Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Bán đấu giá trong thi hành án dân sự (từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc) (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.2 MB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHÙNG HUY THỌ

BÁN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHÙNG HUY THỌ

BÁN ĐẤU GIÁ TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
(TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02


NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ ĐỨC ĐÁN

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác, trung thực và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ

Phùng Huy Thọ


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐGTS

: Bán đấu giá tài sản

BLDS

: Bộ luật dân sự

HĐND

: Hội đồng nhân dân

NXB


: Nhà xuất bản

QPPL

: Quy phạm pháp luật

THADS

: Thi hành án dân sự

THPL

: Thực hiện pháp luật

UBND

: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BÁN ĐẤU GIÁ TÀI
SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ........................................................ 9
1.1. Khái quát chung về thi hành án dân sự và bán đấu giá tài sản .................. 9
1.2. Cơ sở lý luận về chính sách công ............................................................. 18
1.3. Chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ......................... 21

1.4. Các căn cứ pháp lý trong việc thực thi chính sách bán đấu giá trong thi
hành án dân sự. ................................................................................................ 34
1.5. Nội dung trình tự, thủ tục bán đấu giá trong thi hành án dân sự ............. 37
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH BÁN ĐẤU GIÁ
TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH VĨNH PHÚC .......... 43
2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh vĩnh phúc ảnh hƣởng đến thực thi
chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ................................. 43
2.2. Thực trạng thực thi chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân
sự ở tỉnh vĩnh phúc .......................................................................................... 45
2.3. Về kết quả thực thi chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân
sự ở tỉnh vĩnh phúc .......................................................................................... 48
2.4. Đánh giá chính sách bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự tại tỉnh
vĩnh phúc ......................................................................................................... 52
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH
BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ .................... 65
3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách bán đấu giá tài sản và định hƣớng phát
triển của bán đấu giá tài sản ............................................................................ 65
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thực thi chính sách bán đấu
giá tài sản trong thi hành án dân sự ở tỉnh vĩnh phúc trong thời gian tới ....... 69
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 84


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự đƣợc quy định
khá sớm, xuất hiện lần đầu tiên trong Pháp lệnh THADS ngày 28/8/1989
(Điều 28 quy định về bán đấu giá tài sản đã kê biên). Bán đấu giá tài sản
trong THADS là một hình thức xử lý tài sản bị kê biên cƣỡng chế và có thể
coi là tiền thân của quy định về Bán đấu giá tài sản nói chung.

Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng
trong quá trình xử lý tài sản của ngƣời phải thi hành án khi bị cƣỡng chế thi
hành án để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho Nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân
và để Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành trên thực tế.
Với vai trò quan trọng của Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự,
Đảng và Nhà nƣớc đã rất quan tâm và ngày càng hoàn thiện hệ thống chính
sách và hệ thống pháp luật về Bán đấu giá tài sản, đặc biệt là bán đấu giá tài
sản trong thi hành án dân sự. Kể từ pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989,
đã có rất nhiều văn bản đƣợc ban hành, trong đó một số văn bản quan trọng
nhƣ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung Luật Thi hành
án dân sự năm 2014; đặc biệt là sự ra đời của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP
ngày 04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về BĐGTS (Sau đây gọi là Nghị
định số 17/2010/NĐ-CP), ra đời trên cơ sở kế thừa Nghị định số 05/2005/NĐCP ngày 18/01/2005 đã góp phần đƣa công tác BĐGTS trong cả nƣớc nói
chung và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng cơ bản đi vào nền nếp. Việc
triển khai thực hiện Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, Luật Thi hành án dân sự
và các văn bản hƣớng dẫn nhìn chung nhận đƣợc sự quan tâm, ủng hộ của các
cấp, các ngành; trình tự, thủ tục BĐGTS bảo đảm chặt chẽ và khách quan
hơn, tính chuyên nghiệp của hoạt động bán đấu giá từng bƣớc đƣợc nâng lên,
chủ trƣơng xã hội hóa tiếp tục đƣợc đẩy mạnh, đạt đƣợc kết quả nhất định và
vai trò quản lý của Nhà nƣớc đối với hoạt động BĐGTS tiếp tục đƣợc tăng
1


cƣờng. Cùng với Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, một số văn bản luật có liên
quan nhƣ: Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật Đất đai năm 2013, Luật xử lý
vi phạm hành chính 2012 ... đƣợc ban hành trong những năm gần đây đã chứa
đựng nhiều tƣ duy pháp lý mới đáp ứng yêu cầu Nghị quyết số 08 - NQ/TW
ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tƣ pháp trong thời gian tới (Sau đây gọi là Nghị quyết số 08 NQ/TW), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

