A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI.
Ở Việt nam chúng ta, lớp học thường đông học sinh, giờ học ngắn không
đủ cho đại bộ phận học sinh tham gia đóng góp vào bài học. Trừ việc luyện đọc
đồng thanh, trung bình mỗi học sinh trong lớp chỉ có tổng cộng 10-15 giây để
nói. Muốn tăng thời gian học sinh được luyện nói trong buổi học phải tổ chức
họat động để tất cả đều được nói.
Những người theo quan điểm lấy người học làm trung tâm thường cho rằng
nếu tất cả học sinh trong lớp cùng tham gia nói một lúc thì lớp học sẽ trở nên hết
sức ồn ào, mất trật tự, khó kiểm soát. Nhưng thực tế không hẳn như vậy: Với sự
hướng dẫn kiểm soát của giáo viên và việc thiết lập những quy định khi làm việc
ở nhóm, cặp thì tiếng ồn trao đổi bằng ngoại ngữ là tiếng ồn tích cực, là biểu
hiện của việc học hành.
Để hoạt động theo cặp, nhóm của học sinh có hiệu quả trong công việc
dạy- học ngoại ngữ nói chung và dạy học Tiếng Anh nói riêng cần phải hiểu thế
nào là hoạt động theo nhóm, cặp; cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc gì và
yêu cầu giáo viên, học sinh phải làm gì? Ở chuyên đề này tôi mạnh dạn đưa ra
cách tổ chức làm việc theo cặp, nhóm sao cho có hiệu quả.
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính
năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và
giải quyết vấn đề cho các em. Để đạt được mục tiêu này, việc thay đổi phương
pháp dạy học theo hướng coi trọng người học - coi học sinh là chủ thể của hoạt
động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các
em trong quá trình dạy học là rất cần thiết.
Trong dạy học ngoại ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay
thế người học trong việc học ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao
tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam đang ở chặng đầu của con
đường đổi mới, giáo dục còn đang nhiều khó khăn, điều kiện đầu tư cho cơ sở
vật chất còn nhiều hạn chế như: thiếu phòng học, dụng cụ tài liệu, lớp quá
đông…..Vậy làm thế nào để áp dụng được các phương pháp dạy học tích cực
nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giảng dạy môn Tiếng Anh- một môn học mà
từ trước đến nay vẫn coi là môn "phụ", môn " học thuộc lòng"? làm thế nào để
học sinh khắc phục được tâm lý này? Để học sinh trở nên yêu thích hứng thú với
bộ môn, giờ học không còn cảm thấy nhàm chán, tẻ nhạt và đồng thời cũng khắc
1
phục được hạn chế do hoàn cảnh hiện tại của nước nhà. Với những điều kiện đòi
hỏi trên, một trong những phương pháp học tập có tính khả thi là dạy học hợp
tác trong nhóm. Bởi phương pháp này không đòi hỏi điều kiện học tập gì đặc
biệt, lại không phụ thuộc quá nặng nề vào cá tính hay khả năng đặc biệt của
người dạy giống như các phương pháp dạy học khác.
Đối với các phương pháp dạy học hợp tác nhóm thì các nhiệm vụ học tập
được giải quyết không phải từng cá nhân riêng rẽ mà là sự phối hợp, sự hợp tác
của các thành viên trong một nhóm. Việc phối hợp theo cả chiều đứng( ThầyTrò) và chiều ngang ( Trò-Trò) tạo điều kiện cho học sinh nhận thức từ hai phía
thầy và bạn. Chính trong quá trình học tập chung đó các em được trao đổi thảo
luận học hỏi lẫn nhau, được khẳng định mình trong nhóm, tập thể tạo nên bầu
không khí dân chủ trong lớp học. Đồng thời học tập nhóm còn rèn luyện tính
độc lập, tự chủ, khả năng diễn đạt, lập luận vấn đề, sự hợp tác tương trợ lẫn
nhau, ý thức cộng đồng, tính kỷ luật …Từ đó, giúp cho học sinh có thể thích ứng
nhanh với những đòi hỏi ngày càng cao của cuộc sống .Đây chính là mục đích
cuối cùng của dạy học.
Xuất phát từ những tiền đề lí luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài " Vận
dụng hoạt động theo nhóm, cặp có hiệu quả trong giảng dạy môn học tiếng
Anh THCS"
III. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1. Đối tượng nghiên cứu: vận dụng hoạt động theo cặp, nhóm vào dạy học
tiếng Anh ở nhà trường THCS.
2. Phạm vi nghiên cứu: học sinh các khối lớp 6,7,8,9 ở trường THCS
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Đề tài xác định cơ sở lý luận và quy trình của việc vận dụng phương pháp
dạy học theo cặp nhóm vào dạy học tiếng Anh THCS. Việc thực hiện phương
pháp này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, góp phần
nâng cao dạy và học môn tiếng Anh.
V. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
GV đã nhận thức được những ích lợi của dạy học nhóm: GV đã thấy rõ tác
dụng của dạy học theo nhóm trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, tăng
cường sự tham gia của HS, như: mọi HS đều được trình bày ý kiến, HS tự tìm ra
tri thức, nắm bài chắc hơn, hứng thú với học tập hơn.v.v... và phát triển những kĩ
năng xã hội cho HS, như biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của bạn, biết trình
bày ý kiến của mình cho các bạn nghe và hiểu, biết thống nhất ý kiến,v.v...; Còn
đối với GV thì dạy học nhóm giúp họ không phải nói nhiều trên lớp, nhưng
2
chuẩn bị bài cần kỹ lưỡng hơn; hiểu khả năng của HS hơn…. Học sinh bước đầu
đã có những kĩ năng làm việc theo nhóm: Các em đã biết nhanh chóng gia nhập
vào nhóm,; bước đầu biết bày tỏ quan điểm/ý kiến và trình bày mạch lạc kết quả
làm việc chung của cả nhóm.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Ở việt Nam, phương pháp học tập hợp tác nhóm đã được tổ chức dạy học
từ lâu như: “Học thầy không tày học bạn”. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945,
chúng ta từng có phong trào học tập dân chủ “Bình dân học vụ”, học tập tổ
nhóm. Phong trào “Đôi bạn cùng tiến” được hội đồng đội Trung ương phát động
trong thời gian dài cả trong kháng chiến và đến tận bây giờ vẫn được duy trì.
