35

2.1.2. Quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự theo Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật hiện
hành ..................................................................................................................41
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm thân thể
trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự tại tỉnh Phú Yên ...................................57
2.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm
thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự .......................................57
2.2.2. Đánh giá thực trạng thực hiện các quy định pháp luật về quyền bất khả
xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự tại tỉnh Phú
Yên ....................................................................................................................63
Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM
THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN........................................................................................... 69
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quyền bất khả xâm phạm thân thể
trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự ...........................................................69
3.1.1. Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ......................69
3.1.2. Xuất phát từ yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và
cải cách tư pháp ............................................................................................... 71
3.1.3. Xuất phát từ yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế ............................ 72
3.2. Giải pháp hoàn thiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự .....................................................................................73
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về thân thể
trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự .....................................................73


3.2.2. Quy định chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức
trong việc bảo vệ các quyền con người trong điều tra vụ án hình sự ..............80
3.2.3. Bảo đảm thực hiện dân chủ, cơ chế giám sát trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự, hoàn thiện chế độ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng ...............83

3.2.4. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong hoạt động tố tụng.....85
3.2.5. Xử lý vi phạm quyền con người trong điều tra vụ án hình sự ................86
KẾT LUẬN............................................................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 91


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- TTHS: Tố tụng hình sự
- VAHS: Vụ án hình sự
- VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Quyền con người là một phạm trù chính trị - xã hội – lịch sử, phản ánh
nhu cầu, năng lực vốn có, chỉ có ở con người dưới hình thức các chuẩn mực
khách quan được xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng các quy định của pháp
luật.
Hiến pháp năm 2013, với rất nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng ở
Chương II, thể hiện rõ sự thay đổi trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các
quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là các quyền dân sự, chính trị ở
Việt Nam.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong các quyền cơ bản
của con người, được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc
năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights - UDHR), Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (International Covenant on Civil and
Political Rights - ICCPR) và được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự
kiện gia nhập Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày

24/9/1982.
Nếu như Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định chung chung, đồng nhất
quyền con người và quyền công dân thì Hiến pháp năm 2013 đã quy định theo
hướng: quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự nhiên, quyền bẩm
sinh của con người, đồng thời quy định rõ nội hàm và các yêu cầu của quyền
này. Việc Hiến định rõ ràng, cụ thể nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng, nhằm ngăn chặn mọi hành vi tùy tiện xâm phạm về thân thể, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm con người, có cơ chế để bảo vệ tốt hơn quyền con người
nhất là trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
Hoạt động điều tra là quá trình tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Hoạt động điều tra các
1


vụ án hình sự giúp tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công
dân, cùng với các hoạt động tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào
cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.
Bảo vệ quyền con người nói chung và quyền bất khả xâm phạm về thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự là một bộ phận của bảo đảm
quyền con người nói chung được ghi nhận trong các đạo luật của hệ thống
pháp luật Việt Nam. Bảo vệ quyền con người là Nhà nước bằng sức mạnh và
ý chí của mình để các quyền con người không bị xâm phạm và được thực thi
trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế - xã hội.
Để quá trình điều tra vụ án hình sự thật sự khách quan, toàn diện, đầy
đủ thì việc đảm bảo quyền con người nhất là quyền bất khả xâm phạm về thân
thể là một yêu cầu quan trọng, tất yếu.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quyền bất khả xâm phạm
về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự - Từ thực tiễn tỉnh
Phú Yên” để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật chuyên ngành Luật Hiến pháp Luật hành chính của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong khoa học pháp lý nước ta, vấn đề bảo đảm quyền con người
được nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình với các góc độ khác nhau,
chẳng hạn:
Từ góc độ nghiên cứu về quyền con người nói chung có công trình sau:
- Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin khoa học xã
hội của GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Khiêm Ích (1995).
- Quyền con người và luật quốc tế về quyền con người, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội của PGS.TS Chu Hồng Thanh (1997).
Từ góc độ nghiên cứu quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp có một
số công trình như:
2


- Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam, Nhà xuất
bản Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (2010);
- Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc Gia (2011);
- Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của
Ngô Thị Thanh, (2013), Luận văn thạc sĩ Luật học Khoa Luật - Đại học quốc
gia Hà Nội;
- Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học của Lại Văn Trình (2011)
Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Dưới góc độ nghiên cứu về Luật Hiến pháp có:
- Nguyên tắc hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân, Luận văn thạc sĩ của Lưu Đức Quang (2016), Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh;
- Nguyên tắc Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân của tác
giả Lưu Đức Quang (2016), Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Xây dựng và hoàn thiện đảm bảo pháp lý thực hiện quyền con người

trong điều kiện đổi mới ở nước ta hiện nay, Nguyễn Văn Mạnh (1995), Luận
án Tiến sĩ Luật học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
- Đảm bảo quyền con người trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam,
Tường Duy Kiên (2004), Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh…
Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong nhiều tạp chí pháp luật, tạp
chí nhân quyền và các hội thảo khoa học trên toàn quốc. Trong các công trình
nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu các vấn đề về
bảo đảm quyền con người nói chung chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên
cứu một cách cụ thể về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt
3


động điều tra các vụ án hình sự. Vì vậy, đây là công trình mới nghiên cứu có
tính hệ thống và đi vào chuyên sâu so sánh các biện pháp bảo vệ quyền bất
khả xâm phạm về thân thể qua các bản Hiến pháp Việt Nam các thời kỳ, các
quy định về hoạt động điều tra các vụ án hình sự và đưa ra nhận định, đánh
giá về các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Phú Yên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là xây dựng luận cứ khoa học cho các
giải pháp hoàn thiện quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự tại trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về quyền bất khả xâm phạm về thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự trên cơ sở là một quyền của con
người.

- Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi các quy định Hiến pháp và các
quy định pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự tại tỉnh Phú Yên.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và bảo vệ quyền bất khả xâm
phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân
thể theo Hiến pháp năm 2013 và các văn bản pháp luật liên quan trong hoạt
động điều tra các vụ án hình sự.
4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: nghiên cứu tại tỉnh Phú Yên.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn lấy lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cũng như quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về
quyền con người nói chung và quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự nói riêng.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng
hợp, lịch sử, so sánh, thống kê...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau:
- Góp phần làm rõ hơn căn cứ lý luận và thực tiễn về quyền bất khả
xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
- Đề xuất và đưa ra những quan điểm, giải pháp hoàn thiện quyền bất
khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
- Những kết luận và những giải pháp rút ra từ luận văn có thể làm tài

liệu tham khảo về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quyền bất khả xâm phạm thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự
Chương 2: Quy định pháp luật về quyền bất khả xâm phạm thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự và thực trạng thực hiện tại tỉnh Phú Yên
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện quyền bất khả xâm phạm về thân
thể trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Phú Yên
5


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BẤT KHẢ
XÂM PHẠM THÂN THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Nhận thức chung về hoạt động điều tra các vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm hoạt động điều tra các vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục
vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là
hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt động điều tra được nhìn nhận
và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị,
chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội
phạm ở từng nước.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam tồn tại các quan điểm khác nhau về
hoạt động điều tra: Từ điển Luật học giải thích rằng: “Điều tra là công tác
trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”[ 36].
Trong cuốn Tìm hiểu Luật Tố tụng hình sự, một nhóm tác giả cùng

thống nhất giải thích: “Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình
sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự
quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm
sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc
xét xử của Tòa án”[3]; hoặc, “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng
hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ
luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội”[7];
hoặc “Điều tra tội phạm là giai đoạn đầu, giữ vai trò rất quan trọng trong tố
tụng hình sự (TTHS). Giai đoạn này kéo dài, rất phức tạp và có ý nghĩa chi
phối cả tiến trình tố tụng” [18].
6


Cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay cho rằng điều tra là hoạt động
của cơ quan điều tra trong điều tra vụ án hình sự. Quan điểm này cho rằng
điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do
một cơ quan điều tra thực hiện. Cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ
ràng giữa chức năng của cơ quan điều tra với hoạt động điều tra, đồng nhất
giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, coi hoạt động điều tra gồm mọi hoạt
động tố tụng trong giai đoạn điều tra; nhìn nhận về hoạt động điều tra mang
tính cục bộ, phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Trên thực tế hoạt động điều tra được
tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử
vụ án hình sự với những mục đích khác nhau để xác định sự thật khách quan
của vụ án.
Thực chất, các định nghĩa trên là định nghĩa về hoạt động điều tra của
cơ quan điều tra nên nó thiếu tính toàn diện, chưa nói lên được tính bản chất
và nội hàm của loại hoạt động này. Quan điểm này chỉ thừa nhận cơ quan
điều tra là chủ thể duy nhất có thẩm quyền được phép thực hiện các hoạt động
điều tra. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quy định của Bộ luật Tố tụng hình

sự (BLTTHS) về thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra. Khoản 1, Điều
65, BLTTHS năm 2003 quy định thẩm quyền thu thập chứng cứ là thẩm
quyền thực hiện các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và
Tòa án. Ba cơ quan này được tiến hành tất cả các hoạt động điều tra đã được
quy định trong BLTTHS. Theo Điều 88 BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền
thu thập chứng cứ là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (cơ quan tiến
hành tố tụng gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) có quyền tiến hành hoạt
động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này. Theo tinh thần của
điều luật nêu trên bình đẳng về thẩm quyền được tiến hành tất cả các hoạt
7


động điều tra. Thực hiện hoạt động điều tra chính vì vậy không phải là độc
quyền của cơ quan điều tra.
Cách hiểu thứ hai coi hoạt động điều tra là hoạt động của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.
Điểm khác biệt lớn nhất của quan điểm này so với quan điểm thứ nhất là đã
nhìn nhận chủ thể của hoạt động điều tra rộng hơn. Tuy nhiên cách hiểu thứ
hai lại nhầm lẫn giữa các hoạt động của cơ quan điều tra với hoạt động điều
tra; giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của các cơ
quan điều tra và Viện kiểm sát.
Về mặt luật thực định, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm
pháp lý về “hoạt động điều tra” và cũng chưa được giải thích chính thức bởi
các cơ quan có thẩm quyền. Trong tất cả các BLTTHS, chưa có điều luật nào
giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra. Một số giải thích không
chính thức như đã nói trên đây chưa đủ để có một nhận thức đúng về hoạt
động điều tra.
Mặc dù hoạt động điều tra đã được quy định trong các văn bản pháp
luật tố tụng hình sự, hoạt động điều tra được các cơ quan tố tụng hình sự thực

hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng khoa
học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống
nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm
điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều
tra với hoạt động điều tra. Chính vì vậy mà vô tình đồng nhất hoạt động điều
tra với các hoạt động khác của cơ quan điều tra, bó hẹp phạm vi chủ thể,
phạm vi thời gian của hoạt động điều tra. Trong khoa học pháp lý Việt Nam
hoạt động điều tra chưa được tập trung sự chú ý nghiên cứu sâu sắc, mà còn
đang bỏ ngỏ nên có những cách hiểu, nhận thức khác nhau về hoạt động điều
tra là không thể tránh khỏi.
8


