Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (876.94 KB, 107 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ KHẮC ĐỨC

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

ĐẮK LẮK - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ KHẮC ĐỨC

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK



LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LƯƠNG THANH CƯỜNG

ĐẮK LẮK – NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lương Thanh Cường.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa
hề được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Đắk Lắk, tháng 3 năm 2017
Học viên

Lê Khắc Đức


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1

Chương 1 ............................................................................................................ 8
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ ......................................................................................... 8
1. 1. Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự ............................. 8
1.2. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ....................................... 11
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành
án dân sự........................................................................................................... 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG I ................................................................................... 22
Chương 2 .......................................................................................................... 23
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ TẠI TỈNH ĐẮK LẮK ............................................................. 23
2.1. Thực trạng pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ..................... 23
2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy thi hành án dân sự ở tỉnh Đắk Lắk và khái
quát tình hình thi hành án dân sự ở tỉnh thời gian qua ..................................... 37
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2................................................................................... 74
Chương 3 .......................................................................................................... 76
ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK ............ 76
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Đắk Lắk ...................................................................................... 76
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ
thực tiễn tỉnh Đắk Lắk ...................................................................................... 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3................................................................................... 94
KẾT LUẬN LUẬN VĂN ................................................................................ 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 97


DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1 Kết quả thi hành án về việc ....................................................... 43

Biểu đồ 2.2 Kết quả thi hành án về tiền ......................................................... 45
Biểu đồ 2.3 Kết quả thi hành án xong vềviệc ................................................ 45
Biểu đồ 2.

Kết quả thi hành án xong về tiền ................................................ 45

Biểu đồ 2.5 Số việc cưỡng chế/số việc có điều kiện thi hành ....................... 48
Biểu đồ 2.6 Số việc cưỡng chế/số tiềncó điều kiện thi hành ......................... 48
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ cưỡng chế/số thi hành án xong ......................................... 49
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ tiền áp dụng BPCC/số thi hành án .................................... 49
Biểu đồ 2.9 Cơ cấu tỷ lệ việc THA chủ động và theo đơn yêu cầu .........................51
Biểu đồ 2.10 Cơ cấu tỷ lệ tiền THA chủ động và theo đơn yêu cầu........................51
Biểu đồ 2.11 So sánh chỉ tiêu đạt được với chỉ tiêu được giao về việc ........ 54
Biểu đồ 2.12 So sánh chỉ tiêu xong về tiền với chỉ tiêu được giao ........................55

Bảng 2.1 Chấp hành viên thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk

....................... 39

Bảng 2.2 So sánh kết quả chỉ tiêu THA về việc ............................................. 46
Bảng 2.3 So sánh kết quả chỉ tiêu THA về tiền ............................................. 46
Bảng 2. Cơ cấu tỷ lệ việc THA chủ động và theo đơn yêu cầu .................. 50
Bảng 2.5 Cơ cấu tỷ lệ tiền THA chủ động và theo đơn yêu cầu ................... 50
Bảng 2.6 Cơ cấu tỷ lệ việc THA chủ động và việc THA theo đơn yêu cầu .. 52
Bảng 2.7 Cơ cấu tỷ lệ tiền THA chủ động và tiền THA theo đơn yêu cầu ... 53


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện chủ trương xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án

theo hướng tiến tới tập trung nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành
án dân sự về một đầu mối theo các Nghị quyết của Đảng, nhất là từ năm 1993
đến nay (đặc biệt là vào thời điểm năm 2005, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị
quyết số 9-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020), công tác thi hành án dân sự ngày càng được Quốc hội, Chính phủ, Bộ
Tư pháp và các Bộ, Ngành Trung ương quan tâm, nhiều văn bản pháp luật
quan trọng về thi hành án dân sự đã được ban hành, đặc biệt là từ khi Quốc
hội thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã xác định mô hình tổ chức
bộ máy cơ quan Thi hành án dân sự theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống
nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến cấp huyện, tương xứng với nhiệm vụ
chính trị được giao và phù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp theo Nghị
quyết số 9-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [6, tr.4]. Để thực hiện thành
công mục tiêu đó, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân là một trong những phương hướng cơ bản và tôn trọng,
thượng tôn pháp luật là nguyên tắc mang tính nền tảng cho các hoạt động tổ
chức và quản lý xã hội. Hiến pháp năm 2013, bản Hiến pháp của thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã dành nhiều quy định thể hiện
sâu sắc và toàn diện nguyên tắc này trên tất cả các phương diện hoạt động của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân như các quy định tại Điều 2, Điều , Điều 8,
Điều 6, Điều 79 hay Điều 115.