Trên thực tế, ở những vùng dân cư thưa thớt, như vùng sâu vùng xa, vùng núi
cao hẻo lánh, chúng ta đã tổ chức dạy học theo các lớp ghép 2, 3 đến 4 trình độ
trong một lớp. Việc tổ chức dạy học lớp ghép như vậy cũng là dựa trên nền tảng
của tổ chức dạy học theo nhóm cùng trình độ.
Những năm cuối thế kỷ XX, học tập nhóm ở Việt Nam luôn diễn ra dưới
nhiều hình thức khác nhau: như nhóm tự quản, nhóm học tập, ở một số môn học
như: thể dục, thủ công, âm nhạc, ngoại khóa, sinh hoạt câu lạc bộ vv... Gần đây,
với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động
của người học, các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đưa ra bốn đặc trưng cơ bản:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động độc lập của học sinh.
- Chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Tăng cường học tập cá thể kết hợp học tập hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò.
Mục tiêu của môn tiếng Anh là nhằm hình thành và phát triển ở học sinh
những kiến thức kỹ năng cơ bản về tiếng Anh và những phẩm chất trí tuệ cần
thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Vì vậy SGK tiếng Anh
THCS mới từ lớp 6 đến lớp 9 đều được biên soạn theo cùng một quan điểm xây
dựng chương trình, đó là quan điểm chủ điểm (thematic approach) và đề cao các
phương pháp học tập tích cực chủ động của học sinh.
Có thể nói một trong những biểu hiện tích cực, đặc trưng của học sinh
trong việc học tập bộ môn ngoại ngữ là học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức,
kĩ năng vận dụng để giao tiếp, biết cách làm việc theo cặp, nhóm hợp tác với
bạn khi cần thiết trong quá trình luyện tập nói, viết biết chủ động trình bày
những ý định của mình thông qua giao tiếp nói hoặc viết.
3
Việc tổ chức luyện tập thành cặp không khó mà lại rất cần thiết để đạt được
mục tiêu cuối cùng của các chương trình dạy ngoại ngữ là trang bị cho người
học khả năng giao tiếp, trao đổi dễ dàng và trôi chảy bằng ngôn ngữ. lợi thế của
loại hình bài tập này là việc tạo cho học sinh những cơ hội để luyện nói
Với nhóm học tập của nhà trường, điều đầu tiên cần được xét tới là sự
thành lập nhóm: Nhóm đó được thành lập như thế nào? Trong lĩnh vực giáo
dục, cần phải phân biệt rõ “nhóm” và “đám đông” . Với sự làm việc chung
của các học sinh trong nhà trường, người thầy đã khơi gợi những lợi ích
chung về một vấn đề nào đó, để khi sự ham thích hành động của cá nhân giao
nhau tới một mức độ có thể cho những nhóm nhỏ tự nhiên được hình thành.
Những nhóm mà sự hiện hữu đặt trên trên căn bản mà cá nhân chỉ có thể xác
nhận là vì một hoạt động hoàn toàn có tính cách cá nhân, và như thế mỗi
người sẽ nhận một phần, để đóng góp tích cực vào cuộc thảo luận trong
khuôn khổ hạn hẹp của nhóm đó.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
a) Thuận lợi – khó khăn.
* Thuận lợi: Học theo nhóm phát huy cao độ vai trò chủ thể, tích cực của
mỗi cá nhân trong việc thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao: các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng khi học theo nhóm, vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo,
năng động, tinh thần trách nhiệm của HS thường được phát huy hơn, cơ hội cho
HS tự thể hiện, tự khẳng định khả năng của mình nhiều hơn.
Đặc biệt, khi HS học theo nhóm thì kết quả học tập thường cao hơn, hiệu
quả làm việc tốt hơn, khả năng ghi nhớ lâu hơn, động cơ bên trong, thời gian
dành cho việc học, trình độ lập luận cao và tư duy phê phán. Nhóm làm việc còn
cho phép các em thể hiện vai trò tích cực đối với việc học của mình - hỏi, biểu
đạt, đánh giá công việc của bạn, thể hiện sự khuyến khích và giúp đỡ, tranh luận
và giải thích... rất nhiều những kĩ năng nhận thức được hình thành, như: biết đưa
ra ý tưởng của mình trong môi trường cùng phối hợp, giải thích, học hỏi lẫn
nhau bằng ngôn ngữ và phương thức tác động qua lại, phát triển sự tự tin vào
bản thân như là người học và trong việc chia sẻ ý tưởng với sự tiếp thu có phê
phán (của nhiều người cùng nghe về một vấn đề). Hay nói cách khác, HS trở
thành chủ thể đích thực của họat động học tập của cá nhân mình.
Giúp hình thành các kĩ năng xã hội và các phẩm chất nhân cách cần thiết
như: kĩ năng tổ chức, quản lí, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng hợp tác, có
trách nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự
ủng hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của
4
sự đa dạng và tính gắn kết. Có những cảm xúc về trách nhiệm với nhóm và
khuyến khích ý thức tự giác, tự kỉ luật; phương tiện rèn luyện và duy trì các mối
quan hệ liên nhân cách.
Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: dạy học theo nhóm
sẽ tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định mình và
được phát triển. Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như
vậy sẽ giúp cho những học sinh nhút nhát, thiếu tự tin, cô độc có nhiều cơ hội
hòa nhập với lớp học. Thêm vào đó, học theo nhóm còn tạo ra môi trường hoạt
động mang bầu không khí thân mật, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ trên cơ sở
cố gắng hết sức và trách nhiệm cao của mỗi cá nhân. HS có cơ hội được tham
gia tích cực vào hoạt động nhóm. Mọi ý kiến của các em đều được tôn trọng và
có giá trị như nhau, được xem xét, cân nhắc cẩn thận. Do đó sẽ khắc phục tình
trạng áp đặt, uy quyền, làm thay, thiếu tôn trọng...giữa những người tham gia
hoạt động, đặc biệt giữa GV và HS.
* Khó khăn: Đòi hỏi nhiều thời gian: Một lớp học đông với thời gian
giảng dạy là 45 phút học một tiết là một trở ngại rất lớn cho dạy học nhóm thành
công.
Nếu như GV không kiểm soát cẩn thận tương tác giữa HS trong nhóm, thì
một vài HS có thể lãng phí thời gian vào việc thảo luận những vấn đề không có
liên quan hoặc có thể xảy ra trường học là một HS phụ trách nhóm theo kiểu độc
đoán, đa số các thành viên trong nhóm không tham gia thảo luận mà lại quan
tâm đến vấn đề khác…trong nhóm và giữa các nhóm có thể phát sinh tình trạng
đối địch, ganh đua quá mức.
Thường khó để đánh giá từng HS một cách công bằng và một vài em có thể
cảm thấy không thoải mái với việc đánh giá dựa trên sự nỗ lực của nhóm.
Học sinh phải học cách học trong môi trường nhóm, nhưng đôi khi không
dễ cho các em khi mà chúng đã quen với các phương pháp giảng dạy lấy GV
làm trung tâm.
b) Thành công - hạn chế.
* Thành công: Dạy học theo nhóm đã được GV sử dụng khá phổ biến và
thường xuyên: Từ khi có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
tăng cường sự tham gia của HS, phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực của
các em thì dạy học theo nhóm đã được coi là phương pháp dạy học hữu hiệu và
bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt phương pháp dạy học trong nhà trường phổ
thông GV đã nhận thức được những ích lợi của dạy học nhóm: GV đã thấy rõ tác
dụng của dạy học theo nhóm trong việc phát huy tính tích cực, chủ động, tăng
5
cường sự tham gia của HS, như: mọi HS đều được trình bày ý kiến, HS tự tìm ra
tri thức, nắm bài chắc hơn, hứng thú với học tập hơn.v.v... và phát triển những kĩ
năng XH cho HS, như biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến của bạn, biết trình bày
ý kiến của mình cho các bạn nghe và hiểu, biết thống nhất ý kiến,v.v...; Còn đối
với GV thì dạy học nhóm giúp họ không phải nói nhiều trên lớp, nhưng chuẩn bị
bài cần kỹ lưỡng hơn; hiểu khả năng của HS hơn.v.v....
Giáo viên đã có kiến thức và một số kỹ năng để tiến hành dạy học theo
nhóm: Qua dự giờ và qua một số công trình nghiên cứu đều cho thấy về cơ bản
GV biết sử dụng phương pháp dạy học nhóm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và
nội dung bài học. GV bước đầu đã biết lựa chọn hình thức và cơ cấu nhóm
tương đối phù hợp; đã nêu được các bước dạy học theo nhóm. Khâu chuẩn bị
của GV cho HS làm việc theo nhóm cũng tương đối tốt.
Học sinh bước đầu đã có những kĩ năng làm việc theo nhóm: Các em đã
biết nhanh chóng gia nhập vào nhóm, bước đầu biết bày tỏ quan điểm/ý kiến và
trình bày mạch lạc kết quả làm việc chung của cả nhóm.
* Hạn chế: Bên cạnh những kết quả tích cực như trên, vẫn còn những tồn
tại nhất định, cụ thể là:
Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm chưa được GV thực hiện đầy đủ: Sự
không đầy đủ được thể hiện ngay từ khâu thiết kế họat động nhóm khi soạn giáo
án. GV chủ yếu chỉ chú ý đến việc chuẩn bị phiếu học tập cho nhóm, chú ý đến
kích cỡ nhóm làm việc là bao nhiêu. Khi tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ
nhóm trên lớp, GV cũng chủ yếu chú trọng đến việc giao nhiệm vụ học tập cho
nhóm, sau đó theo dõi, giám sát và đánh giá kết quả làm việc của nhóm. GV chưa
hiểu đúng bản chất, tính đa mục đích của dạy học theo nhóm nhỏ: Khi tiến hành tổ
chức dạy học theo nhóm nhỏ, GV chủ yếu hướng HS nhằm vào mục tiêu hoàn
thành nhiệm vụ học tập cụ thể mà nhóm HS cùng nhau thực hiện chứ chưa chú
trọng giáo dục cho HS những kĩ năng xã hội quan trọng mà làm việc nhóm có ưu
thế.
Ngoài ra, cũng do không hiểu hết những ích lợi xã hội mà dạy học nhóm
mang lại, nên trong thực tiễn triển khai vô hình chung GV đã "hành chính hóa"
nhóm trưởng và thư kí và thường là những em học khá, nhanh nhẹn hơn và như
vậy cơ hội cho những em khác được hưởng những lợi thế của làm việc nhóm sẽ
không có.