đến 2010, định hƣớng đến năm 2020 (Sau đây gọi là Nghị quyết số 48 NQ/TW) và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến 2020 (Sau đây gọi là Nghị quyết
số 49 - NQ/TW).
Dƣới góc độ thực tiễn, sau hơn 25 năm triển khai thực thi hoạt động
bán đấu giá tài sản trong THADS ở Việt Nam, pháp luật điều chỉnh trong lĩnh
vực này cũng đang dần đƣợc hoàn thiện, hoạt động bán đấu giá tài sản trong
THADS đã đạt đƣợc một số kết quả đáng ghi nhận, góp phần vào việc giảm
số lƣợng án dân sự chuyển kỳ sau, quyền và lợi ích của các bên trong hoạt
động thi hành án nhìn chung đƣợc bảo đảm. Tuy nhiên, bên cạnh những kết
quả đã đạt đƣợc, khi thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS vẫn còn gặp
một số khó khăn, vƣớng mắc nhất định và cũng là bài toán nan giải cho cả
Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản và các cơ quan thi hành án dân sự nhƣ:
Tâm lý của khách hàng ngại mua tài sản thi hành án; Tài sản bán đấu giá
thành nhƣng không bàn giao đƣợc hoặc kéo dài việc bàn giao gây bức xúc
trong dƣ luận xã hội, quyền lợi của các bên trong quan hệ bán đấu giá tài sản
thi hành án chƣa đảm bảo và ngay cả uy tín của các tổ chức bán đấu giá tài
sản cũng bị ảnh hƣởng; Dừng bán đấu giá do ngƣời phải thi hành án chuộc lại
tài sản… Những khó khăn vƣớng mắc trên có nhiều nguyên nhân, một trong
những nguyên nhân quan trọng đó là do hành lang pháp lý cho hoạt động này
chƣa thực sự hoàn thiện, đang bộc lộ nhiều điểm bất cập nhƣ một số quy định
2


về trình tự, thủ tục bán đấu giá còn thiếu cụ thể, không rõ ràng dẫn đến nhiều
cách hiểu khác nhau, chế tài đối với đội ngũ đấu giá viên vi phạm nguyên tắc
nghề nghiệp còn chƣa phù hợp v.v...
Dƣới góc độ lý luận, trong những năm qua đã có không ít những công
trình nghiên cứu về Bán đấu giá tài sản nói chung và bán đấu giá tài sản trong
thi hành án dân sự nói riêng, nhƣng mỗi công trình nghiên cứu đƣợc tìm hiểu
ở các khía cạnh, các quy định khác nhau của pháp luật nói chung, cho đến nay

tại tỉnh Vĩnh Phúc chƣa có một đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có
hệ thống về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
Xuất phát từ những lý do trên với mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ
thực trạng bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; tác
giả chọn nghiên cứu đề tài “Bán đấu giá tài sản trong Thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc” từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết
quả thực hiện bán đấu giá trong THADS trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, trƣớc yêu cầu đổi mới đất nƣớc, cải cách
hành chính và cải cách tƣ pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
pháp lý đề cập đến vấn đề bán đấu giá tài sản và Chính sách công dƣới
nhiều góc độ khác nhau đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức nhƣ: sách chuyên
khảo, giáo trình, bài báo, bài đăng tạp chí, đề tài khoa học,...Có thể khái quát
một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhƣ:
2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về bán đấu giá tài sản
- Tập bài giảng đào tạo nghề đấu giá của Lê Thu Hà [14]
- Tài liệu hội nghị trực tuyến sơ kết 04 năm thi hành Nghị định số
17/2010/NĐ-CP ngày 4/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản của Bộ
Tƣ pháp [6]
- Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sản ở Việt Nam của Nguyễn
Việt Hùng [17]

3


- Một số vấn đề về quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động bán đấu giá tài
sản ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thanh Nga [19]
- Bán đấu giá tài sản – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Đặng Thị
Tâm [24]
- Kinh nghiệm bán đấu giá tài sản qua thực tiễn ở Vĩnh Phúc của
Nguyễn Việt Hùng [16]

Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật bán đấu giá tài sản ở
Việt Nam” của Nguyễn Thị Minh [18]...
2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về Chính sách công
- Tìm hiểu về khoa học chính sách công của Hồ Văn Thông [31].
- Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công ” của
PGS.TS.Nguyễn Hữu Hải [32].
- Giáo trình Hành chính nhà nƣớc của PGS.TS.Nguyễn Hữu Hải [33]
- Đại cƣơng về phân tích chính sách công của PGS.TS.Nguyễn Hữu
Hải và TS. Lê Văn Hòa [34]
- Chính sách công : PGS.TS.Lê Chi Mai [35]
- Chính sách công: Cơ sở lý luận của PGS.TS.Nguyễn Đăng Thành [36].
- Chính sách công ở Việt Nam: Lý luận và thực tiễn của TS.Đặng Ngọc
Lợi [37].
- Chính sách công - Những vấn đề cơ bản của PGS.TS.Nguyễn Hữu
Hải [38]
* Nhận xét về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ những công trình nghiên cứu đƣợc đề cập trên đây, có thể thấy rằng
về cơ bản các công trình nghiên cứu này đã đề cập đƣợc những nội dung lý
luận và thực tiễn về Chính sách công và Bán đấu giá trong THADS ở Việt
Nam. Qua các công trình đó có thể rút ra một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về chính sách công đã đề cập đến
khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; Nội dung và chu
trình chính sách công; Hoạch định chính sách công; Tổ chức thực thi chính
sách công; Phân tích chính sách công; Đánh giá chính sách công. Những

4


nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để tác giả có thể làm
rõ những nội dung cơ bản của vấn đề chính sách công.

Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến Bán đấu giá tài sản
phần nào đã nghiên cứu đƣợc một số cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn trong
lĩnh vực BĐGTS, nhƣ lý luận về BĐGTS; hoàn thiện pháp luật về pháp luật
BĐGTS; quản lý nhà nƣớc về BĐGTS; những khó khăn, vƣớng mắc trong
hoạt động BĐGTS... Những công trình nghiên cứu khoa học trên đã giúp cho
tác giả có đƣợc cách tiếp cận để tiếp tục kế thừa nghiên cứu, bổ sung thêm về
cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả nghiên cứu và hoàn thiện đề tài khoa học
của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
- Nhằm làm rõ những vấn đề trong quá trình thực thi công tác bán đấu
giá tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc, qua đó tìm ra ƣu điểm
và những khó khăn tồn tại trong quá trình bán đấu giá tài sản trên địa bàn tỉnh
để đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bán
đấu giá trong THADS những năm tiếp theo.
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích các vấn đề về lý luận cơ bản của bán đấu giá tài sản trong
THADS.
- Phân tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về bán
đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự.
- Khảo sát thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về bán đấu giá tài sản
trong THADS từ thực tiễn tại tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phát hiện những vƣớng mắc, bất cập của các quy định pháp luật Việt
Nam hiện hành trong quá trình thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS và
thực tiễn của tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp khắc phục

5


nhằm nâng cao hiệu quả của bán đấu giá tài sản trong THADS trong những

năm tiếp theo.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu đề tài là những vấn đề về: Thực hiện bán đấu giá
tài sản trong THADS tại tỉnh Vĩnh Phúc, từ khi thực hiện Nghị định số
17/2010/NĐ-CP đến nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Luận văn tập trung nghiên cứu về quá trình tổ chức thực hiện bán đấu
giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về thời gian:
Nghiên cứu thực trạng quá trình tổ chức thực hiện bán đấu giá tài sản
trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2010 đến
nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn Bán đấu giá trong THADS từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc
nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng trong luận văn bao
gồm:
Thứ nhất, phương pháp thu thập thông tin:
Phân tích và tổng hợp đƣợc sử dụng để thu thập và khai thác thông tin
từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện,
tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nƣớc, bộ ngành ở Trung ƣơng
và địa phƣơng, các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của

6



chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc
gián tiếp bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ hai,phương pháp thống kê:
Dựa trên các thông tin, số liệu mà luận văn có thể thu thập đƣợc từ các
nguồn thông tin đáng tin cậy, phƣơng pháp thống kê đƣợc tác giả sử dụng để
phân tích thực trạng thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ ba, phương pháp so sánh:
Phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng để đối chiếu, so sánh hiện trạng
trƣớc và sau khi thực hiện bán đấu giá tài sản trong THADS trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Bên cạnh đó phƣơng pháp
này giúp phát hiện những đặc trƣng cơ bản trong quá trình triển khai thực
hiện chƣơng trình, làm cơ sở đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
hiệu quả của bán đấu giá tài sản trong THADS từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc..
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa lý luận về thực hiện Bán đấu giá trong THADS
Trong đó, luận văn tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ khi thực hiện
Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đến nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó,
góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận về Bán đấu giá trong THADS trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung căn cứ khoa học
cho tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình tổ chức thực hiện Bán đấu giá tài sản trong
những năm tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tƣ liệu góp phần hoàn
thiện cơ sở lý luận và thực tiễn về bán đấu giá tài sản trong THADS và là
nguồn tham khảo cho các tổ chức BĐGTS chuyên nghiệp và các cơ quan, tổ


7


chức, cá nhân liên quan trong quá trình chỉ đạo, kiểm tra, giám sát về BĐGTS
trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chƣơng, 11 tiết.

8


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN
TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ BÁN ĐẤU
GIÁ TÀI SẢN

1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự và bán đấu giá tài sản
1.1.1.1. Khái niệm thi hành án dân sự
Khi Hiến pháp năm 1980, 1992 đƣợc ban hành, vấn đề bảo đảm tỉnh
hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án đã đƣợc ghi nhận và trở thành
một nguyên tắc Hiến định, Điều 137, Hiến pháp 1980, Điều 136 Hiến pháp
1992 quy định rõ “Các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực
pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức,
cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Trên cơ sở đó pháp luật
về thi hành án cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện, đánh dấu bằng các mốc son
quan trọng là việc ban hành Bộ Luật tố tụng hình sự năm 1986, Pháp lệnh thi
hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án hình phạt tù năm 1993,
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và 2004. Đặc biệt là sự ra đời của

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014. Vậy nên
họat động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng có
ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tòan bộ quá trình giải quyết vụ án bởi vì
bản án, quyết định chỉ có ý nghĩa khi bản án án đó đƣợc thi hành trên thực
tiễn, khi đó quyền và lợi ích hợp phảp của các đƣơng sự vì thế cũng đƣợc bảo
vệ một cách trọn vẹn, đầy đủ hơn, góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của
xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhƣ vậy, có thể đƣa ra khái niệm về thi
hành án dân sự nhƣ sau: Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản
án, quyết định được đưa ra thi hành theo quy định của các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

