Tải bản đầy đủ (.pdf) (83 trang)

Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Băc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1009.84 KB, 83 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––

PHẠM THỊ GIANG

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOÀN THIỆN BẢO HIỂM
Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2016


i

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................... Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN ................................................. Error! Bookmark not defined.
MỤC LỤC .......................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............. Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iv
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................ 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 3
5. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 4
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH .... 5
1.1. Cơ sở lý luận .............................................................................................. 5


1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế tự nguyện
Việt Nam........................................................................................................... 5
1.1.2. Khái niệm, chức năng của bảo hiểm y tế ................................................ 9
1.1.3. Nội dung công tác đánh giá bảo hiểm y tế hộ gia đình ......................... 10
1.1.4. Quy trình khai thác, phát hành thẻ BHYT hộ gia đình ......................... 12
1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện bảo hiểm y tế hộ
gia đình ........................................................................................................... 17
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 19
1.2.1. Kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình ở một số nước trên thể giới .... 19
1.2.2.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và thành phố Bắc
Ninh nói riêng.................................................................................................. 23
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................. 25
2.1. Các câu hỏi nghiên cứu ............................................................................ 25


ii
2.2. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 25
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu ............................................... 25
2.2.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu ................................................ 27
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin .......................................................... 27
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................... 28
2.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng thực hiện BHYT hộ gia đình tại
thành phố Bắc Ninh ......................................................................................... 28
2.3.2. Các Chỉ tiêu phản ánh chi phí KCB ...................................................... 29
Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA
ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH ........................................................ 30
3.1. Giới thiệu về thành phố Bắc Ninh............................................................ 30
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên ................................................................................. 30
3.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội ........................................................................ 31
3.2. Tổ chức hệ thống BHXH thành phố Bắc Ninh ........................................ 32

3.2.1. Khái quát về vị trí, chức năng của BHXH thành phố Bắc Ninh ........... 32
3.2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH thành phố Bắc Ninh .................... 33
3.2.3. Bộ máy tổ chức BHXH thành phố Bắc Ninh ........................................ 35
3.3. Thực trạng thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh ........... 36
3.3.1. Sơ lược về hình tình hình thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại
thành phố Bắc Ninh ......................................................................................... 36
3.3.2. Tình hình phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình ..... 38
3.3.3. Công tác thực hiện thu BHYT hộ gia đình ........................................... 39
3.3.4. Tình hình khám chữa bệnh BHYT ........................................................ 42
3.3.5. Tình hình phân quỹ khám chữa bệnh .................................................... 46
3.3.6. Tình hình chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT ................................ 50
3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thực hiên BHYT hộ gia đình ....... 53
3.4.1. Thu nhập của người dân ........................................................................ 53
3.4.2. Công tác tổ chức thực hiện và tuyên truyền.......................................... 54


iii
3.4.3. Mức phí tham gia .................................................................................. 55
3.4.4. Chất lượng khám chữa bệnh ................................................................. 56
3.5. Đánh giá chung công tác thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố
Bắc Ninh .......................................................................................................... 58
3.5.1. Thành tựu đã đạt được........................................................................... 58
3.5.2. Hạn chế và nguyên nhân ....................................................................... 59
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOÀN THIỆN BHYT
HỘ GIA ĐÌNH TẠI THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH ........... 62
4.1. Quan điểm, mục tiêu chính sách BHYT hộ gia đình ............................... 62
4.1.1. Quan điểm ............................................................................................. 62
4.1.2. Mục tiêu................................................................................................. 63
4.2. Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc
Ninh, tỉnh Bắc Ninh ........................................................................................ 63

4.2.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế chính sách ................................. 63
4.2.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền .. 64
4.2.3. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện BHYT hộ gia đình .................... 65
4.3. Kiến nghị .................................................................................................. 70
4.3.1. Đối với Chính phủ ................................................................................. 70
4.3.2. Đối với các Bộ....................................................................................... 71
4.3.3. Đối với BHXH Việt Nam ..................................................................... 71
4.3.4. Đối với BHXH thành phố Bắc Ninh ..................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 74
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 76


iv

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Tình hình triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố
Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015 ....................................................... 39
Bảng 3.2. Kết quả thu BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh giai
đoạn 2013 - 2015 ............................................................................ 41
Bảng 3.3. Cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế trên địa bàn thành phố
Bắc Ninh ......................................................................................... 44
Bảng 3.4. Số lượng bệnh nhân khám chữa bệnh BHYT trên địa bàn thành
phố Bắc Ninh giai đoạn 2013-2015 ................................................ 45
Bảng 3.5. Tổng hợp đăng ký khám chữa bệnh ban đầu bằng thẻ BHYT tại
thành phố Bắc Ninh năm 2015 ....................................................... 47
Bảng 3.6. Tổng chi phí KCB BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh
giai đoạn 2013-2015 ....................................................................... 51
Bảng 3.7. Kết quả điều tra điều kiện kinh tế hộ gia đình ................................ 53
Bảng 3.8. Nguồn thông tin người dân biết về BHYT hộ gia đình .................. 54

Bảng 3.9. Đánh giá về mức phí tham gia BHYT hộ gia đình ......................... 55
Bảng 3.10. Tỷ lệ người gặp phiền hà khi đi khám bệnh bằng thẻ BHYT ...... 56
Bảng 3.11. Những khó khăn phiền hà khi đi khám chữa bệnh ....................... 56