Sau khi các nhóm thảo luận GV ít quan tâm chốt lại những kiến thức, kết
luận chung làm cho HS không biết ý kiến nào là phù hợp. Còn đơn điệu trong
việc sử dụng các hình thức tiến hành và nhiệm vụ giao cho nhóm. Nhiệm vụ
6
giao cho nhóm còn đơn giản, ít phương án trả lời, không cần huy động nhiều
kinh nghiệm của từng cá nhân và thiếu định hướng để HS buộc phải phân chia
công việc hay phải trưng cầu ý kiến riêng của từng người trong nhóm.
c) Mặt mạnh – Mặt yếu.
* Mặt mạnh:
Dạy học theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng học sinh,
hoàn thiện cho nhau những điểm yếu. Dạy học theo nhóm nâng cao tính tương
tác giữa các thành viên trong nhóm.
- Tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới. Kích
thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giải quyết vấn đề
- Tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức biểu đạt
như lời nói, ánh mắt cử chỉ…
- Khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát
triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau, từng người và trở thành niềm vui
chung của tất cả. Họ gắn kết với nhau theo phương thức mỗi người cũng như
toàn nhóm không thể thành công nếu mỗi thành viên không cố gắng hoàn thành
trách nhiệm của mình
*Mặt yếu:
Một số khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm.
Bàn ghế chưa phù hợp để có thể sắp xếp cho dạy học nhóm, HS lúng túng
và nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động trong nhóm. Một số
học sinh còn ỷ lại, dựa dẫm vào các bạn cùng nhóm. Việc quan sát, đánh giá của
giáo viên chưa được quan tâm đúng mức.
d) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.
Từ năm học 2009 - 2010 trở về trước , quan điểm dạy học của giáo viên
chủ yếu là lên lớp cố gắng truyền tải hết khối lượng kiến thức theo yêu cầu
trong sách giáo khoa cho học sinh, các tiết học của học sinh thật sự rất đơn điệu,
hình thức tổ chức dạy học chủ yếu là ngồi nghe thầy cô giảng bài sau đó luyện
tập theo những gì các em tiếp thu được.
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh chủ yếu thông qua học thuộc
lòng hoặc việc áp dụng bài học vào thực tiễn một cách máy móc: “Thầy bảo thế
nào thì làm thế đó - với hình thức trả bài cho thầy”. Đánh giá cảm tính, không
thông qua biểu hiện cụ thể.
Những tiết học được tổ chức theo hình thức nhóm, trò chơi học tập, sắm vai
… rất ít; điều này chỉ diễn ra khi thao giảng, hội giảng, những cũng chỉ mang
tính hình thức “ Tổ chức cho có chứ phát huy tác dụng thì không”.
7
Việc học của học sinh tất nhiên là phải phụ thuộc vào khâu tổ chức của giáo
viên, giáo viên tổ chức dạy thế nào thì học sinh học theo thế đó.
Với việc tổ chức như trên, học sinh lên lớp chỉ ngồi nghe – ghi nhớ kiến
thức mà thầy truyền đạt sau đó học thuộc bài, học sinh mà muốn chia sẻ bài học
với bạn thì bị thầy nhắc nhở “gây mất trật tự”. Trong suốt buổi học , các em chủ
yếu là ngồi nhìn lên bảng nghe thầy cô giảng.
Chính vì điều đó mà học sinh rất rụt rè, nhút nhát trong các hoạt động,
nhàm chán trong việc học tập, kết quả học tập không cao, khả năng tự bộc lộ bản
thân yếu, tư duy chậm...
- Ảnh hưởng của phương pháp dạy truyền thống.
Lên lớp chỉ cần truyền thụ hết khối lượng kiến thức trong sách giáo khoa,
chú ý đến nhiều về việc trình bày kiến thức của mình. Các kĩ năng sư phạm chủ
yếu là giảng giải. Học sinh tập trung vào việc ghi nhớ luyện tập và làm theo. Hs
thường làm việc đơn lẻ. Giáo viên chỉ tập trung vào việc dạy rập khuôn theo
chương trình, sách giáo khoa ít chú ý tới sự tiếp thu của học sinh. Chỉ quan tâm
tới sản phẩm cuối cùng và đánh giá theo định kì bằng bài kiểm tra để đánh giá
mức độ hiểu của học sinh.
- Kinh nghiệm dạy học của giáo viên chưa nhiều .
Vấn đề kinh nghiệm trong dạy học là vấn đề tạo nên sự thành công, mang
lại chất lượng giáo dục cao. Đòi hỏi phải có thâm niên dạy học nhiều, học hỏi
nhiều. Không có kinh nghiệm dạy học tức là chưa có kĩ năng tổ chức, xử lí các
tình huống sư phạm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng học tập của
học sinh.
- Chưa hiểu được tầm quan trọng và ích lợi của hoạt động nhóm mang lại.
Chưa hiểu rõ hoạt động nhóm giúp học sinh tích cực và tham gia nhiều
hơn; các kĩ năng giao tiếp về mặt xã hội và một số kĩ năng sống được phát triển.
Chưa hiểu được thông qua hoạt động nhóm, các em có thể tự diễn đạt bằng lời
và chia sẻ các ý tưởng của mình với những người khác trong việc phát triển các
kĩ năng ngôn ngữ, qua đó các em có thể giúp đỡ lẫn nhau.
Thông qua hoạt động nhóm, GV có thể hỗ trợ các đối tượng HS theo nhu
cầu khác nhau đồng thời tạo cho các em tính mạnh dạn, tự tin trong quá trình
giao tiếp.
- Chưa hiểu được các cách chia nhóm và tổ chức nhóm.
Thông thường giáo viên chia nhóm theo kiểu bàn trên quay xuống bàn dưới
hay những học sinh ngồi cùng bàn với nhau cùng nhau thảo luận.