1


Có thể nói, trong thực tiễn, vị trí thượng tôn của pháp luật chỉ có thể đạt
được khi pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh và được các tổ chức,

cá nhân tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để. Pháp luật nghiêm minh là điều
kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng
một xã hội trật tự, kỷ cương, ổn định, qua đó, góp phần quan trọng củng cố
niềm tin của Nhân dân vào lẽ phải, lẽ công bằng, sự tiến bộ và tính ưu việt
của chế độ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, còn xảy ra
xung đột trên các lĩnh vực như lao động, đất đai, môi trường, tài nguyên...
Tòa án, thiết chế có nhiệm vụ bảo vệ công lý, là một cơ chế hữu hiệu có thể
giúp giải quyết thỏa đáng, kịp thời, triệt để những mâu thuẫn, xung đột,
hướng mọi thành viên xã hội vào yêu cầu tôn trọng lợi ích của nhau trên cơ sở
pháp luật. Vì vậy, hoạt động xét xử của tòa án là hoạt động trực tiếp bảo vệ
tính thiêng liêng và hiệu lực của pháp luật; Thi hành bản án, quyết định dân
sự là khâu cuối của quá trình tố tụng, nhằm hiện thực hóa những phán quyết
của Tòa án vào thực tiễn cuộc sống; có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc
bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, thực thi công lý, xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và ổn định.
Hoạt động thi hành án dân sự không những góp phần trực tiếp, tích cực vào
việc bảo vệ những quyền con người, quyền công dân mà còn góp phần quan
trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và từng địa
phương; cụ thể như góp phần tháo gỡ khó khăn, khơi thông, thúc đẩy phát
triển sản xuất, kinh doanh thông qua hoạt động thu hồi nợ, giảm nợ xấu và mở
rộng tín dụng, bảo vệ quyền chủ nợ và thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng
hay nâng cao an sinh xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao
động thông qua việc xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế.
Có thể khẳng định rằng, thi hành án dân sự là một trong những hoạt động
quan trọng của Nhà nước trong việc đưa các bản án, quyết định của cơ quan
có thẩm quyền ra thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án một mặt đảm
2



bảo cho quyền lực Tư pháp được thực thi trên thực tế. Mặt khác, nó còn là
công cụ hữu hiệu để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị
xâm hại. Hiệu quả của hoạt động thi hành án có tác động trực tiếp đến lòng tin
của nhân dân đối với pháp luật. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta hiện nay, không phải bản án, quyết định có hiệu lực nào của cơ quan
có thẩm quyền cũng có thể được tổ chức thi hành một cách thuận lợi, xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó, có thể kể đến nguyên nhân cơ bản nhất
là ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án còn hạn chế, họ
thường có tâm lý chống đối, cản trở việc thi hành án, vì lúc này, lợi ích vật
chất của họ bị định đoạt để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án.
Do mâu thuẫn về quyền, lợi ích giữa người được thi hành án và người phải thi
hành án là đối lập, nên việc áp dụng biên pháp cưỡng chế thi hành án có thể
xem như là biện pháp giải quyết cuối cùng của cơ quan Thi hành án dân sự
nhằm thực thi Bản án, Quyết định của Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền,
đảm bảo công lý phải được thực thi trên thực tế. Hoạt động cưỡng chế thi
hành án tác động sâu rộng đến các quan hệ xã hội của người được thi hành án,
người phải thi hành án, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong bản án.
Đây cũng chính là công đoạn khó khăn, phức tạp nhất của quá trình giải quyết
việc thi hành án. Do đó, vấn đề cưỡng chế tài sản của người phải thi hành án
phải được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật,
đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của đương sự. Đây là một vấn đề cấp
thiết có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với lĩnh vực thi hành án dân sự. Việc
nghiên cứu kỹ biện pháp cưỡng chế giúp đem lại quyền và lợi ích thực tế cho
cá nhân, tổ chức, góp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa công
bằng, văn minh.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, từ tình hình thực tiễn công tác thi
hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự - Từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm Đề
tài Luận văn tốt nghiệp.
3