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người trong cuộc sống, cũng như trong quá trình lao động luôn
phải đối mặt với nhiều rủi ro, chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường xung
quanh. Các tác động này bao gồm các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Trong
thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá, loài người lại chịu ảnh hưởng của
những thứ do chính mình gây ra, đó là nền sản xuất công nghiệp đã phá vỡ
môi trường sinh thái do chất thải từ các khu công nghiệp tạo ra. Thêm vào đó
lao động không còn đơn thuần là một hành vi có ý thức của con người, không
chịu bất cứ một ảnh hưởng hay tác động nào khác, mà ở nhiều nơi, nhiều
người đã phải làm việc ở những môi trường nguy hiểm, độc hại. Môi trường
xung quanh có tác động lớn đến sức khoẻ của con người, nên ốm đau bệnh tật
là khó ai tránh khỏi. Đặc biệt ở nước ta, hậu quả do chiến tranh để lại là rất
nặng nề từ đó ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của nhân dân. Chính vì vậy mà
nhu cầu được chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ sức khoẻ là một nhu cầu tất yếu của
mọi người dân trong cộng đồng xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu này
càng tăng lên.
Tuy vậy khi ốm đau không phải ai cũng đủ khả năng để trang trải các
khoản chi phí khám chữa bệnh, đặc biệt là những người nghèo. Vì vậy, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định BHYT là một trong những loại hình hoạt động có
bản chất nhân văn, nhân đạo cần phải được triển khai. Trong điều kiện khoa
học kỹ thuật ngày càng hiện đại, ngành y tế cũng đã có những bước chuyển
biến lớn, đi sát với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, do đó mà phương tiện
khám chữa bệnh ngày càng hiện đại và đắt tiền. Hệ thống dịch vụ được nâng

cấp, đội ngũ cán bộ y tế được đào tạo ngày một chu đáo hơn, lành nghề hơn,
trình độ quản lý kinh tế và hệ thống y tế ngày càng chặt chẽ hơn, từ đó làm
cho chi phí khám chữa bệnh tăng lên rất nhiều. Đặc biệt, ngày nay y học đã
phát triển mạnh mẽ, nhiều loại thuốc đặc trị ra đời, nên việc chăm sóc sức


2
khoẻ và chữa bệnh ngày càng đắt đỏ. Tình trạng này làm cho một bộ phận lớn
dân cư không có khả năng chi trả khi ốm đau, bệnh tật, buộc phải có sự hỗ trợ
của BHYT.
Từ đầu năm 2015, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT
(Luật BHYT sửa đổi) có giá trị thi hành. Theo đó, BHYT được chuyển đổi từ
tự nguyện sang hình thức BHYT hộ gia đình. Dù có nhiều ưu việt, nhưng đến
thời điểm này, BHYT hộ gia đình vẫn chưa được một số bộ phận nhân dân
hưởng ứng do nhận thức của người dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của
chính sách BHYT chưa đầy đủ; Tính chia sẻ cộng đồng còn hạn chế; Tỷ lệ
nhân dân tham gia chưa cao.
Thành phố Bắc Ninh là một trong những thành phố có dân số đông.
Đây là đối tượng để cơ quan BHXH thành phố Bắc Ninh mở rộng, phát triển
hình thức BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, nhiều năm qua, triển khai số lượng
tham gia BHXH tự nguyện theo hình thức hộ gia đình trên địa bàn đạt tỉ lệ rất
thấp, đa số người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tham gia
BHYT do đó họ không nhiệt tình tham gia. Mặt khác, cơ quan BHXH chưa đề
cao trách nhiệm trong việc triển khai BHYT hộ gia đình, chưa tạo điều kiện
thuận tiện để người dân tham gia . Do đó từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài:
“Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố
Bắc Ninh - tỉnh Bắc Ninh” làm chủ đề nghiên cứu trong quá trình làm luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung

Trên cơ sở phản ánh và phân tích thực trạng thực BHYT hộ gia đình tại
thành phố Bắc Ninh đề ra một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoàn thiện
BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh trong những năm tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện BHYT hộ gia đình.


3
- Đánh giá thực trạng tham gia BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc
Ninh giai đoạn 2013 -2015.
- Đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh hoàn thiện BHYT
hộ gia đình trên địa bàn thành phố Bắc Ninh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc thực hiện BHYT hộ gia đình tại
thành phố Bắc Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi thời gian: Các số liệu nghiên cứu của đề tài được tập hợp từ
giai đoạn 2013 - 2015.
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh
Bắc Ninh.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác thực hiện BHYT
hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2013 - 2015
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn
về BHYT, nhất là vấn đề chính sách và tổ chức thực hiện BHYT hộ gia đình.
- Chỉ ra được những thuận lợi trong việc triển khai BHYT hộ gia đình
tại địa bàn nghiên cứu, đồng thời, đặc biệt là phát hiện ra những khó khăn, hạn
chế khiến cho việc triển khai BHYT hộ gia đình tại địa phương không thành
công như mong đợi. Từ đó, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu,

các biện pháp cụ thể nhằm hiện thực hóa thành công BHYT hộ gia đình trong
các đối tượng tiềm năng tại thành phố Bắc Ninh trong tương lai gần.
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn là cứ liệu khoa học để các cấp
quản lý hoạch định chính sách và xây dựng các giải pháp khả thi trong việc
triển khai BHYT hộ gia đình trên địa bàn thành phố nhằm đạt hiệu quả cao
trong tương lai. Các kết quả nghiên cứu này có thể không chỉ áp dụng ở các