Theo tác giả Nguyễn Viết Hoạt: “Từ giác độ bản chất nhận thức của
hoạt động điều tra chúng ta có thể định nghĩa hoạt động điều tra là một sự
kết hợp các thao tác có tính chất tìm kiếm, nhận thức, xác nhận phù hợp với
đặc thù của các dấu vết tội phạm, phát hiện, thu giữ, củng cố một cách có
hiệu quả các thông tin có giá trị chứng minh trong các dấu vết đó theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện
nhằm mục đích thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự
kiện phạm tội” [11].
Theo Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBNTQH11 về tổ chức điều tra hình sự
ngày 20/08/2004 quy định một số cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành một
số hoạt động điều tra bao gồm: Bộ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, Cơ
quan kiểm lâm, Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Cảnh sát nhân dân, An
ninh nhân dân và các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân. Như vậy chủ thể
hoạt động điều tra ngoài điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán còn có các
chủ thể khác thuộc các cơ quan nêu trên.
Cách tiếp cận như vậy về hoạt động điều tra là cơ sở có thể cho phép
chúng ta làm rõ cơ cấu bên trong của hệ thống cấu thành của hoạt động điều

tra, phân loại hoạt động điều tra; phân biệt các hoạt động điều tra giống nhau
nhưng có mục đích rất khác nhau ví dụ như khám nghiệm, khám xét, khám
người; làm rõ hơn khả năng phục vụ hoạt động nhận thức của từng hoạt động
điều tra, cụ thể trên cơ sở xác định vị trí của nó trong hệ thống các hoạt động
điều tra và cho phép thực hiện việc lựa chọn đúng hoạt động điều tra cần thiết
trong thực tiễn.
Hoạt động điều tra là một công cụ, phương tiện khám phá tội phạm, có
bản chất và nội hàm của hoạt động nhận thức. Để nâng cao hiệu quả thực tiễn
của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đòi hỏi chủ thể phải nhận thức

9


đúng bản chất, tuân thủ những quy luật hoạt động nhận thức trong việc áp
dụng các hoạt động điều tra trong thực tiễn.
Theo quan điểm của tác giả, hoạt động điều tra các vụ án hình sự là
các hoạt động trong tố tụng hình sự do các cơ quan có thẩm quyền điều tra,
chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật thực hiện nhằm xác định sự
thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Từ khái niệm về hoạt động điều tra các vụ án hình sự nêu trên, có thể
rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của hoạt động điều tra như sau:
- Hoạt động điều tra các vụ án hình sự chỉ phát sinh khi có hành vi nguy
hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm được thực hiện.
Khi một hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu của tội phạm thì vụ án
phải được khởi tố để điều tra. Điều 13 BLTTHS năm 2003 quy định: “Khi phát
hiện có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng
các biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm”.
- Hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình tự, thủ
tục, thẩm quyền do pháp luật quy định.

Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người theo
luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra (như khám nghiệm
hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại…).
Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố
tụng được tiến hành, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải bí mật. Việc giữ
bí mật điều tra là yêu cầu nghiệp vụ, một nguyên tắc được luật định có ý
nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động điều tra, làm sáng
tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan nhằm
bảo vệ trật tự pháp luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công
10


dân. Vì vậy, hoạt động điều tra gắn liền chặt chẽ với quyền con người. Hoạt
động điều tra là một loại hoạt động đặc thù của Nhà nước, thực hiện quyền
lực Nhà nước vì nó đụng chạm nhiều tới các quyền con người, quyền công
dân. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự là vừa đấu tranh chống tội phạm vừa bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước ban hành nhiều quy
định pháp luật nhằm hạn chế và loại trừ những tiêu cực có thể xảy ra trong
quá trình điều tra, truy tố tội phạm. Đồng thời, để đạt được mục đích của hoạt
động điều tra, Nhà nước ban hành một số quy định hạn chế quyền con người
trong đó có các biện pháp tác động đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể
của con người. Trong hoạt động điều tra các VAHS có thể áp dụng các biện
pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng các biện pháp cưỡng
chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể. Do đó,
thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền con người, quyền công dân.
- Trong quá trình điều tra vụ án các cơ quan có thẩm quyền điều tra
phải tuân thủ triệt để các quy định pháp luật, chỉ được áp dụng những biện
pháp, những phương tiện theo quy định của pháp luật để làm rõ vụ án. Kết
quả tiến hành các hoạt động điều tra được phản ánh trong các văn bản tố