8
Chưa biết nhiều về cách chia, kiểu nhóm, cách hình thành nhóm …
- Giáo viên cho rằng tổ chức làm việc theo nhóm làm cho tiết học lộn xộn,
mất trật tự.
- Khi tổ chức dạy học theo nhóm phải chuẩn bị đồ dùng:( bảng phụ, phiếu
học tập, tốn kém thời gian, kinh phí…)
- Học sinh
Hơn 70% học sinh là học sinh vốn từ vựng còn nghèo nàn, sự rụt rè thiếu tự
tin khi giao tiếp ngôn ngữ diễn ra còn phổ biến.
- Học sinh còn lúng túng, nhút nhát, ít nói, chưa mạnh dạn tham gia vào
hoạt động nhóm nhất là học sinh yếu.
- Tỉ lệ học sinh yếu vẫn cao.
- Cơ sở vật chất
- Bàn ghế chưa phù hợp để có thể sắp xếp chổ ngồi theo nhóm.
- Trang thiết bị dạy học còn ít, không đồng bộ.
- Tài liệu về bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn kĩ năng dạy học vẫn chưa đồng bộ,
nội dung còn chung chung.
- Phòng học thiếu không gian…
Đó là những nguyên nhân làm cho giáo viên ngại tổ chức hoạt động dạy
học theo nhóm.
III. CÁC BIỆN PHÁP.
1.
Đối với giáo viên - người tổ chức đóng vai trò
điều khiển hoạt động cần:
1.1 Chỉ dẫn bài tập hay nêu ra nhiệm vụ cần phải thật rõ ràng.
Example 1:
Teacher: Work in pairs to practise asking and answering about the time in 2
minute:
S1: What time do you….?
S2: I…… at ….o’clock.
Teacher: point the students in the raws and number the: one- two- onetwo… Number one hand up…ok number two hand up… Number one asks,
number two answers.
Teacher points one student and asks: What is your number? What do you
have to do first? And then?
…Then change the positions Number two asks, number one answers.
Example 2: Unit 4 lesson 5 Write English 9
Write a letter of inquiry to request for information or action.
9
Teacher asks students to work in groups of 4- 8 to write. Teacher asks each
group to write outline then write a full letter.
Teacher controls 4 groups in the class and go around to help them.
- Discuss to write a letter. The secratery writes.
1.2 Trước khi làm việc theo cặp, nhóm giáo viên cần có sự chuẩn bị tốt,
có mẫu hoặc ví dụ cho trước, cung cấp đủ ngữ liệu cho bài tập.
The teacher models with one good/ strong student, the whole class listen.
Unit 5 A3 English 6
T: What do you do after school?
S: I read book.
T: Can you ask me?
S: What do you do after school?
T: I play soccer.
Teacher may give some more prompts: watch TV, listen to music, play
chess…
What do you do after school ?
I ............................................
1.3. Trong quá trình học sinh thực hiện giáo viên cần phải có sự theo
dõi, bao quát chung, không ngắt lời khi học sinh đang luyện tập, đi quanh lớp
lắng nghe và giúp đỡ hỗ trợ kịp thời khi cần thiết. Giáo viên ghi lại những lỗi
sai điển hình để chỉ ra cho học sinh và giúp học sinh sửa sau đó.
1.4. Giáo viên cần quy định thời gian cụ thể cho từng hoạt động.
Example:
Teacher: work in pair practise asking and answering about distance in 2
minutes.
(After teacher gives the requirements and duties to the Ss and does the
model on the board)
Teacher: Now, time begins, work in pairs please (after 2 minutes).
Teacher: Now, time is up. Stop asking and answering.
1.5. Giáo viên nên linh động phân cặp, nhóm hợp lý có thể chọn học sinh
cùng trình độ để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất của từng bài
tập, mẫu câu. Việc phân nhóm này nên quy định cho học sinh theo thói quen.
Ví dụ trong việc phân cặp một học sinh có thể hoạt động ở hai đến ba cặp
khác nhau và việc quy định này phải được thực hiện ngay từ những buổi đầu và
mỗi cặp có quy ước về số hoặc tên riêng của cặp mình.
10
Example 1:
Phân cặp đối với một số bài tập đơn giản ta thường phân cặp theo hai học
sinh ngồi gần nhau (close pairs)
Example 2: Học sinh A là học sinh khá, học sinh D là học sinh khá. Học
sinh B là học sinh trung bình, học sinh E là học sinh trung bình. Học sinh C là
học sinh yếu, học sinh F là học sinh yếu.
Ta có thể kết hợp các cặp như sau: Mỗi học sinh có thể có ít nhất từ 2 - 3
cặp cho mình để hoạt động. Giáo viên nên quy định những học sinh A, D mang
số 1; học sinh B, E mang số 2; học sinh C, F mang số 3.
Ví dụ này dùng trong các bài tập đơn giản như thay thế hoặc word cues.
1.6. Sau khi học sinh thực hành bài tập theo cặp, nhóm cần có sự kiểm
tra, nhận xét, góp ý kiến kịp thời từ bạn mình ở nhóm khác. Chữa lỗi hoặc
cung cấp mẫu đúng.
1.7. Khuyến khích học sinh mạnh dạn làm việc theo cặp, nhóm.
2. Học sinh - người thực hiện hoạt động để chủ động lĩnh hội kiến thức
qua hình thức hoạt động này cần phải xây dựng thói quen tuân theo một số
những quy định cần thiết.
2.1. Cần phải nghe những yêu cầu của bài tập.
- Yêu cầu này thể hiện trong sách giáo khoa là một phần mà phần lớn là
hướng dẫn và yêu cầu của giáo viên, người điều khiển hoạt động.