2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến cưỡng chế thi hành án dân sự thì có nhiều bài viết của
nhiều tác giả trong Ngành cũng như ngoài Ngành được đăng tải trên các báo,
tạp chí khoa học, tài liệu chuyên Ngành. Bên cạnh đó, có nhiều luận văn, luận
án tiến sĩ, thạc sỹ về lĩnh vực Thi hành án dân sự, như: Luận văn thạc sĩ Luật
học “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng
hoàn thiện (2000, Hà Nội)” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ
luật học “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự (2001, Hà Nội)” của tác giả
Nguyễn Thanh Thủy; Luận văn thạc sĩ luật học “Xã hội hóa một số nội dung
thi hành án dân sự (2002, Hà Nội)” của tác giả Lê Xuân Hồng; Luận văn thạc
sĩ luật học “Đổi mới tổ chức và hoạt động Thi hành án dân sự ở Việt Nam
(2003, Hà Nội)” của tác giả Nguyễn Quang Thái; Luận văn thạc sĩ luật học về
“Đổi mới thủ tục Thi hành án dân sự ở Việt Nam (200 , Hà Nội)” của tác giả
Lê Anh Tuấn; Luận văn thạc sĩ luật học “Giám sát Thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay (2005)” của tác giả Hoàng Thế Anh; Luận văn thạc sĩ luật học
“Cơ sở lý luận và thực tiễn khắc phục án tồn đọng trong thi hành án dân sự ở
Việt Nam hiện nay (2005)” của tác giả Nguyễn Đức Nghĩa; Luận văn thạc sĩ
Luật học "Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự (2007)" của tác
giả Hoàng Kim Chiến; Luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công “Hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ở Việt Nam (2007)”
của tác giả Nguyễn Quốc Việt; Luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính công
“Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hà Nội
(2010)” của tác giả Phạm Công Hùng; Luận văn Thạc sĩ quản lý hành chính
công “Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Kon Tum
(2015)” của tác giả Tống Minh Lý,...
Mặt khác, các trường đại học ngành Luật cũng đã chú trọng biên soạn
giáo trình và tổ chức nghiên cứu, giảng dạy môn Thi hành án dân sự, như:
trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Học


4


Viện Tư pháp. Các giáo trình đã nêu những vấn đề cơ bản, về Luật thi hành
án dân sự; công tác thi hành án dân sự.
Các Tạp chí khoa học như Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật
học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật... cũng có nhiều bài viết, nghiên cứu về
lĩnh vực Thi hành án dân sự ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, ít nhiều
cũng đã có đề cập đến vấn đề vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự.
Các luận văn, các công trình nghiên cứu, các bài viết,.... nêu trên đã đánh
giá được thực trạng và một số hạn chế, bất cập trong lĩnh vực Thi hành án dân
sự, đồng thời đã đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục những hạn chế, bất cập
đó. Tuy nhiên, trong số các công trình nêu trên, chưa có công trình khoa học
nào nghiên cứu chuyên sâu ở bậc sau đại học về những vấn đề liên quan đến
hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk.
Luận văn này sẽ là công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về mặt lý
luận và thực tiễn về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk
để đưa ra giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả, luận giải những vướng mắc,
bất cập cả về lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn trong cưỡng chế thi hành án
dân sự tại địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về cưỡng
chế thi hành án dân sự nói chung, tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân
sự trong quá trình giải quyết thi hành án.
- Đánh giá thực trạng chung về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân

sự của tỉnh Đắk Lắk. Phân tích, đánh giá kết quả đã đạt được; những tồn

5


tại, hạn chế, vướng mắc và chỉ ra những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế,
vướng mắc.
- Đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác cưỡng chế
thi hành án dân sự tại tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về cưỡng chế thi hành
án dân sự.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn được nghiên cứu thực hiện tại Cục Thi hành
án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác cưỡng
chế thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011 - 2016, đưa ra
phương hướng, giải pháp thực hiện trong giai đoạn 2017 - 2021.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Để đạt được những mục đích đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng các phương pháp như phân tích, so sánh, thống kê, tổng
hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết
thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong Luận văn.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận chung về hoạt động

cưỡng chế thi hành án dân sự.
6


- Nêu ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động
Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk từ đó góp
phần mang lại hiệu quả công tác thi hành án dân sự của tỉnh Đắk Lắk trong
giai đoạn tới.
7. Bố cục của luận văn
Nội dung của đề tài được trình bày trong 03 chương, cụ thể như sau
Chương 1: Lý luận về pháp luật cưỡng chế thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân
sự tại tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về cưỡng chế thi
hành án dân sự từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, luận văn còn có phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo.