9


1.1.1.2. Khái niệm bán đấu giá tài sản
Hiện nay bán đấu giá tài sản là một dịch vụ ngày càng có vị trí, vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là một trong những phƣơng
thức minh bạch để chuyển quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể
khác góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động mua bán trao
đổi tài sản nói riêng phát triển một cách đa dạng. Trong những năm qua, hoạt
động BĐGTS ở nƣớc ta đã từng bƣớc phát triển, hỗ trợ đắc lực cho công tác
thi hành pháp luật, cụ thể nhƣ: thi hành án dân sự, xử lý tài sản bảo đảm thu
hồi nợ vay cho các tổ chức tín dụng, xử lý vi phạm hành chính, nhà nƣớc
giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất qua hình thức đấu giá...
Công tác xã hội hóa hoạt động BĐGTS đã và đang thực hiện theo lộ trình
trong việc triển khai Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến 2020.
Trên thực tế, hoạt động bán đấu giá tài sản đã xuất hiện từ rất lâu đời
trên thế giới. Bán đấu giá tài sản đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng thức mua bán
công khai, phổ biến và rộng khắp trên thế giới. Có nhiều mục đích đƣợc đặt ra

khi các bên lựa chọn phƣơng thức mua bán này, nhƣng mục đích thƣờng đƣợc
hƣớng tới là nhằm công khai đƣa tài sản tiếp cận với đại chúng ngƣời mua,
qua đó phát huy cao nhất giá trị tài sản của tài sản hoặc đáp ứng cao nhất mục
đích khác mà ngƣời bán tài sản qua hình thức đấu giá mong muốn đạt đƣợc.
Việc bán đấu giá tài sản đƣợc tổ chức bằng các hình thức công khai (open
cry) hoặc theo hồ sơ niêm phong (sealed bid), theo phƣơng thức đấu giá lên
hoặc đặt giá xuống.
Theo hình thức niêm phong thì ngƣời tham gia cùng nộp giá một lúc
mà không đƣợc biết giá của ngƣời khác cũng nhƣ giữ kín giá mà mình đã trả
cho tài sản, sản phẩm muốn mua. Thông thƣờng ngƣời trả giá cao nhất sẽ là
ngƣời thắng cuộc, mua đƣợc tài sản.
Theo hình thức công khai thì tài sản chào bán tại một mức giá xác định,
ngƣời bán tiếp tục nâng mức giá lên cách mức giá cũ một khoảng nhất định
10


cho đến khi không còn ngƣời nào đƣa ra mức giá cao hơn. Ngƣời đã trả mức
giá cao nhất cuối cùng chính là ngƣời thắng cuộc. Đây là hình thức vẫn
thƣờng đƣợc áp dụng nhiều nhất để giao dịch tài sản, sản phẩm, đặc biệt với
các tài sản là cổ vật, các bộ sƣu tập tem, tiền, xe cổ, tác phẩm nghệ thuật…
Ngoài ra, cũng với sự phát triển của thƣơng mại điện tử, hiện nay còn
xuất hiện phƣơng thức đấu giá ngƣợc. Đây là một loại hình đấu giá đặc biệt,
theo đó ngƣời trả giá thấp nhất và duy nhất sau khi kết thúc mỗi phiên đấu sẽ
trở thành ngƣời đƣợc mua tài sản bán đấu giá. Ở phƣơng thức này nếu bên
bán đƣa ra giá khởi điểm thì giá khởi điểm là mức giá lớn nhất (ngƣợc với
phƣơng thức trả giá lên – phƣơng thức đấu giá xuôi).
Cùng với sự phát triển của xã hội, có thể nói rằng đến nay bán đấu giá
phát triển với tƣ cách là một phƣơng thức mua bán tài sản thông thƣờng, phổ
biến và không thể thiếu trong thƣơng mại, kinh doanh của thế giới. Khái niệm
bán đấu giá đƣa ra dƣới nhiều góc độ khác nhau.

Theo quan niện truyền thống thì BĐGTS là việc bán tài sản hoặc tài sản
công khai có nhiều ngƣời cùng muốn mua tài sản, cho nên mỗi ngƣời trả một
giá theo nhu cầu, điều kiện kinh tế của mình, ngƣời trả giá cao nhất phù hợp
với nhu cầu của ngƣời bán tài sản sẽ là ngƣời mua đƣợc tài sản.
Theo từ điển Luật học có nêu: “BĐGTS là hình thức bán công khai một
tài sản, một khối tài sản; theo đó có nhiều ngƣời muốn mua tham gia trả giá,
ngƣời trả giá cao nhất nhƣng không thấp hơn giá khởi điểm là ngƣời mua
đƣợc tài sản [30, tr.31].
Theo quy định tại khoản 1, điều 2, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày
04 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về BĐGTS, thì:
“Bán đấu giá tài sản là hình thức bán tài sản công khai, có từ hai ngƣời
trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc và thủ tục đƣợc quy định tại Nghị
định này. Phƣơng thức trả giá lên là phƣơng thức trả giá từ thấp lên cao cho
đến khi có ngƣời trả giá cao nhất” [9, tr.2].
Đồng thời tại Khoản 2, Điều 1, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP cũng xác
11