Ví dụ: Có thể yêu cầu về hoạt động, thời gian hoạt động, nhiệm vụ của
từng nhóm, cá nhân trong nhóm.
2.2. Cần làm việc tự giác không gây quá ồn ào.
2.3. Cần phải bắt đầu và ngừng ngay hoạt động khi giáo viên yêu cầu.
Không cố hoàn thành phần đang làm dở.
3. Phương pháp tổ chức hoạt động theo cặp, nhóm.
3.1. Hoạt động theo cặp (pair work).
3.1.1. Cặp giữa thầy và một trò (teacher and a student).
- Giáo viên có thể gọi những học sinh khá thực hành với mình làm mẫu.
Sau đó gọi học sinh yếu hơn làm lại. Những học sinh yếu giáo viên có thể đưa ra
những câu hỏi dễ, để kích thích và lôi cuốn toàn bộ học sinh vào hoạt động ai
cũng phải suy nghĩ và trả lời.
Example:
T: How do you go to school ?
S1: I go to school by bike.
T: What about you S2 ? How do you go to school ?
11
S2: I walk to school.
T: What about ...................?
S3: ................................
3.1b. Cặp mở (open pair) giữa hai học sinh không ngồi gần kề nhau.
- Có thể gọi hai học sinh đóng vai nhân vật trong bài hội thoại (1 học sinh
bên trái, 1 học sinh bên phải ....)
- Có thể gọi một học sinh đặt câu hỏi và cho phép em đó chỉ định người trả
lời.
3.1c. Cặp đóng (close pair ) giữa hai học sinh ngồi kề nhau.
- Với hình thức này giáo viên phải đánh số học sinh theo hàng dọc hoặc
theo hàng ngang, quy nhiệm vụ của từng học sinh trong cặp – hỏi trả lời và
ngược lại hoặc vai A - vai B và ngược lại đổi vai.
- Sau khi giáo viên chủ động điều khiển, giáo viên nên gọi một vài cặp nói
trước lớp những gì họ đã hoàn thành.
Ví dụ: Các bước thực hiện - điều khiển một hoạt động theo cặp:
Example: The steps of controlling a pair work.
Exercise: Likes and dislikes.
Pair work: Ask what your friend likes and doesn’t like.
Ask about: food, sport, music, school subjects.
* 1st step.
- Teacher introduces the exercise and show what questions and answers that
students can give.
Teacher: Now, you are going to talk about things you like and things you
don’t like. Look at exercise.
What question can you ask? What about food?
Ss: What food do you like?
T: Good, what answer could you give?
Ss: I like chocolate.
I like eating fruit.
I like rice ( and so on )
- Teacher writes the basic question the board
“ What (food) do you like?
*2nd sted.
- Ask a few students round the class to show the kind of conversation
stuents might have.
Teacher: What kind of music do you like?
12
Students 1?
Students 1: I like pop music.
Teacher: pop music – which singer do you like best? If you like, ask 2
Students to have similar conversation while the others listen.
*3nd step:
- Divide the class into pairs.
Teacher: Now, you are going to work in pair in 3 minutes.
+ Ask and answer the question, number 1 answers 1 asks number 2 answers
then change number 2 asks, number 1 answers. If there is a group of three one
asks all questions then change round turn.
*4th step:
- Students work in pairs. Teacher goes more quickly round the class,
checking that everyone is taking but do not try to correct mistakes. It will be
better for the teacher to silently take ansew note mistakes.
*5th step:
- When most pairs finished, stop the activities call one by one pair.
*6th step:
- Teacher remarks the activity.
- Ví dụ: Các bước tổ chức một hoạt động nhóm:
Example:
English 7: UNIT 5 – Work and play
A: Read then answer the question
Work in groups of 4 discuss to predict T/F statements True/ False
statements.
1. Ba’s favorite subject is Electronics.
2. He is not good at fixing things.
3. In his free time, he learns to play the guitar.
4. He is not goods at drawing.
5. He can help his parent at home.
*1st step:
- T introduces the requirements and asks students what they have to do.
Teacher: Now, you are going to guess which are true, which are false abuot
Ba. Look at the satements? Who do the statements say?
Read about? S1 the 1st sentence?
S1:………..
Teacher: good, S2 the next, please?
13
S2:………..
*2nd step:
- T asks some students again what have to do.
- Teacher: Do you have to guess or to find out in the text?
S3: guess.
*3rd step:
- Divide the class into groups.
- Teacher: Now you are going to work in groups of 5 in 2 minutes( name
groups of their by pointing) on the left row: 1st line is 2nd one is A2, 3rd is A3,
4th is A4, and on the right, similar group B1, B2 ,B3, B4.
Teacher gives the header of each group a sheet of the statements.
Ready? Now discuss in your group and leader or secretary tick down.
*4th step: Sts work in groups, T. goes round to check .
*5th step: When most groups finish, stop discussing ( Teacher asks about 2
or 3 groups to read out their predictions).
Teacher: Now group A1, your secretary please read out your predictions.
S1:……….
Teacher: Group B2, your.
S2:……….
Do the same with group to compare these to your and whose are correct
read the text and find out the keys.
*6h step: T. gives feed back.
IV HIỆU QUẢ MANG LẠI.
Qua quá trình áp dụng phương pháp kể trên tôi nhận thấy là học sinh
ham học hơn, linh hoạt hơn trong luyện tập, biết cách học bài một cách hiệu
quả, học sinh hứng thú hơn với giờ học, môn học, giờ học sôi nổi hơn, chất
lượng giờ học cũng nhờ đó mà tăng lên nhiều, tuy còn chưa cao lắm.
- Do nắm vững đặc điểm của bài học nên cách lý giải phù hợp, được
nhiều học sinh trong lớp đồng tình thông qua việc giáo viên lấy ý kiến đóng
góp của học sinh.