4
địa phương có điều kiện tương tự như thành phố Bắc Ninh mà còn có thể sử
dụng làm tài liệu giảng dậy, nghiên cứu trong nhà trường và cho các đối
tượng khác muốn quan tâm.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Lý luận chung về BHYT hộ gia đình.
Chương 2 :Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành
phố Bắc Ninh.
Chương 4: Một số giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện BHYT hộ gia đình
tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh


5
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Bảo hiểm y tế tự nguyện
Việt Nam
BHYT tự nguyện được thực hiện thí điểm từ rất sớm, trước Luật BHYT
được ban hành. Ở Việt Nam, BHYT tự nguyện được áp dụng với mọi đối

tượng có nhu cầu tham gia, được triển khai theo địa giới hành chính và nhóm
đối tượng theo loại hình KCB nội, ngoại trú như đối với đối tượng bắt buộc.
Tùy theo tường giai đoạn, BHYT tự nguyện nhân dân có thể có các đối
tượng như: thành viên hộ gia đình, hội viên hội đoàn thể, thân nhân người lao
động, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân. Quá trình hình thành và phát triển
BHYT tự nguyện nhân dân tại Việt Nam từ khi BHYT tự nguyện được thực
hiện năm 1992 đến nay, BHYT tự nguyện được chia làm bốn giai đoạn:
* Giai đoạn từ năm 1992 đến tháng 8 năm 1998
Giai đoạn chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số
299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ).
Trong giai đoạn này, mặc dù các cơ quan quản lý nhà nước chưa có văn bản
hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho các đối tượng dân cư nông thôn và
lao động tự do, song căn cứ vào nhu cầu, trên cơ sở Điều lệ BHYT và các chủ
trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, hệ thống cơ quan BHYT đã nỗ
lực phối hợp với chính quyền các cấp xây dựng và triển khai thí điểm nhiều
mô hình BHYT tự nguyện cho nhân dân theo các đề án đã được UBND tỉnh,
Thành phố phê duyệt. Điển hình trong giai đoạn này là mô hình thí điểm
BHYT tự nguyện cho nông dân của Hải Phòng. Tháng 4/1990 Quỹ Bảo hiểm
sức khỏe Hải Phòng được thành lập, đây là mô hình BHYT tự nguyện đầu


6
tiên trong cả nước, được thực hiện tại xã Đông Sơn huyện Thuỷ Nguyên, qua
01 tháng vận động có 30% số dân trong xã mua bảo hiểm sức khỏe, với mức
phí 35.000đ/người/năm và được hưởng quyền lợi như người tham gia BHYT
bắt buộc, điều kiện triển khai là có ít nhất 50% dân số của một đơn vị nông
thôn tham gia BHYT.
Quỹ KCB nhân đạo, BHYT ở Vĩnh Phú, bắt đầu triển khai thí điểm từ
tháng 8/1990. Đánh giá về kết quả thí điểm tại Vĩnh Phú, Bộ trưởng Bộ Y tế
thời kỳ đó nhận định: “Việc thí điểm mô hình BHYT ở Vĩnh Phú và các địa

phương khác đã cho kết quả rất tốt, đáng khích lệ, cho phép mở ra một chính
sách mới trong việc KCB của toàn dân”.
BHYT tự nguyện ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, tháng 9/1990. Qua 4
năm thực hiện kết quả tham gia không quá 5% dân số của huyện, tỷ lệ thâm
hụt quỹ hàng năm là 10%.
BHYT tự nguyện ở Quảng Trị, được triển khai thực hiện trên phạm vi
toàn tỉnh từ quý II năm 1991. Trong gần 2 năm thực hiện có 3% dân số toàn
tỉnh tham gia, với số quỹ thu được là 80 triệu đồng.
Quỹ KCB Đường sắt được thành lập tháng 11/1991, kết quả có 40.000
người tham gia, với số thu trên 400 triệu đồng.
Ngày 15/8/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ký Nghị định 299/1992/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT. Theo đó BHYT
tự nguyện được khẳng định là một loại hình BHYT ở nước ta. Tuy nhiên đến
năm 1998 BHYT tự nguyện mới chính thức được triển khai rộng rãi. Một số
mô hình như:
- Năm 1998 huyện Gia Lâm, Hà Nội thực hiện BHYT tự nguyện với
mức đóng là 50.000 đồng/người /năm nhưng chỉ có 4.997 người tham gia
chiếm tỉ lệ 1,5% dân số toàn huyện và sau 1 năm thực hiện, chi phí KCB cho


7
nhóm đối tượng này vượt chi 256 triệu đồng. Để thu đủ bù chi thì tính bình
quân mỗi người phải có mức đóng là 100.000 đồng/người/năm.
* Giai đoạn từ tháng 8/1998 đến 2002
Giai đoạn này chính sách BHYT được thực hiện theo Nghị định số
58/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ, nhưng chưa có Thông tư
hướng dẫn về BHYT tự nguyện nhân dân, do đó việc triển khai BHYT tự
nguyện nhân dân vẫn tiếp tục dưới nhiều hình thức thí điểm mang tính nhỏ lẻ,
thiếu thống nhất, kết quả thu được không đáng kể.
Năm 2001, Hội cựu chiến binh tỉnh Thái Nguyên thực hiện BHYT tự