định các loại tài sản đƣợc bán qua hình thức đấu giá bao gồm:
+ Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án;
+ Tài sản là tang vật, phƣơng tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung
quỹ nhà nƣớc theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
+ Tài sản bảo đảm trong trƣờng hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm
quy định phải xử lý bằng bán đấu giá;
+ Tài sản nhà nƣớc đƣợc xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của
pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nƣớc; tài sản là quyền sử dụng đất
trong trƣờng hợp :Nhà nƣớc giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất
đƣợc bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền;
+ Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
+ Trong trƣờng hợp cá nhân, tổ chức lựa chọn tổ chức bán đấu giá

chuyên nghiệp để bán tài sản thuộc sở hữu của mình thì áp dụng nguyên tắc,
trình tự, thủ tục BĐGTS quy định tại Nghị định.
Bán đấu giá tài sản về cơ bản khác biệt so với bán tài sản thông thƣờng
ở chỗ, nếu nhƣ ở BĐGTS chỉ thừa nhận phƣơng thức trả giá lên thì bán đấu
giá tài sản thông thƣờng đƣợc thực hiện theo hai phƣơng thức là phƣơng thức
trả giá lên và đặt giá xuống (Bán đấu giá tài sản thông thƣờng đƣợc điều
chỉnh bởi Luật Thƣơng mại).
Thông qua hình thức BĐGTS, quyền lợi của ngƣời có tài sản đƣợc thỏa
mãn một cách tốt nhất, còn ngƣời mua sẽ mua đƣợc tài sản mình mong muốn
với giá phù hợp, các quyền lợi của ngƣời mua liên quan đến tài sản đã mua
đƣợc đáp ứng một cách nhanh chóng. Giao dịch mua bán tài sản qua hình
thức đấu giá đƣợc pháp luật bảo vệ.
Từ những phân tích trên, có thể đƣa ra khái niệm cơ bản về BĐGTS
nhƣ sau: Bán đấu giá tài sản là hình thức mua bán tài sản thực hiện công khai
theo trình tự, thủ tục luật định và được tiến hành qua phương thức trả giá lên,
người trả giá cao nhất không thấp hơn giá khởi điểm là người mua được tài
sản. Do các tổ chức bán đấu giá có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
12


thực hiện, nhằm chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của người có tài
sản hoặc người có quyền định đoạt tài sản của người khác sang người mua
tài sản trả giá cao nhất.
1.1.2. Đặc điểm thi hành án dân sự và bán đấu giá tài sản
1.1.2.1. Đặc điểm thi hành án dân sự
- Xét ở góc độ thi hành án dân sự là hoạt động mang tính chất hành
chính tƣ pháp: Trên cơ sở lý luận, việc nghiên cứu đánh giá ý nghĩa, vị trí, tính
chất của thi hành án dân sự hiện còn đang tồn tại các quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là một giai đoạn độc lập
trong quá trình tự tố tụng: Đây là giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền

lợi của đƣơng sự. Việc tách rời giai đoạn thi hành án ra khỏi tiến trình tố tụng
sẽ làm mất ý nghĩa của giai đoạn xét xử - giai đoạn có ý nghĩa quyết định
trong quá trình tố tụng cũng nhƣ toàn bộ các hoạt động của các cơ quan tiến
hành tố tụng khác. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, thi hành án dân sự không chỉ là
tổng hợp các hành vi thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án theo quy
định của pháp luật về thi hành án mà bao gồn cả những hành vi nhằm thi
hành bản án, quyết định theo quy định của các văn bản pháp luật khác. Nhƣ
vậy việc chuyển giao công tác thi hành án từ cơ quan xét xử sang cơ quan
hành chính không có nghĩa là thủ tục thi hành án dân sự là thủ tục hành chính.
Thủ tục tố tụng dân sự cũng nhƣ thủ tục tố tụng hình sự không thể hiểu chỉ có
Tòa án tiến hành mà do nhiều cơ quan, tổ chức tiến hành. Nội dung chủ yếu
của thi hành án dân sự mang tính tài sản, dựa trên bản án, quyết định của tòa
án, nó gắn liền với việc giải quyết vụ án. Chính vì vậy thi hành án dân sự
không thể coi thuần túy là một thủ tục hành chính đơn thuần, do đó giai đoạn
thi hành án dân sự vẫn đƣợc nghiên cứu nhƣ một bộ phận của pháp luật tố
tụng dân sự.
Tuy nhiên, nếu xét một số tiên chí dƣới đây thì thi hành án dân sự khó
hội tụ những đặc trung của một giai đoạn tố tụng độc lập.

13


Thứ nhất, hiện nay phạm vi áp dụng theo trình tự thi hành án dân sự rất
rộng. Nhiều quan hệ pháp luật trƣớc đó đã đƣợc giải quyết theo nhiều trình tự
tố tụng khác nhau (lao động, kinh tế, hành chính, hình sự, tƣ pháp quốc tế,
trọng tài...) và do nhiều cấp xét xử khác nhau. Tuy nhiên, kết quả của quá
trình xét xử đó, tức là các phán quyết của Tòa án đều đƣợc đƣa ra tổ chức thi
hành theo trình tự thi hành án dân sự, nếu coi thi hành án dân sự là một giai
đoạn tố tụng thì nó thuộc một tiến trình tố tụng cụ thể nào: thuộc dân sự,
kinh tế, hành chính, lao động... hay đây là một ngành luật mang tính “tố tụng