7


Chương 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ

1. 1. Khái quát chung về cưỡng chế thi hành án dân sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cưỡng chế thi hành án dân sự
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp nghiêm khắc được Chấp hành
viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành án, thể hiện việc cơ quan Thi
hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án

thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên.
Trên cơ sở các quy định hiện hành, có thể hiểu rằng, cưỡng chế thi hành
án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan Thi hành án dân sự do
Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền, nhằm buộc đương sự phải thực
hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa
án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi
hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn
định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán,
hủy hoại tài sản.
Cụ thể hóa các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, Điều 71 Luật thi
hành án dân sự quy định có 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án như sau [57,
tr.39]:
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của
người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do
người thứ ba giữ.
. Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
8


5. Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện
công việc nhất định.
Từ các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự đã được quy định, có thể
thấy chúng có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thể hiện quyền năng
đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh Nhà nước.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phải do cơ quan Thi hành án
dân sự thực hiện (bao gồm cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan Thi

hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án quân khu và tương đương).
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được Chấp hành viên
áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án
nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định.
Thứ ba, đối tượng của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là tài sản
hoặc hành vi của người phải thi hành án.
Thứ tư, khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, người bị áp
dụng ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định do tòa
án tuyên, họ còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự.
Thứ năm, các biện pháp cưỡng chế được Chấp hành viên quyết định áp
dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án dân sự mà còn
có hiệu lực đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất, do đó,
Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án không được áp dụng một
cách tùy tiện mà phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định đó là
Thứ nhất, chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được pháp luật quy định.
Thứ hai, chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế sau khi đã hết thời hạn
tự nguyện thi hành án trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có
9


hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án. Ngoài
ra, cơ quan thi hành án dân sự không không tổ chức cưỡng chế thi hành án có
huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và sau tết Nguyên đán; các
ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi
hành án.
Thứ ba, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án phải tương ứng
với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường
hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số
nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để

thi hành án, các chi phí liên quan (quy định tại Khoản

Điều 2 Nghị định số

62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) [26, tr.15]. Trường hợp
người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với
nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc
phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có
quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án (khoản 1, Điều
13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ) [26, tr.9].
Thứ tư, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải căn cứ vào bản án, quyết
định và từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt
chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức
Chấp hành viên. Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không,
an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an
toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có
áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên.
1.1.2. Vai trò của cưỡng chế thi hành án dân sự
Nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện thi hành án. Trong tổ chức
thi hành án, Chấp hành viên chú trọng tuyên truyền, giáo dục, giải thích,
hướng dẫn, động viên người phải thi hành án tự giác, tự nguyện thi hành
nghia vụ của mình, nhằm tạo ra ý thức về lối sống cộng đồng, ý thức pháp

10


luật của mỗi công dân, tạo ra thói quen sống và làm việc theo Hiến pháp và
pháp luật. Tuy nhiên, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án
nhưng không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế là cần thiết, đảm bảo vì lợi ích hợp pháp