nguyện cho các hội viên chưa có thẻ BHYT bắt buộc trên toàn tỉnh. Mức
đóng là 60.000 đồng/người/năm và chỉ có 1000 người tham gia bằng khoảng
4,5% trên số người vận động. Sau 1 năm thực hiện chi phí KCB vượt 90 triệu
đồng nghĩa là phải bù mỗi thẻ BHYT tự nguyện nhóm này là 90.000
đồng/người/năm. (Số liệu báo cáo BHXH tỉnh Thái Nguyên, 2002)
Năm 2002, thí điểm BHYT tự nguyện trên phạm vi toàn huyện Sóc Sơn Hà Nội mức đóng là 50.000 đồng/người/năm trong đó ngân sách Nhà nước hỗ
trợ 15.000 đồng. Kết quả là có 25.034 người tham gia, chiếm khoảng 10% dân
số. Có 13.480 hộ/43.562 hộ tham gia, trong đó hộ có 1 người tham gia chiếm
52%, có 2 tham gia người chiếm 27% có 3-4 người tham gia chiếm 21%, có hơn
34% số người từ 45 tuổi trở lên tham gia. Nhiều người tham gia BHYT là đang
có bệnh hoặc thai sản. Sau 9 tháng thực hiện thì có trên 2000 trường hợp phải đi
KCB, 1200 trường hợp đẻ, gần 300 trường hợp tử vong, ước chi cả năm vượt
khoảng 35% số thu (Nguồn số liệu báo cáo BHXH Hà Nội).
* Giai đoạn từ năm 2003 đến tháng 7 năm 2005
Giai đoạn chính sách BHYT tự nguyện thực hiện theo Nghị định số
58/1998/NĐ-CP

ngày

15/8/1998

của

Chính

phủ,

Thông

77/2003/TTLTBYT-BTC ngày 7/8/2003 của liên bộ Y tế - Bộ Tài chính




số


8
Trong giai đoạn này, BHYT tự nguyện được áp dụng cho mọi đối
tượng có nhu cầu tham gia BHYT và được thực hiện theo đúng quy định của
Nghị định số 58, Thông tư số 77, Thông tư đầu tiên hướng dẫn BHYT tự
nguyện, tuy nhiên có điều kiện về tỷ lệ số người tham gia (phải có 100%
thành viên trong gia đình tham gia và 20% số hộ gia đình tại xã, phường tham
gia, nếu theo diện hội đoàn thể thì phải có ít nhất 40% số người trong hội
tham gia) mức đóng có sự thay đổi giữa khu vược nông thôn và thành thị. Sau
hai năm thực hiện (2003,2004) quỹ BHYT tự nguyện tại một số địa phương
không thể cân đối được, nhưng toàn ngành thì vẫn có kết dư (Năm 2003 kết
dư 32 tỷ đồng, năm 2004 kết dư 16 tỷ đồng).
* Giai đoạn từ 10/2005 đến nay
Giai đoạn này được thực hiện theo Nghị định số 63/2005/CP ngày
16/5/2005 của chính phủ, Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC
ngày 24/8/2005 của liên Bộ Y tế - Tài chính; Luật BHYT số:
25/2008/QH12 ngày 14/11/2008; Nghị định 62/2009 NĐ - CP ngày
27/07/2009 của Chính phủ.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm
y tế; Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-TC, ngày 14/8/2009 của Bộ Y
tế và Bộ Tài chính.
BHYT tự nguyện được thực hiện triển khi theo hộ gia đình nhưng
không có sự ràng buộc về điều kiện tham gia như giai đoạn trước, kết quả số
người tham gia BHYT tự nguyện tăng nhưng quỹ BHYT bị thiếu hụt nghiêm
trọng. Năm 2005 là 1.534 nghìn người, năm 2006 là 3.069 nghìn người, gấp

10 lần số người tham gia BHYT tự nguyện năm 2004. Theo số liệu quyết toán
của BHYT Việt Nam thì bắt đầu từ năm 2005 thiếu hụt 246 tỷ đồng, số này
tăng dần theo các năm và tỷ lệ nghịch với số người tham gia.


9
1.1.2. Khái niệm, chức năng của bảo hiểm y tế
1.1.2.1. Khái niệm
Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các
nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình
thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa
bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau.
Theo khoản 1, Điều 2 Luật bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế là hình thức
bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích
lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm
tham gia theo quy định của Luật bảo hiểm y tế.
1.1.2.2. Chức năng của BHYT
BHYT là một hoạt động dịch vụ, cơ quan quản lý BHYT có trách nhiệm tổ
chức, quản lý và cung ứng các quyền lợi đã được cam kết cho những người tham
gia bảo hiểm. Là hoạt động dịch vụ nên hoạt động BHYT cần có sự trao đổi thông
tin, chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu của người tham gia. BHYT là một hoạt
động dịch vụ mà người tham gia ngày càng yêu cầu cao theo trình độ phát triển
của nền kinh tế của xã hội.
BHYT là công cụ an toàn, về phương diện kinh tế, người tham gia BHYT
được chi trả một phần hay toàn bộ chi phí khám chữa bệnh theo loại hình BHYT
mà họ tham gia. Với ý nghĩa đó, BHYT là một công cụ nhằm đảm bảo an toàn
cho người dân góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
BHYT là công cụ tiết kiệm, dưới dạng phí, cơ quan quản lý BHYT tập hợp
các khoản đóng góp của những người tham gia bảo hiểm. Phí bảo hiểm này tạo
nên quỹ chi trả và cơ quan quản lý BHYT đóng vai trò trung gian phân phối lại tài