- Có em còn có những cách kiến giải rất non nớt, thiếu căn cứ song số
này không nhiều. Căn cứ vào cách thảo luận như thế, học sinh đã tự bổ sung
cho mình những điều còn thiếu trong nhận thức, tích cực suy nghĩ, tìm tòi, lý
giải vấn đề tạo được sự hứng thú.
- Ngôn ngữ được thực hành nhiều: Thực hành nhóm, cặp tạo cho học sinh
cơ hội nói Tiếng anh nhiều hơn và số lượng học sinh nói cùng một lúc nhiều.
14
- Giáo viên làm việc bớt căng thẳng, bớt đi những lời thuyết giảng
- Không khí lớp học sôi nổi hơn
Đây cũng chính là những nguyên nhân đi đến những kết quả tương đối khả
quan của đợt khảo sát học kì II năm học vừa qua, cụ thể là:
Lớp
TSHS
Giỏi
T.Bình
Khá
Yếu
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7B
34
3
8.8
13
38.2
14
41.1
4
11.7
0
0
8B
34
4
11.
7
8
23.5
17
50
5
14.7
0
0
Tuy nhiên trong quá trình vận dụng phương pháp này vào dạy - học vẫn
còn một số hạn chế sau:
*Hạn chế:
+ Sự hợp tác chưa triệt để, chưa phát huy cao được hiệu quả của phương
pháp.
+ Hình thức tổ chức chưa được phong phú
*Nguyên nhân:
Theo tôi thuộc về cả hai phía giáo viên và học sinh cùng rất nhiều tác
động khách quan khác.
- Về phía giáo viên:
+ Thời gian một tiết học (45 phút) không thể chờ cho học sinh suy nghĩ
và thảo luận hết các vấn đề như học sinh mong muốn. Có nhiều khi, vì lo
cháy giáo án nên đặt ra nhiều vấn để mà học sinh chậm trả lời thì giáo viên
lại phải tự giải thích.
+ Trong một tiết giáo viên không chỉ sử dụng một phương pháp, một
thao tác mà còn phải sử dụng nhiều phương pháp và thao tác khác.
- Về phía học sinh:
+ Trình độ và ý thức không đồng đều dẫn đến ngay trong nhóm có em
làm việc tích cực, có em thờ ơ không quan tâm hoặc làm việc khác.
+ Lớp chia nhiều nhóm nhỏ, học sinh được phép tự do trao đổi sự quán
xuyến của giáo viên tới tùng nhóm không thể hết được.
+ Trước một vấn đề cần thảo luận trong nhóm học sinh chưa biết phân
công công việc cụ thể và sau đó là sự hợp tác để trình bày vấn đề nên còn
vụng về lúng túng.
+ Việc đọc bài, chuẩn bị trước bài học ở nhà chưa thật sự hiệu quả, vẫn
15
còn mang tư tưởng đối phó nên sự hợp tác nhiều khi không thành công.
* Bài học kinh nghiêm rút ra từ sự vận dụng
- Đối với giáo viên:
+ Cần kiên trì vận dụng phương pháp dạy học tích cực kết hợp với các
phương pháp dạy học truyền thống.
+ Dành thời gian đọc bài và các tài liệu tham khảo về phương pháp dạy
học tích cực để lựa chọn vấn đề tổ chức thảo luận nhóm cho phù hợp.
+ Xây dựng các câu hỏi thảo luận theo trình tự từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp.
+ Tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở để học sinh chủ động tích cực,
hợp tác học tập
+ Làm cho các em hiểu rõ tác dụng tích cực của phương pháp dạy học hợp
tác cả về lý thuyết và thực hành.
+ Kết hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp, tổ chức đoàn động viên, lôi cuốn
các em vào các hoạt động tích cực trong học tập, xây dựng ý thức tự học cho
học sinh.
V.KHẢ NĂNG VẬN DỤNG VÀ TRIỂN KHAI.
Việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này bản thân tôi đã đạt được một số
kết quả hết sức khả quan. Trước hết những kinh nghiệm này rất phù hợp với
chương trình, SGK mới, mô hình trường học mới. Học sinh có hứng thú học tập
hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất
linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng.
Không khí học tập sôi nổi nhẹ nhàng. Học sinh có cơ hội để khẳng định mình,
không còn lúng túng, lo ngại khi bước vào giờ học. Số học sinh giao tiếp đối
thoại được tăng lên, đặc biệt số học sinh yếu kém cũng có phần nào hiểu và sử
dụng được một số câu lệnh của giáo viên, bập bẹ trao đổi với bạn một số câu
thông dụng hàng ngày nhưng đó cũng là dấu hiệu đáng mừng đối với các em.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
I. KẾT LUẬN:
Việc tổ chức học sinh làm bài tập theo cặp hoặc nhóm tạo được nhiều cơ
hội luyện tập và sử dụng ngoại ngữ một cách sáng tạo trong những tình huống
gần với đời sống thật của học sinh. Hơn thế nữa, sự thay đổi trong các hoạt động
học tập và kiểu giao tiếp giúp duy trì được sự tập trung chú ý của các em. Qua
16
các hoạt động này học sinh cũng ý thức hơn được rằng việc hoàn thiện bản thân,
họ có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm đối với sự tiến bộ của chính mình.
Việc tổ chức luyện tập ngoại ngữ theo cặp/ nhóm còn giúp cho học sinh
bạo dạn hơn trong việc sử dụng ngoại ngữ. Học sinh yếu kém thường lo sợ sẽ
mắc lỗi trước mặt thầy cô của học, nhưng nếu chỉ có các bạn cùng lớp thì sự e dè
đó sẽ ít hơn nhiều, học sinh sẽ vượt qua được những nhược điểm về tính cách
của bản thân để học tốt hơn. Ngoài ra học cũng có cơ hội để giúp đỡ, học hỏi
nhau nhiều hơn.