tổng hợp”
Thứ hai, về cơ chế quản lý và trình tự thủ tục thi hành án đã có sự thay
đổi căn bản. Công tác thi hành án dân sự từ năm 1993 đến nay do Chính phủ
thống nhất quản lý: Theo quy định tại Điều 10, 11 của Pháp lệnh thi hành án
dân sự năm 1993, Điều 57 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và Điều
167 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổ, bổ sung năm 2014 thì Bộ Tƣ
pháp chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ thực hiện quản lý nhà nƣớc về thi
hành án dân sự.
Thứ ba, về cơ sở pháp lý, tính chất một quan hệ pháp luật đã đƣợc thể
hiện rõ nhất ở văn bản pháp luật điều chỉnh nó. Trình tự tố tụng, các hành vi
tố tụng và chủ thể tố tụng phải đƣợc quy định trong văn bản pháp luật tố tụng.
Kể từ năm 1989, thủ tục tố tụng dân sự đƣợc quy định riêng trong Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Đồng thời cũng trong năm 1989, Pháp
lệnh thi hành án dân sự đƣợc ban hành quy định riêng về thi hành án dân sự.
Nhƣ vậy thi hành án dân sự đƣợc tách ra khỏi trình tự tố tụng, không thể
đƣợc coi là thủ tục tố tụng. Trong phƣơng hƣớng cải cách và hoàn thiện bộ
máy nhà nƣớc, Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ
ba (khóa VIII) đặt ra yêu cầu tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan thi hành án
“chuẩn bị các điều kiện để tiến tới giao cho một cơ quan quản lý tập trung,
thống nhất trong thi hành án”. Đồng thời, theo định hƣớng của Nghị quyết số
49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp
14


đến năm 2020 là thống nhất việc quản lý nhà nƣớc về công tác thi hành án về
một đầu mối- chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện
việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tƣ pháp.
Nhƣ vậy, hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói
riêng đã đƣợc tập trung và chuyển giao cho Bộ Tƣ pháp quản lý nhà nƣớc,
(đánh dấu bằng sự ra đời của Luật thi hành án dân sự năm 2008) đã tạo ra

bƣớc đột phá phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc
trong xu thế hội nhập quốc tế và tiến trình cải cách tƣ pháp cải cách hành
chính nhƣ hiện nay.
- Xét ở góc độ đối tƣợng đặc trƣng của thi hành án dân sự là các nghĩa
vụ về tài sản: Hiện tại, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đƣợc áp dụng để
thi hành cả những bản án, quyết định về kinh tế, lao động, hành chính, một số
hình phạt và biện pháp tƣ pháp trong bản án, quyết định hình sự, quyết định
của trọng tài...Mặc dù hoàn toàn khác về tính chất của quan hệ pháp luật,
trình tự tố tụng nhƣng nghĩa vụ thi hành án trong tất cả các bản án, quyết
định trên có tính chất tƣơng đồng đó là nghĩa vụ tài sản hoặc các công việc
phải thực hiện. Đây là cơ sở để xác định tính chất “dân sự” nhằm phân biệt
với thi hành án hình sự. Tuy nhiên, thuật ngữ “dân sự” không thể hiện đủ nội
hàm của khái niệm loại hình thi hành án có tính chất tổng hợp này, mặc dù
vậy cho đến nay các luật gia vẫn chƣa đƣa ra đƣợc một khái niệm khác.
1.1.2.2. Đặc điểm bán đấu giá tài sản
- Chủ thể bán đấu giá tài sản chuyên nhiệp là doanh nghiệp có chức
năng bán đấu giá tài sản hoặc trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Hoạt động bán đấu giá tài sản hình thành trên cơ sở đề xuất của chủ sở
hữu và chủ sở hữu ủy quyền hoặc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền yêu cầu tổ
chức có chức năng bán đấu giá tài sản. Nhƣ vậy, tổ chức bán đấu giá tài sản
không phải là chủ sở hữu của tài sản. Pháp luật quy định những điều kiện cần
thiết để bảo đảm quyền lợi của chủ sở hữu bằng cách cho họ tham gia định

15


giá khởi điểm của tài sản nhƣng không trực tiếp đứng ra bán tài sản, ngƣời
mua phải trả bằng hoặc cao hơn giá khởi điểm thì tài sản mới đƣợc bán.
Theo quy định của Luật Thƣơng mại và pháp luật dân sự thì chủ thể
trong bán đấu giá hàng hoá và đấu giá tài sản đều bao gồm có ngƣời bán tài