chính giữa những người đóng góp và người được chi trả thông qua các cơ sở


10
khám chữa bệnh. Số tiền thu được này bắt buộc phải dự trữ một phần để sẵn sàng
chi trả các chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân tham gia BHYT, phần còn lại
và phần quỹ tạm thời nhàn rỗi có thể đem đầu tư như gửi tiết kiệm, mua tín
phiếu… nhằm mục đích tăng trưởng quỹ.
1.1.3. Nội dung công tác đánh giá bảo hiểm y tế hộ gia đình
1.1.3.1. Đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình
Theo qui định tại Điều 51 Luật BHYT và khoản 2 Điều 2 Nghị định số
62/2009/NĐ-CP thì người thuộc hộ gia đình là đối tượng tự nguyện tham gia
BHYT. Hay nói cách khác đây là đối tượng tham gia BHYT tự nguyện.
1.1.3.2. Công tác thực hiện thu BHYT hộ gia đình
BHYT là chính sách lớn của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức thực hiện
và toàn dân tham gia để bảo vệ sức khỏe cho mỗi người khi chẳng may ốm
đau, tai nạn, nhằm đảm bảo an sinh xã hội. BHYT mang lại công bằng về
chăm sóc sức khỏe cho mọi người.
Gia đình là tế bào của xã hội và bản chất của BHYT không phải quỹ
tương trợ, mà đó là cơ chế tài chính để chia sẻ rủi ro giữa cộng đồng những
người tham gia. Vậy thì ngay bản thân trong hộ gia đình các thành viên phải
có trách nhiệm đối với nhau, sau đó có trách nhiệm với cộng đồng, rồi từ đó
cộng đồng mới có trách nhiệm với cá nhân.
Thực hiện tốt công tác thu BHYT là đảm bảo nguồn chi cho quỹ BHYT,
thực hiện thu BHYT hộ gia đình tốt nghĩa là đảm bảo cho việc mở rộng đối
tượng tham gia BHYT ngoài những đối tượng tham gia BHYT bắt buộc.
Công tác thu BHYT hộ gia đình là một công tác quan trọng để tăng sự tự chủ
của quỹ BHYT, giảm sự phụ thuộc vào ngân sách, tránh tình trạng trục lợi.



11
1.1.3.3. Tình hình khám chữa bệnh BHYT
Tình hình khám chữa bệnh BHYT thể hiện sự hài lòng của người tham
gia BHYT khi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bằng BHYT. Thông qua hệ
thống cơ sở KCB ở địa phương có được đầu tư trang thiết bị phù hợp, có thu
hút được người dân đến với các cơ sở KCB tuyến cơ sở không, có để tình
trạng vượt tuyến xảy ra thường xuyên không.
Về hệ thống cơ sở khám bệnh có đáp ứng nhu cầu của người tham gia
không? Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám bệnh, chữa
bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã, tuyến
huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ
Y tế. Trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế phải làm việc lưu động hoặc
đến tạm trú tại địa phương khác thì được khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật và nơi
người đó đang làm việc lưu động, tạm trú theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y
tế. Người tham gia bảo hiểm y tế được thay đổi cơ sở đăng ký khám bệnh,
chữa bệnh ban đầu vào đầu mỗi quý. Tên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo
hiểm y tế ban đầu được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế.
Chất lượng dịch vụ ở các cơ sở KCB đáp ứng nhu cầu của người dân sẽ
tránh được tình trạng vượt tuyến KCB ban đầu, làm tốt công tác y tế cơ sở,
tạo điều kiện cho cơ sở KCB tuyến tỉnh, tuyến trung ương có thời gian chuyên
sâu cho y tế chuyên môn cao.
1.1.3.4. Tình hình phân quỹ khám chữa bệnh
Tình hình phân quỹ khám chữa bệnh BHYT thể hiện việc quỹ BHYT chi
trả, phân bổ chi phí KCB ban đầu cho các cơ sở KCB có đồng đều hay không.
Điều này dựa vào lượt KCB ban đầu tại các cơ sở KCB. Người tham gia


12

BHYT có tìm đến các cơ sở KCB ban đầu không hay vượt tuyến lên thẳng
tuyến trên. Theo nhận định của các chuyên gia y tế, trong hệ thống chăm sóc
sức khỏe công lập, trạm y tế xã là nơi đầu tiên người dân có thể tiếp cận khi
ốm đau. Nhiệm vụ của trạm y tế xã là thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc
sức khỏe ban đầu, phát hiện sớm và phòng, chống dịch bệnh. Nếu việc phân
bổ quỹ khám chữa bệnh được phân bổ đều giữa các trạm y tế xã phương, giữa
tuyến cơ sở và tuyến tỉnh thì hệ thống KCB BHYT đó đã đảm bảo sự phát
triển bền vững, là nền móng quan trọng trong việc thu hút người dân tham gia
BHYT hộ gia đình nói riêng và BHYT nói chung.
1.1.3.5. Tình hình chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT
Tình hình chi trả chi phí khám chữa bệnh là việc cơ quan BHXH thanh
toán chi phí khám chữa bệnh cho các cơ sở KCB BHYT ban đầu khi người
tham gia BHYT đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế.
1.1.4. Quy trình khai thác, phát hành thẻ BHYT hộ gia đình
Quy trình khai thác và phát hành thẻ BHYT là quy trình mà cán bộ làm
đại lý thu BHYT hộ gia đình giới thiệu, vận động và tuyên truyền cho đối
tượng, hiểu và thấy được lợi ích khi tham gia BHYT hộ gia đình, làm nảy
sinh nhu cầu về BHYT của đối tượng và đưa ra quyết định tham gia BHYT hộ
gia đình. Quy trình này kết thúc khi người tham gia BHYT hộ gia đình nhận
được thẻ BHYT. Quy trình được thực hiện qua năm bước:
Bước 1: Xác định đối tượng tiềm năng:
Đây là bước quan trọng trong quy trình khai thác và phát hành thẻ
BHYT. Đại lý thu BHYT hộ gia đình phải xác định được nhóm đối tượng
tiềm năng của mình để giới thiệu, tuyên truyền và phải kích thích được tâm lý
để đối tượng đưa ra quyết định tham gia BHYT hộ gia đình. Đại lý thu BHYT