tụng có giá trị pháp lý.
Tùy theo đặc điểm của VAHS mà Cơ quan điều tra áp dụng một cách
linh hoạt, sáng tạo, kịp thời các chiến thuật và phương tiện điều tra phù hợp
với các tình huống cụ thể. Đồng thời, trong quá trình điều tra cán bộ điều tra
trực tiếp áp dụng hoặc yêu cầu, đề nghị các lực lượng khác áp dụng các biện
pháp và phương tiện nghiệp vụ để nhanh chóng khám phá tội phạm.
Hoạt động điều tra là hoạt động chỉ được tiến hành bởi các cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật với trình tự, thủ tục chặt chẽ, bảo
đảm giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, kịp thời, bảo vệ lợi ích của Nhà

11


nước, quyền lợi hợp pháp của người dân đồng thời tôn trọng và bảo đảm
quyền con người của người tham gia tố tụng.
Ngoài ra, hoạt động điều tra có ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền
quan trọng nhất của con người như quyền sống, quyền tự do, quyền bất khả
xâm phạm về thân thể… Do đó, hoạt động điều tra chịu sự kiểm tra, giám sát
chặt chẽ của nhiều cơ chế kiểm tra giám sát khác nhau. Cơ chế giám sát việc
thực hiện hoạt động điều tra ở nước ta được thể hiện rõ nét nhất ở vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo hoạt
động điều tra được thực hiện đúng quy định pháp luật, bảo đảm các quyền con
người trong quá trình điều tra. Sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của Viện kiểm
sát trong hoạt động điều tra được thể hiện thông qua việc luật quy định các
nhiệm vụ, quyền hạn cho Viện kiểm sát để đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm
hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của cơ
quan điều tra, yêu cầu điều tra, quyết định áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn
chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan
điều tra…)
1.1.2. Vai trò của hoạt động điều tra các vụ án hình sự

Hoạt động điều tra có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình
sự, phục vụ cho việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng đó là:
“Phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.”
Hoạt động điều tra có vai trò trong chứng minh sự thật vụ án theo
yêu cầu pháp luật. Chỉ sau khi chứng minh sự thật của vụ án mới có đủ căn
cứ để khẳng định một người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội, là cơ sở
để Tòa án quyết định áp dụng hình phạt. Tội phạm chỉ có thể được chứng
minh làm rõ bằng con đường chứng minh, bởi vì tội phạm xảy ra trong quá
khứ so với thời điểm tiến hành điều tra. Tội phạm là sự kiện vật chất, do đó
12


có thể được chứng minh bằng những tài liệu thực tế, đó là những chứng cứ
pháp lý.
Hoạt động điều tra có nhiệm vụ thu thập chứng cứ làm rõ sự thật khách
quan của vụ án, kể cả chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội. Kết quả xác minh
tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu là cơ sở
để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, quyết định việc khởi tố vụ án, khởi
tố bị can; quyết định hạn chế quyền con người, quyền công dân đối với người
phạm tội, thay đổi giai đoạn tố tụng hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng. Tác
động của kết quả điều tra không chỉ giới hạn ở số lượng, chất lượng chứng cứ
mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm, áp dụng pháp luật của cơ quan điều
tra. Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra tất yếu sẽ ảnh hưởng
tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự, như truy tố, xét xử oan người vô
tội, bỏ lọt tội phạm [19].
Ngoài ra, hoạt động điều tra tội phạm còn phục vụ nhiều yêu cầu
nghiệp vụ khác, tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công
dân, góp phần có hiệu quả vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
trong toàn xã hội.