sản, hàng hoá, ngƣời tổ chức đấu giá, ngƣời điều hành giá và ngƣời trúng giá.
Tuy nhiên, về tổ chức, thẩm quyền của ngƣời tổ chức bán đấu giá trong hai
loại hình bán đấu giá này lại có những điểm khác nhau:
+ Trong bán đấu giá tài sản, ngƣời tổ chức bán đấu giá lại chỉ có thể là:
Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản.
+ Trong bán đấu giá hàng hoá, ngƣời tổ chức đấu giá là thƣơng nhân có
đăng kí kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là ngƣời bán hàng của mình trong
trƣờng hợp ngƣời bán hàng tự tổ chức đấu giá.
Nhƣ vậy, nếu trong đấu giá hàng hoá, ngƣời tổ chức bán đấu giá có thể
là cá nhân hoặc các chủ thể khác tự bán tài sản của mình thì trong bán đấu giá
tài sản, ngƣời tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp phải là một trong hai loại
hình tổ chức đƣợc pháp luật quy định. Hơn thế nữa, pháp luật dân sự còn quy
định rất chặt chẽ về điều kiện của các tổ chức này.
- Về phương thức bán đấu giá tài sản là có nhiều người tham gia (từ
hai người trở lên)
Bán đấu giá tài sản đƣợc tổ chức bán công khai, có nhiều ngƣời tham
gia trả giá để cho những ngƣời có nhu cầu có thể tham gia đấu giá để mua tài
sản. Pháp luật dân sự quy định đấu giá là hình thức công khai lựa chọn ngƣời
mua nên mọi vấn đề có liên quan đến cuộc bán đấu giá và những thông tin về
tài sản, bán đấu giá phải đƣợc công khai cho tất cả những ngƣời muốn mua
biết bằng hình thức: niêm yết, thông báo, trƣng bày, giới thiệu về tài sản; công
khai về thời gian, địa điểm tiến hành bán đấu giá; tên loại tài sản bán đấu giá;
số lƣợng, chất lƣợng, giá khởi điểm; địa điểm trƣng bày, các hồ sơ tài liệu liên
quan đến tài sản; công khai họ tên ngƣời bán hàng, tên tổ chức bán đấu giá và
cá nhân, tổ chức đăng kí mua và tại phiên đấu giá, ngƣời điều hành bán đấu
16


giá phải công khai các mức giá đƣợc trả và họ tên ngƣời mua trả giá cao nhất
của mỗi lần trả giá...

- Về nội dung bán đấu giá tài sản
Bán đấu giá tài sản theo phƣơng thức trả giá cao nhất. Đây là hình thức
mà tại cuộc bán đấu giá, nhân viên điều hành bán đấu giá nêu lên giá khởi
điểm thấp nhất của tài sản bán đấu giá. Sau đó những ngƣời mua sẽ trả giá
nâng dần lên theo từng mức mặc cả nhất định. Ngƣời trả giá cao nhất theo sự
kết luận của nhân viên điều hành đấu giá sẽ đƣợc quyền mua tài sản đó. Hình
thức này đƣợc áp dụng phổ biến nhất trong các cuộc đấu giá vì nó có lợi cho
cả bên mua và bên bán. Bên mua đƣợc chủ động đề xƣớng giá đặt mua nên
quan hệ mua bán mang tính tự nguyện rất cao. Còn bên bán thƣờng đƣợc lợi
về giá cả vì luôn có sự trả giá cao hơn giá khởi điểm mà mình đƣa ra.
Đấu giá tài sản về cơ bản khác biệt so với đấu giá hàng hóa ở chỗ, nếu
nhƣ ở bán đấu giá tài sản chỉ thừa nhận phƣơng thức trả giá lên thì bán, đấu
giá hàng hóa đƣợc thực hiện theo hai phƣơng thức là phƣơng thức trả giá lên
và phƣơng thức trả giá xuống. Đấu giá theo phƣơng thức đặt giá xuống là
hình thức mà tại cuộc bán đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá nêu lên mức
giá khởi điểm cao nhất, rồi sau đó hạ dần từng nấc một để ngƣời mua đặt giá.
Nếu không có ngƣời mua nào đặt giá thì lại hạ tiếp xuống mức thấp hơn. Cứ
nhƣ thế cho đến khi có ngƣời chấp nhận mua ở một mức giá nào đó thì hàng
hoá đƣợc bán cho ngƣời đó. Hình thức này chỉ áp dụng đối với một số loại
hàng hoá và thực sự nó không hấp dẫn với cả ngƣời mua lẫn ngƣời bán hàng.
- Về phương thức đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện bằng miệng
(lời nói) hoặc bằng hành vi
Bắt đầu phiên đấu giá, nhân viên điều hành đấu giá dùng lời nói của
mình để đƣa ra giá khởi điểm. Những ngƣời mua sẽ đặt giá cũng bằng lời nói
hoặc bằng việc làm dấu hiệu để ngƣời điều hành đấu giá biết. Phƣơng thức đề
nghị giao kết hợp đồng trong đấu giá dùng lời nói có ƣu điểm là sự trả giá của
mọi ngƣời mua đều công khai, ngƣời trả giá cao nhất đƣợc xác định ngay mà
17



không phải mất nhiều thời giờ để so sánh, vì thế mà cuộc đấu giá nhanh
chóng kết thúc.
Phƣơng thức trả giá (đề nghị) bằng văn bản của ngƣời mua đƣợc viết ra
giấy. Nhân viên điều hành sẽ thông báo mức giá cao nhất qua mỗi lần trả giá
trên cơ sở so sánh các mức giá chấp nhận mà họ đƣợc thông báo. Việc đấu giá
kéo dài cho tới lần trả giá liền trƣớc đó. Tuy thủ tục có phức tạp và làm mất
nhiều thời gian hơn nhƣng hình thức này hạn chế đƣợc tình trạng chạy đua
của những ngƣời mua nâng giá lên một cách quá cao so với giá trị. Sau khi
ngƣời trả giá cao nhất đƣợc mua tài sản sẽ ký hợp đồng với tổ chức bán đầu
giá bằng văn bản. Nếu tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì văn bản
bán đấu giá phải công chứng.
Tài sản trong đấu giá rất đa dạng tuỳ theo nhu cầu của chủ sở hữu và
theo quy định của pháp luật. Mọi tài sản đều có thể bán đấu giá nhƣ: Đồ cổ,
tác phẩm nghệ thuật, đồ sƣu tầm, phƣơng tiện giải trí, bất động sản, đồ dùng
gia đình, hàng tiêu dùng, đồ văn phòng, máy tính, tài sản công… Các tài sản
bán đấu giá bao gồm tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi
hành án; tài sản là tang vật phƣơng tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung
quỹ nhà nƣớc theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tài
sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về giao dịch có bảo đảm; tài sản
thuộc cá nhân, tổ chức có yêu cầu bán đấu giá tài sản; hàng hoá lƣu giữ do
ngƣời vận chuyển đƣờng biển, đƣờng hàng không; đƣờng bộ lƣu giữ tại Việt
Nam; tài sản nhà nƣớc phải bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật về
quản lý tài sản nhà nƣớc.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