13
hộ gia đình phải xác định đây là công việc có chủ định, được thực hiện
thường xuyên liên tục, là hoạt động kiên trì và trở thành thói quen.

Tiêu chuẩn để trở thành đối tượng tiềm năng:
Đối tượng tiềm năng là người có nhu cầu hay có ý định tham gia
BHYT hộ gia đình:
- Thuộc đối tượng được BHYT, có đủ điều kiện để được BHYT.
- Có đủ khả năng tài chính.
- Có khả năng tiếp cận được.
- Có nhu cầu về BHYT hộ gia đình (nhu cầu có thể phát sinh trong quá
trình tiếp xúc).
Các nguồn để tìm kiếm đối tượng tiềm năng:
Để có thể dễ dàng cho việc tiếp cận cũng như thuyết phục có thể tìm
kiếm đối tượng tiềm năng dựa vào những nơi mà đại lý có mối quan hệ như:
- Nơi đang sống và hàng xóm
- Nơi đang làm việc, đã từng làm việc
- Nơi hội đoàn thể, cộng đồng, câu lạc bộ hay tham dự, sinh hoạt.
- Bạn bè đã và đang học chung. Phương pháp tìm kiếm đối tượng
tiềm năng:
- Qua các mối quan hệ cá nhân.
- Khai thác từ mối quan hệ để được giới thiệu.
- Mạnh dạn tiếp xúc với người chưa quen biết.
- Thông qua những trung tâm có khả năng gây ảnh hưởng lớn. Đại lý
thu BHYT hộ gia đình phải luôn ghi nhớ:
Nếu không có một đối tượng tiềm năng dồi dào để khai thác thì cũng
có nghĩa là đại lý không có đối tượng để thu phí BHYT. Tuy nhiên không
phải ai cũng là đối tượng tiềm năng, nhưng tất cả mọi người đều có thể là mục
tiêu để tìm kiếm đối tượng tiềm năng. Không nên bỏ qua bất cứ cơ hội nào để


14
tiếp xúc đối tượng, vì nếu không thuyết phục được họ tham gia BHYT thì vẫn
có thể trau dồi kỹ năng của đại lý hoặc có thể thông qua đối tượng để tìm

kiếm thêm đối tượng mới.
Bước 2: Tiếp cận, giới thiệu và tuyên truyền về BHYT hộ gia đình.
Các cách tiếp cận đối tượng:
- Tiếp cận thông qua điện thoại: mục tiêu chủ yếu của tiếp cận qua điện
thoại là đạt được cuộc hẹn để tiếp cận trực tiếp với đối tượng.
- Tiếp cận trực tiếp: giới thiệu chính sách BHYT, kích thích nhu cầu,
khai thác được đối tượng. Các nội dung giới thiệu khi tiếp cận trực tiếp với
đối tượng: cần tập trung vào một số điểm:
- Quyền lợi được hưởng. Cần nhấn mạnh các lợi ích khi tham gia
BHYT hộ gia đình, đưa ra các ví dụ cụ thể sinh động có sức thuyết phục, ví
dụ càng gần đối tượng đã biết càng tốt.
- Mức đóng, phương thức đóng, các quy định hưởng quyền lợi. Các kỹ
năng để có thể tiếp cận thành công: Mục tiêu của tiếp cận là đặt câu hỏi và
lắng nghe để phát hiện ra nhu cầu của đối tượng, giải thích cho đối tượng thấy
được sự cần thiết, khuyến khích, động viên đối tượng tham gia BHYT thông
qua các bước như: tạo thiện cảm cho đối tượng thông qua việc giới thiệu
chung về BHYT, đặt ra những câu hỏi nhằm thu thập thông tin của đối tượng,
phát hiện nhu cầu của khách hàng, đưa ra giải pháp. Các kỹ năng cần có:
- Chuẩn bị chu đáo, dựa vào dàn ý đã chuẩn bị trước có một số câu hỏi
dẫn chuyện.
- Nói chuyện ở nơi yên tĩnh tránh xa nơi ồn ào.
- Không nên cung cấp quá nhiều thông tin, chỉ nên giới thiệu các thông
tin liên quan trực tiếp đến đối tượng.
- Nói năng lưu loát, tránh ậm ừ khi nói.


15
- Lắng nghe đối tượng, thông cảm với đối tượng và trả lời những thắc
mắc của đối tượng.
Bước 3: Kê khai phiếu đăng ký tham gia BHYT theo hộ gia đình.