1.2. Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm quyền bất khả xâm phạm thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự
Quyền con người là những giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của
tất cả các dân tộc trên thế giới. Đây là tiếng nói chung, mục tiêu chung và
phương tiện chung của toàn nhân loại để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh
phúc của mọi con người [14, tr. 19].
Quyền con người là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều định nghĩa
khác nhau. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ
13


thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc
tế có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên hiệp quốc về quyền con
người thường được các nhà nghiên cứu trích dẫn. Theo định nghĩa này, quyền
con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá
nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.
Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã hội cao
quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự
nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân
nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các
quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế.
Ở Việt Nam, thuật ngữ quyền con người lần đầu tiên được hiến định
trong Hiến pháp năm 1992 “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn
trọng”. Từ quy định chung, cũng trong điều 50 đã cho thấy rằng quyền con
người sẽ “thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp
và luật”. Trên cơ sở đó, nhiều quy định của quyền công dân (thể hiện sự cụ

thể hóa quyền con người) được ban hành và chi tiết.
Theo quy định của Hiến pháp, quyền con người được gắn liền với
quyền công dân và không có sự tách biệt hoàn toàn. Quyền công dân là một
bộ phận của quyền con người được pháp luật quốc gia ghi nhận và bảo vệ.
Quyền công dân chính là quyền con người trong một xã hội nhất định được
pháp luật của quốc gia cụ thể ghi nhận. Quyền con người và quyền công dân
trong mối quan hệ thống nhất biện chứng đều ghi nhận các quyền của cá
nhân. Song, không thể đồng nhất hai khái niệm đó xét cả hai phương diện chủ
thể của quyền và khái niệm của quyền. Quyền con người là khái niệm rộng
hơn, nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền cá nhân ở phạm vi quốc tế,
14


vừa là quyền công dân ở trong phạm vi từng quốc gia nhất định. Một mặt,
quyền con người không lọai trừ khái niệm quyền công dân, bao hàm quyền
công dân như là một bộ phận của quyền con người. Ngược lại, quyền công
dân là khái niệm hẹp hơn. Trong ý nghĩa pháp lý, khái niệm quyền công dân
hẹp hơn chỉ trong phạm vi từng quốc gia nhất định, không bao quát hết các
quyền của cá nhân con người. Về phương diện chủ thể, quyền con người
ngoài những cá nhân được xác định là công dân, còn những người không phải
là công dân nước đó (người nước ngòai, người không có quốc tịch, người bị
pháp luật tước quyền công dân). Những người này tuy không được hưởng các
quyền công dân nhưng vẫn có các quyền về con người với tư cách là một thực
thể tự nhiên – xã hội.
Ngày nay, với sự phát triển của giá trị nhân đạo, cộng đồng quốc tế
ngày càng quan tâm và có ảnh hưởng nhiều hơn trên lĩnh vực quyền con
người, con người không chỉ tồn tại với tư cách là một thành viên công dân của
một quốc gia mà còn là thành viên “công dân” của cộng đồng quốc tế. Có thể
nói, ở một mức độ nhất định thì trong mỗi nước, việc ghi nhận và bảo vệ
quyền công dân tức là đã ghi nhận và bảo vệ quyền con người nói chung được

pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận [15, tr.58-64] [9, tr.25-35].
Hiến pháp năm 2013 ban hành đã quy định chi tiết hơn và làm rõ nội
dung quyền con người, quyền công dân, trách nhiệm của Nhà nước và xã hội
trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bổ
sung một số quyền mới là kết quả của quá trình đổi mới 30 năm qua ở nước
ta, phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Quyền con người và việc bảo đảm các quyền con người trong các lĩnh
vực pháp lý cụ thể được quy định phụ thuộc vào tính chất của từng ngành luật
và chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực đó. Quyền con người trong tố tụng
15