của người được thi hành án, giữ nghiêm kỷ cương phap luật chung của nhân
dân, xã hội, nhà nước, trong đó có cả lợi ích cá nhân. Không áp dụng cưỡng
chế, hay coi nhẹ nó cũng có nghĩa là buông nhẹ kỷ cương dẫn tới tình trạng
vô Chính phủ, vô kỷ luật trong xã hội và trong bộ máy nhà nước. Điều quan
trọng là, không được lạm dụng sử dụng biện pháp cưỡng chế để giải quyết
toàn bộ các việc thi hành án, điều đó sẽ dẫn đến sự chuyên quyền, không đúng
với bản chất nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân.
1.2. Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
1.2.1. Khái niệm
Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự là các quy định của pháp luật
quy định về vấn đề cưỡng chế thi hành án dân sự. Các quy định này được cụ
thể hóa trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành (các
Nghị định, Thông tư và các văn bản hướng dẫn chuyên ngành). Các quy định
này nêu rõ những hình thức, biện pháp, cách thức, thủ tục thực hiện việc
cưỡng chế; quy định rõ ai là người có thẩm quyền được áp dụng biện pháp
cưỡng chế, chủ thể bị cưỡng chế là ai, đối tượng bị cưỡng chế là gì, trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong thực hiện tổ chức cưỡng chế
thi hành án dân sự.
Có thể hiểu rằng, pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự là tập hợp
các chế định được về cưỡng chế thi hành án dân sự được nhà nước quy định
cụ thể về cách thức sử dụng và hình thức sử dụng pháp luật để xử lý tài sản
của người phải thi hành án hoặc bắt buộc người phải thi hành án thực hiện
nghĩa vụ của mình theo nội dung Bản án, quyết định đã tuyên.
1.2.2 Vai trò
11


Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự có vai trò hết sức quan trọng,
là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, quy định
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chấp hành viên và của các tổ chức, cá

nhân có liên quan trong thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự.
Thông qua các quy định về cưỡng chế thi hành án dân sự, Nhà nước xác
định rõ quyền lực của nhà nước bằng việc, cho phép cơ quan Thi hành án dân
sự áp dụng các biện pháp bảo đảm, các biện pháp cưỡng chế, xử phạt vi phạm
hành chính, thậm chí là đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành
vi chống đối, các hành vi vi phạm các quy định về thi hành án dân sự. Pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự xác định rõ các quyền năng của cơ quan
nhà nước, của cơ quan Thi hành án dân sự và của Chấp hành viên trong việc
buộc người phải thi hành án phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo nội
dung Bản án, quyết định đã tuyên, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp
luật, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và của công
dân.
Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự còn là phương tiện để nhà
nước quản lý xã hội, triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nước
một cách đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô cả nước, đồng thời đó
cũng là phương tiện để nhà nước kiểm soát các hoạt động của Chấp hành
viên, của các tổ chức, các cơ quan và mọi công dân trong cưỡng chế thi hành
án dân sự.
Bằng các quy định cụ thể trong Luật thi hành án dân sự và các văn bản
hướng dẫn thi hành cùng các quy định có liên quan, pháp luật về cưỡng chế
thi hành án dân sự đã góp phần làm rõ thêm các chủ trương, chính sách của
nhà nước, đặc biệt là chủ trương xây dựng nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả mọi cơ
quan, tổ chức và cá nhân đều phải chấp hành các quy định của pháp luật nói
chung, trong đó bao gồm các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án
dân sự, mọi người đều phải chấp hành tính thượng tôn pháp luật. Điều đó
12


cũng có nghĩa rằng, với tư cách là người trực tiếp thực thi quyền lực nhà

nước, Chấp hành viên cũng phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp
luật về cưỡng chế thi hành án dân sự. Chính các quy định này là ranh giới xác
định phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, để Chấp hành viên
không thể lạm quyền, không thể tùy tiện sử dụng quyền lực nhà nước trong
thực hiện nhiệm vụ của mình.
Là quy phạm pháp luật, nên pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
có những đặc điểm chung, mang tính phổ biến, thống nhất, được quy định
trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó
hàm chứa các quy tắc mang tính chất mẫu mực, khuôn thước để Chấp hành
viên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Dựa trên các
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, Chấp hành viên cũng như
đương sự và các chủ thể khác tham gia vào quá trình thi hành án biết được
được quyền, nghĩa vụ của mình, biết mình được làm những gì, không được
làm gì và phải làm như thế nào.
Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự có tính bắt buộc chung.
Việc thực hiện các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của mỗi người, dù muốn hay không
muốn tất cả mọi người tham gia việc cưỡng chế thi hành án đều phải chấp
hành một cách nghiêm chỉnh và triệt để, không phân biệt giữa người này
hay người khác. Các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
mang tính bắt buộc chung, được nhà nước đảm bảo thực hiện, được thực hiện
bởi Chấp hành viên cơ quan Thi hành án dân sự, với sự tham gia phối hợp, hỗ
trợ thực hiện của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
1.2.3. Nội dung pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự
1.2.3.1. Quy định về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp
hành viên
Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự:
13



Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, thì hệ thống cơ quan thi
hành án dân sự bao gồm cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan Thi
hành án dân sự [57, tr.7].
Cơ quan quản lý Thi hành án dân sự gồm có: cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp và cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng.
Cơ quan Thi hành án dân sự gồm có Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương.
Quy định về Chấp hành viên
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản
án, quyết định theo quy định. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên
sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp. Chấp hành viên
do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, có nhiệm vụ, quyền hạn như sau [57,
tr.11]:
1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định
về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy
định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp
hành viên.
3. Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải
quyết việc thi hành án.
. Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh

14



địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên
quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế
thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án
theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi
phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi
trả cho đương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và
các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định
của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân
theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án và được
pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín.
Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức trong thi
hành án dân sự
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong thi hành án dân sự [57, tr.78]:
Thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước;
Chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành
án dân sự; Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối

15



cao trong thi hành án dân sự; Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc hội về công tác
thi hành án dân sự.
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nước về thi hành án dân sự. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án
dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo quy định
của Chính phủ.
Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây [57, tr.7]: Ban hành
hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
thi hành án dân sự; Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi
hành án dân sự; Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự; Quản lý
hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết
định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm,
miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên; Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác
thi hành án dân sự; Thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển dụng, sử
dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức,
người lao động trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự; kiểm tra, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân
sự; Quyết định kế hoạch phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương
tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thi hành án dân sự; Tổng kết công tác thi hành án dân sự; Ban hành và thực
hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự; Báo cáo Chính phủ về công tác
thi hành án dân sự.
Các Bộ, Ngành Trung ương có trách nhiệm phối phối hợp với Bộ Tư
pháp quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật về thi hành án dân sự, chỉ đạo các cơ quan thuộc hệ thống quản lý
của mình phối hợp trong công tác thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật [57, tr.78 - tr.83].
16



Trong phạm vi quyền hạn do pháp luật quy định, Ủy ban nhân dân các
cấp, Tư lệnh quân khu và tương đương có trách nhiệm phối hợp chỉ đạo và
tạo điều kiện cho cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn thực thi chính sách,
pháp luật về thi hành án dân sự; chỉ đạo các cơ quan chức năng có liên quan
phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để thực hiện tốt việc quản lý hoạt
động thi hành án dân sự trên địa bàn [57, tr.81].
1.2.32. Quy định về thẩm quyền áp dụng và tổ chức thực hiện các biện
pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi
hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành
án; thu giữ tài sản thi hành án; Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để
thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định của pháp
luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi
hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi
hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa
phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi
hành án thích hợp. Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp
cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự.
Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng
với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường
hợp người phải thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên tài sản cụ thể trong số
nhiều tài sản mà không gây trở ngại cho việc thi hành án và tài sản đó đủ để
thi hành án và các chi phí liên quan. Trường hợp người phải thi hành án chỉ có
một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài
sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị


17


của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm,
cưỡng chế để thi hành án.
Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do Luật
Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức
cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước và
sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách,
nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng
nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán
tại địa phương.
Trong trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo
cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp
quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương ít nhất là 05 ngày làm
việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh
hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định
tại Khoản 1 Điều 172, Khoản 2 Điều 173 và Khoản 2 Điều 17 của Luật Thi
hành án dân sự [57, tr.81].
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi
hành án dân sự
1.3.1. Năng lực thực thi công vụ của cơ quan thi hành án dân sự, chấp
hành viên thi hành án dân sự
Chấp hành viên thi hành án dân sự là một chức danh Tư pháp do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm theo quy trình, thủ tục nhất định khi đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu, tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định
của pháp luật; được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức thi hành hoặc trực tiếp
thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật; được sử dụng
quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự. Hoạt động của cơ quan Thi
hành án dân sự được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của đội ngũ Chấp