Đây là bước quan trọng trong quy trình khai thác và phát hành thẻ để
xác định nhu cầu và khả năng tham gia BHYT hộ gia đình của nhân dân theo
hộ gia đình tại một xã, phường, thị trấn. Khi tỷ lệ đăng ký tham gia lớn hơn tỷ
lệ quy định thì đại lý thu BHYT hộ gia đình mới triển khai thu tiền. Đại lý thu
BHYT hộ gia đình có trách nhiệm cùng với chủ hộ lập phiếu này, ghi đầy đủ
các thông tin cần thiết theo quy định.
- Các thông tin ghi trên phiếu phải được phản ánh trung thực, đầy đủ, rõ
ràng theo các nội dung theo yêu cầu.
- Kiểm tra các thông tin đã kê khai như: đối chiếu tên, năm sinh với
giấy chứng minh thư hoặc trên sổ hộ khẩu.
Bước 4: Thu tiền đóng BHYT hộ gia đình và lập danh sách đối tượng
tham gia BHYT.
Sau khi được sự đồng ý của cơ quan BHXH, đại lý thu BHYT hộ gia
đình tiến hành thu tiền đóng BHYT hộ gia đình đồng thời lập danh sách đối
tượng tham gia BHYT. Danh sách đối tượng tham gia BHYT xác định số
người chính thức đóng BHYT, mức đóng BHYT, số tiền phải đóng của từng
thành viên, nơi đăng ký KCB ban đầu, giá trị sử dụng thẻ BHYT để cấp cho
từng đối tượng…
Là căn cứ để thu phí BHYT hộ gia đình, cung cấp thông tin ghi trên
thẻ. Khi thu tiền đóng BHYT hộ gia đình, đại lý thu BHYT hộ gia đình viết
biên lai thu tiền đóng BHYT giao cho đối tượng tham gia BHYT. Đồng thời
sau khi thu tiền, để tổng hợp số tiền nộp vào tài khoản cơ quan BHXH, đại lý
thu BHYT hộ gia đình lập báo cáo Tổng hợp tiền thu BHYT hộ gia đình. Phí


16
đóng góp BHYT hộ gia đình nộp cho cơ quan BHXH không quá 5 ngày 1 lần
cùng với 1 bản danh sách đối tượng tham gia BHYT, 1 bản Tổng hợp tiền thu
BHYT hộ gia đình và Biên lai thu tiền đóng BHYT.
Đại lý thu BHYT tự nguyện nộp tiền vào tài khoản của cơ quan BHXH

hoặc cho kế toán BHXH và nhận phiếu thu từ kế toán BHXH, lưu để làm căn
cứ đối chiếu khi tính hoa hồng.
Bước 5: Phát hành thẻ BHYT.
Sau khi nhận được danh sách và tiền, cơ quan BHXH tiến hành in thẻ
BHYT.Thời gian phát hành chậm nhất là 20 ngày kể từ khi nhận được danh
sách và tiền đóng. Đại ly thu BHYT hộ gia đình nhận thẻ BHYT và danh sách
đối tượng tham gia BHYT mới in từ cơ quan BHXH. Đại lý chuyển thẻ
BHYT cho đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình.Người tham gia BHYT hộ
gia đình ký nhận vào danh sách mới cho đại lý.
Đại lý thu BHYT hộ gia đình trước khi giao thẻ BHYT cho đối
tượng cần kiểm tra, đối chiếu lại các thông tin trên phiếu đăng ký. Trường
hợp sai do bộ phận in ấn, cần gửi ngay về cơ quan BHXH để sửa lại.
Trường hợp sai do đối tượng: đại lý thu BHYT hộ gia đình thu lại thẻ
BHYT đã cấp, hướng dẫn đối tượng làm đơn đề nghị sửa theo mẫu và
photo lại giấy tờ pháp lý liên quan đến để chứng minh tính chính xác của
thông tin. Trường hợp đối tượng làm mất thẻ BHYT, đại lý thu BHYT hộ
gia đình hướng dẫn đối tượng làm đơn có xác nhận của cơ quan quản lý
đối tượng để xin cấp lại. Về lưu trữ hồ sơ:
- Hồ sơ lưu tại cơ quan BHXH: Phiếu đăng ký tham gia BHYT theo hộ
gia đình, 2 bản danh sách tham gia BHYT (1 bản của đại lý lập và 1 bản in),


17
Biên lai thu tiền đóng BHYT, 1 bản Tổng hợp đăng ký tham gia BHYT hộ gia
đình, 1 bản Tổng hợp tiền thu BHYT hộ gia đình.
- Hồ sơ đại lý thu BHYT hộ gia đình quản lý: Danh sách đối tượng
tham gia BHYT (1 bản có chữ ký của đối tượng), Biên lai thu tiền đóng
BHYT, 1 bản Tổng hợp đăng ký tham gia BHYT hộ gia đình, 1 bản Tổng hợp
tiền thu BHYT hộ gia đình, Phiếu thu.
- Hồ sơ giao cho đối tượng: thẻ BHYT, Biên lai thu tiền đóng BHYT.