hình sự Việt Nam là những quyền cơ bản thuộc về con người, được luật pháp
quốc tế ghi nhận và được thể hiện cụ thể trong các quy định của BLTTHS ở
các quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Tương ứng là nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, nghĩa vụ
của những người tham gia tố tụng khác phải đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh
và đầy đủ, tránh mọi sự xâm hại [10, tr.43].
Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự được quy định trên cơ sở
cân nhắc rằng hoạt động tố tụng hình sự gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm
trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nước là phát hiện nhanh chóng, kịp
thời và xử lý công minh người phạm tội; nhưng đồng thời hoạt động tố tụng hình
sự cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ bản của con người. Quyền bất khả
xâm phạm về thân thể là một trong các quyền cơ bản của con người trong hoạt
động tố tụng hình sự, được ghi nhận tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp
Quốc năm 1948, Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị năm
1966 và được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện gia nhập Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24-9-1982.
Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định chung chung, giới hạn trong phạm vi

quyền công dân trong khi Hiến pháp năm 2013 đã quy định theo hướng:
quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền tự nhiên, quyền bẩm sinh của
con người, đồng thời quy định rõ nội hàm và các yêu cầu của quyền này. Việc
Hiến định quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 là sự ghi nhận thành
quả đạt được trong việc phát triển, bảo đảm quyền con người, quyền công
dân. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra những
yêu cầu mới trong việc phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh và các văn kiện của Đảng đã khẳng định:
“Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm
lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [6, 34, tr.85] và quan tâm
16


hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con
người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực
hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền con
người cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật
trong nước. Tại Điều 5 của Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm
1948 có nêu rằng “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô
nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” và Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị năm 1966 nêu rõ “Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc
trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp phẩm giá; không ai có thể bị sử
dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ý tự
nguyện của người đó”.
Bên cạnh đó, vấn đề tra tấn còn được đề cập trong một số điều ước
quốc tế về quyền con người, đặc biệt là Công ước về chống tra tấn và các hình
thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm năm
1984 (Việt Nam gia nhập công ước này từ 28-11-2014).
Từ các quy định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong các văn

bản pháp lý quốc tế, có thể hiểu: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự là quyền được pháp luật bảo hộ về tự do
thân thể, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức
đối xử nào khác xâm phạm trái pháp luật thân thể trong quá trình cơ quan có
thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra các vụ án hình sự.
Bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền cơ bản của
con người được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của
nước ta. Đặc biệt, trong tố tụng hình sự pháp luật cho phép trong những
trường hợp nhất định các biện pháp cưỡng chế hình sự nói chung, biện pháp
hạn chế quyền bất khả xâm phạm về thân thể có thể được áp dụng nhằm phát
17


hiện nhanh chóng, xử lý kịp thời, công minh tội phạm và người phạm tội thì
việc bảo đảm quyền này càng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
quyền con người.
1.2.2. Đặc điểm của quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động
điều tra các vụ án hình sự
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự là quyền tự nhiên của con người.
Dù là công dân Việt Nam hay bất cứ người phạm tội, người không có
quốc tịch hay người nước ngoài. Đây là quyền bẩm sinh, vốn có của con
người và được áp dụng bình đẳng, không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì
cho tất cả các chủ thể tham gia vào họat động điều tra các vụ án hình sự. Các
cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ tôn trọng và đảm bảo quyền bất khả
xâm phạm về thân thể của các chủ thể có liên quan trong quá trình điều tra
các vụ án hình sự. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều
tra các vụ án hình sự là một trong những quyền con người được Hiến pháp
nước ta ghi nhận, bảo vệ và được cụ thể hóa trong các luật có liên quan nhất
là Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong

hoạt động điều tra các vụ án hình sự chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể trong hoạt động điều tra các vụ
án hình sự có thể bị hạn chế trong một số trường hợp theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
Tố tụng hình sự là hoạt động phát hiện và xử lý hành vi nguy hiểm cao
cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm nhằm bảo vệ trật tự pháp
luật, lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, hoạt
động tố tụng gắn liền chặt chẽ với quyền con người. Để đạt được mục đích
phát hiện, điều tra, xử lý chính xác, khách quan tội phạm và người phạm tội,
18


×