hành viên, về bản chất, là hoạt động áp dụng pháp luật; do đó, các hoạt động
tác nghiệp của đội ngũ Chấp hành viên phải tuân thủ theo đúng các quy định
18


của pháp luật về nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Nếu áp dụng
pháp luật một cách đơn giản, cứng nhắc thì sẽ không đạt được hiệu quả, kết
quả như mong muốn, mà có khi lại dẫn đến tình trạng bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể thi hành được trên thực tế
hoặc có thi hành được thì hậu quả xã hội xảy ra lại rất khó khắc phục [38].
Điều này rất dễ nhận thấy ở những vụ cưỡng chế thi hành án lớn mà gần đây
các phương tiện truyền thông đưa tin.
Để việc cưỡng chế thi hành án đạt hiệu quả cao, Chấp hành viên phải có
năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để có thể áp dụng pháp luật một cách năng
động, linh hoạt, khéo léo. Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của Chấp hành
viên thi hành án dân sự, về cơ bản, bao gồm các yếu tố như trình độ kiến thức,
hiểu biết pháp luật; ý thức pháp luật nghề nghiệp; kỹ năng nghiệp vụ công
tác; phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống...
1.3.2. Ý thức pháp luật của các bên liên quan trong cưỡng chế thi
hành án dân sự
Ý thức chấp hành pháp luật của các bên thể hiện qua thái độ tự giác, tự
nguyện thi hành án, tự thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự đã được bản án,
quyết định ghi nhận, thể hiện ý chí và sự mong muốn của các bên. Kết quả
của tự nguyện thi hành án là tiền đề, cơ sở và là căn cứ để Chấp hành viện áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án nếu đương sự không tự nguyện thi
hành án. Tự nguyện thi hành án là biện pháp đầu tiên, quan trọng để các Chấp
hành viên thi hành bản án, quyết định trên thục tế. Tự nguyện thi hành án
cũng là mục tiêu phấn đấu và cũng là sự mong muốn hướng tới của các cơ
quan Thi hành án dân sự nói chung và của các Chấp hành viên nói riêng, bởi
hiệu quả của việc tự nguyện thi hành án là rất cao, góp phần giữ vững được sự

ổn định tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, thắt
chặt được mối quan hệ đoàn kết, tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức và tác
động đến ý thức chấp hành pháp luật của công dân.

19


Chủ thể của tự nguyện thi hành án không chỉ là người được thi hành án,
người phải thi hành án, mà còn có thể là người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan. Đối với người được thi hành án, sự tự nguyện của người được thi hành
án chính là họ dùng quyền lợi của mình đã được Bản án có hiệu lực pháp luật
ghi nhận để thể hiện sự tự nguyện của mình. Sự tự nguyện thi hành án của
người được thi hành án thể hiện ở chỗ họ có thể thỏa thuận với người phải thi
hành án về thời gian, địa điểm, phương thức thi hành án, nhưng thỏa thuận
này không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Việc tự nguyện thi hành án của người được thi hành án cũng được Nhà
nước khuyến khích và được thể hiện dưới một cơ chế khác, đó là người được
thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện đồng ý cho bên phải thi hành
án hoãn thi hành án, thời gian hoãn do bên được thi hành án quyết định. Hoặc
người được thi hành án cũng có thể đơn phương tự nguyện từ bỏ quyền và lợi
ích của họ được hưởng theo bản án quyết định, nếu việc từ bỏ này không làm
ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước hoặc của người khác.
Cả hai trường hợp nói trên, tuy cách xử lý khác nhau nhưng về bản chất
đều giống nhau đó là thể hiện việc tự nguyện thi hành án của người được thi
hành án.
Trường hợp nếu các bên không có ý thức tự giác, tự nguyện thi hành án,
không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, thì Chấp hành viên buộc phải áp
dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế
là hết sức cần thiết, bảo đảm công lý được thực thi, bảo đảm tính nghiêm
minh của pháp luật, tuy nhiên, nó cũng có thể làm tốn kém thời gian, chi phí,

ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
1.3.3. Sự phối hợp của các bên liên quan trong cưỡng chế thi hành án
dân sự
Thi hành án dân sự là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền về tài sản
và nhân thân của các bên đương sự, để giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi
hành án dân sự phải tiến hành nhiều thủ tục như Tống đạt, xác minh, áp dụng
20


×