1.2.1 Khái niệm Chính sách công
Định nghĩa về chính sách công là một vấn đề còn gây nhiều tranh luận
trong nghiên cứu khoa học - thực tiễn của khoa học xã hội, đƣợc tập trung ở
hai nhóm chủ yếu sau:


18


Thứ nhất là nhóm định nghĩa chính sách công với tƣ cách nhƣ là sản
phẩm có mục đích của nhà nƣớc.
Thứ hai là nhóm định nghĩa chính sách công với tƣ cách là một tập hợp
các bƣớc giải quyết các vấn đề công cộng.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Hải trong “Giáo trình Hoạch định và phân
tích chính sách công" thì, “Chính sách công là những hành động ứng xử của
Nhà nƣớc với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, đƣợc thể hiện
bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [32, tr.14].
Có nhiều cách hiểu khác nhau, song có thể hiểu chính sách công là
chƣơng trình hành động của nhà nƣớc nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể. hay
chính sách công chính là tập hợp các văn bản, đƣợc quyết định bởi chủ thể
nắm quyền lực nhà nƣớc, nhằm định hƣớng theo mục đích nhất định, để giải
quyết những vấn đề mà xã hội quan tâm.
1.2.2. Tổ chức thực thi trong chu trình chính sách
1.2.2.1.Chu trình Chính sách
Chu trình chính sách theo mô hình của các nƣớc trên thế giới gồm 5
giai đoạn:
Giai đoạn 1: thiết lập chƣơng trình nghị sự là quá trình mà các vấn đề
công đƣợc trở thành sự quan tâm của Nhà nƣớc và đƣa vào chƣơng trình nghị
sự.
Giai đoạn 2: Xây dựng dự thảo chính sách là quá trình ngƣời soạn thảo
sử dụng các phƣơng pháp, cách thức để biểu đạt nội dung của chính sách,
trƣớc khi chính sách đó đƣợc trình lên cơ quan có thẩm quyền để chờ thông
qua.
Giai đoạn 3: Quyết định chính sách là quá trình cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền thảo luận, tiến tới thống nhất về các nội dung trong dự thảo chính
sách và biểu quyết để thông qua dự thảo chính sách, ký ban hành chính sách.

Giai đoạn 4: Thực thi chính sách là quá trình đƣa chính sách vào thực
tiễn để các đối tƣợng cùng tham gia thực hiện.
19


Giai đoạn 5: Đánh giá chính sách là việc xem xét trung thực kết quả
đầu ra các hoạt động trong chu trình chính sách công, nhận định có hệ thống
những tác động do việc thực hiện các giải pháp chính sách mang lại và so
sánh nó với mục tiêu ban đầu để xác định mức độ đạt đƣợc mục tiêu mong
muốn về lƣợng và chất[35, tr.319].
Ở Việt Nam hiện nay, chu trình chính sách thƣờng đƣợc chia làm 3 giai
đoạn: Hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, đánh giá chính
sách.
1.2.2.2.Thực thi chính sách
Tổ chức thực thi chính sách đƣa ra là toàn bộ quá trình hoạt động của
các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính
sách công một cách hiệu quả [35, tr.127].
Giai đoạn thực thi chính sách đóng vai trò rất quan trọng.Các chính
sách sau khi đƣợc thông qua đều phải tổ chức thực thi. Nếu thiếu công đoạn
này thì chu trình chính sách không thể tồn tại; nếu không có việc thực thi
chính sách để đạt đƣợc những kết quả nhất định thì những chủ trƣơng, chế độ
chỉ là những khẩu hiệu. Nếu công tác tổ chức thực thi chính sách không tốt sẽ
dẫn đến thiếu lòng tin. Quá trình tổ chức thực thi chính sách góp phần hoàn
chỉnh bổ sung chính sách: có những vấn đề trong giai đoạn hoạch định chính
sách chƣa phát sinh, bộc lộ hoặc đã phát sinh nhƣng các nhà hoạch định chƣa
nhận thấy, đến giai đoạn tổ chức thực thi mới phát hiện. Quá trình thực thi
chính sách với những hành động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và
hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống.
Quá trình thực thi chính sách công chính là việc lần lƣợt thực hiện các
bƣớc sau:

Bƣớc 1 là xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách,
Bƣớc2 là tuyên truyền, phổ biến chính sách.
Bƣớc 3 là phân công phối hợp thực hiện chính sách.
Bƣớc 4 là theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
20


×