Các kết quả thu lượm được từ việc quan sát, lắng nghe và chấm bài viết sẽ
hết sức quý giá vì chúng giúp hiểu sâu hơn về quá trình học của học sinh. Giáo
viên sẽ nắm được các điểm yếu, điểm mạnh của học sinh, những vấn đề cần bổ
sung cho các bài sau, những chỗ cần điều chỉnh trong giáo trình, giáo án của
mình. Giáo viên cũng học được cách khoan dung với những lỗi không quan
trọng, không làm ảnh hưởng đến nghĩa của lời nói và khuyến khích học sinh
mạnh dạn hơn khi sử dụng ngoại ngữ.
Trong chuyên đề này tôi mới chỉ đưa ra một số kinh nghiệm bước đầu. Tôi
rất mong được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để chuyên đề này được hoàn
thiện hơn.
II. KIẾN NGHỊ.
Xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiển, mục đích dạy học cũng như những
thành công và hạn chế trong khi thực hiện đề tài, để góp phần cho việc dạy tiếng
Anh nói chung, hoạt động nhóm / cặp nói riêng đạt chất lựơng ngày càng cải
thiện bản thân tôi có những kiến nghị sau:
1. Đối với giáo viên:
- Giáo viên cần phải có sự đầu tư, phân tích tìm tòi mỗi bài dạy để tìm ra
cái hay, cái mới trong phương pháp giảng dạy, giúp học sinh nắm được nhiệm vụ
của hoạt động ngay từ ban đầu.
- Giáo viên phải nắm chắc các thủ thuật, phương pháp tổ chức nhóm, cặp.
- Giáo viên phải luôn tạo môi trường ngoại ngữ trong giờ học và phải sử
dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ chính đễ giao tiếp. Tùy theo khối lớp và đối
tượng học sinh, giáo viên có thể sử dụng những câu tiếng Anh ngắn gọn, đơn
giản, dể hiểu, dể nhớ, dể thuộc.
- Giáo viên phải luôn biết khích lệ học sinh sử dụng kiến thức đã học để sử
dụng trong giao tiếp.
17
- Giáo viên không nên quá chú ý đến lỗi của học sinh trong khi nói. Hãy để
các em nghe và nói tự nhiên. Đừng bao giờ buộc học sinh phải dừng nói trong
khi học sinh đó đang cố gắng diễn tả ý nghĩa của mình bằng tiếng Anh, làm như
vậy sẽ khiến các em cảm thấy sợ mắc lỗi khi nghe và nói.
- Giáo viên nên lồng ghép các hoạt động nghe và nói tiếng Anh với hình
thức "vừa chơi - vừa học".
- Giáo viên cần phải chọn, sử dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp,
kỹ thuật trong tiến trình của giờ dạy. ngoài các bài tập sách giáo khoa, giáo viên
cần đưa ra các bài tập phù hợp, có tính năng giao tiếp thực tế cao.
- Nên tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học - Ngữ cảnh cần phải được giới
thiệu rõ ràng.
2. Đối với học sinh:
- Để giờ học đạt kết quả cao, các em nên xem bài học sắp tới. Tăng cường
đông viên, giúp đỡ nhau trong học tập. Thường xuyên nghe băng đài để học
cách phát âm, nói đúng ngữ điệu Tiếng Anh.
- Tự giác thực hành các tình huống của giáo viên yêu cầu. Phát huy đồng
bộ bốn kĩ năng nghe-nói-đọc-viết. Tích cực thực hành nói Tiếng Anh từ những
câu đơn giản đến phức tạp. không nên nôn nóng hay nản chí vì sợ sai.
- Đưa hết khả năng để tiếp cận kiến thức, tạo thành cho mình một thói quen
thực hành nhóm, cặp để các tiết sau khi giáo viên chỉ ra hiệu bằng tay và nói câu
lệnh (work in pair/ work in group ) thì các em tự quay người, lắp ghép linh hoạt
và thực hiện một cách có kỷ xảo và ai vào việc nấy.
- Xây dựng phong cách ngoại ngữ cho mình. Tạo ra không khí ngoại ngữ
trong lớp học để thấy được môn học ngoại ngữ có đặc thù riêng.
- Thực hành theo từng mẫu câu để rồi sau đó vận dụng làm bài tập ở sách
bài tập, nâng cao, viết câu, viết đoạn.
3. Đối với lãnh đạo cấp trên:
- Tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội giao lưu học hỏi và rút kinh nghiệm
qua các hội thảo chuyên đề.
- Là môi trường ngoại ngữ cho nên các kỹ năng phải được luyện tập theo
đăc trưng của phương pháp dạy học, vì vậy cần phải có phòng bộ môn để tránh
gây tiếng ồn cho những lớp học bên cạnh cũng như không bị tác động của tiếng
ồn từ ngoài vào. (có thể cho kết hợp với các phòng bộ môn khácc).
- Giới thiệu các tài liệu có liên quan để giáo viên tham khảo, học hỏi, vận
dụng.
18
MỤC LỤC
Tran
g
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
1
I. Bối cảnh của đề tài
1
II Lý do chọn đề tài
1
III Đối tượng phạm vi nghiên cứu
2
IV. Mục đích nghiên cứu
2
V.
2
Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.
II.
3
Cơ sở lý luận
3
Thực trạng của vấn đề
4
III. Các biện pháp
9
IV. Hiệu quả mang lại
14
V.
16
Khả năng vận dụng và triển khai
C.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
16
I. Kết luận
16
II. Kiến nghị
17
19