1.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện bảo hiểm y tế hộ
gia đình
1.1.5.1.Thu nhập của hộ dân
Một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng
tham gia BHYT là thu nhập của người dân, hay nói cách khác để có thể tham
gia được BHYT thì người tham gia phải có tiền để mua thẻ BHYT. Tài chính
có vững mạnh con người mới có nhu cầu bảo vệ mình đó chính là nhu cầu về
bảo hiểm.
Theo Maslow, nhu cầu về an toàn đứng thứ hai sau các nhu cầu thiết
yếu hàng ngày, một khi nhu cầu về ăn, ở được đáp ứng thì người ta mới nghĩ
đến các khoản bảo hiểm.
1.1.5.2. Công tác tuyên truyền
Việc triển khai thực hiện BHYT tự nguyện gặp không ít khó khăn,
vướng mắc do một bộ phận người dân không muốn tham gia BHYT tự
nguyện. Mặc dù đã được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi. Đây cũng là thực
trạng đang diễn ra ở nhiều nơi. Vấn đề đặt ra hiện nay là người dân chưa thấy
hết tầm quan trọng, giá trị của bảo hiểm y tế. Người tham gia bảo hiểm chưa
mang ý thức chia sẻ vì cộng đồng.


18
1.1.5.3.Mức phí tham gia
Hiện nay mức phí tham gia BHYT tự nguyện là: [4,5% x mức lương tối
thiểu (theo quy định của nhà nước) x 12 tháng]/ một năm, mức phí này so với
người dân Việt nam thì đây là mức hợp lý, tuy nhiên so với người dân lao
động tại các địa bàn vùng núi, vùng sâu, đặc biệt là huyện khó khăn và các
vùng có điều kiện tương tự, thì còn quá cao so với không ít bộ phận người lao
động làm việc tự do.
1.1.5.4.Chất lượng khám chữa bệnh
Chất lượng khám, chữa bệnh nhìn chung còn chưa đáp ứng nhu cầu

KCB của nhân dân nhất là ở tuyến y tế cơ sở, điều kiện về cơ sở vật chất,
trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu, năng lực cán bộ còn hạn chế về chuyên môn
trên địa bàn còn 2 trạm y tế chưa có Bác sỹ. Hệ thống y tế cơ sở thực chất mới
đáp ứng được một phần về chăm sóc sức khỏe ban đầu chứ chưa đáp ứng đủ
điều kiện khám chữa bệnh BHYT, nên việc chuyển đổi đăng ký ban đầu về y
tế tuyến cơ sở chậm. Việc phân tuyến kỹ thuật chuyên môn trong khám chữa
bệnh chưa phù hợp với mô hình bệnh tật dẫn đến người bệnh phải chuyển
tuyến hoặc tự vượt tuyến.
Thủ tục khám chữa bệnh BHYT còn phiền hà, chất lượng khám chữa
bệnh còn hạn chế, quyền lợi còn bị giới hạn, quy trình chuyển tuyến còn
phiền hà hoặc thẻ BHYT chỉ có giá trị tại các cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB
BHYT đã làm giảm đi phần nào ý nghĩa và giá trị khi tham gia BHYT. Thêm
vào đó, tình trạng quá tải tại các bệnh viện, nhất là ở các cơ sở tuyến tỉnh,
tuyến trung ương phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ. Đây cũng là
nguyên nhân chính làm cho người dân không muốn tham gia BHYT, với
nhiều người, BHYT chỉ thực sự có giá trị khi bị mắc bệnh nặng hoặc phải vào
điều trị nội trú.


19
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình ở một số nước trên thể giới
BHYT xã hội được coi là một công cụ tài chính hiệu quả nhất, có khả
năng đảm bảo cho số đông người dân được tiếp cận với dịch vụ y tế chuẩn
mực; chống lại sự nghèo hóa do chi phí ốm đau bệnh tật gây ra. BHYT cũng
được coi là một hình thức đầu tư cho sức khỏe, một trong những yếu tố đầu
vào quan trọng của nền sản xuất xã hội - sự khỏe mạnh của người dân là nền
tảng của duy trì và thúc đẩy tăng năng suất lao động xã hội; sự khỏe mạnh của
lực lượng lao động cũng được cho là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện
tiết kiệm và giảm chi phí đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp (người khỏe mạnh

dễ thích ứng với các thay đổi về điều kiện làm việc) trong một thế giới phẳng,
một xã hội đang có nhiều biến động như hiện nay. Việc thực hiện mô hình
BHYT trên thế giới rất khác nhau tùy thuộc vào trình độ phát triển và trình độ
quản lý của mỗi quốc gia.
Trừ một số ít quốc gia như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, thực hiện
BHYT theo cá nhân. Đa phần các quốc gia có trình độ kinh tế phát triển khác
nhau như Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Tiệp Khắc, Đài Loan… đều thực hiện
BHYT theo hộ gia đình. Mô hình BHYT hộ gia đình được coi là mô hình an
toàn hay có tính xã hội cao, có tác động tương tác và sự hợp tác của nhiều bên
trong việc hình thành. Mô hình BHYT theo cá nhân không chỉ hạn chế về mặt
thành viên tham gia mà còn tạo phức tạp về thủ tục hành chính trong việc
quản lý đối tượng (đối tượng quản lý tăng cao, chi phí hành chính phức tạp,
khó theo dõi chi phí đặc biệt với nhóm người ăn theo). BHYT hộ gia đình là
một tất yếu khách quan bởi chủ gia đình sau nhu cầu tồn tại bao giờ cũng tìm
kiếm một sự an toàn về sức khỏe cho các thành viên của gia đình thông qua
cơ chế BHYT, đặc biệt là phụ nữ, người tàn tật và con cái trong gia đình mình


20
(những người không có quan hệ lao động và dễ bị các nhà xây dựng chính
sách bỏ sót), nhằm tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, tránh nguy cơ
nghèo hóa do ốm đau bệnh tật gây ra. Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2006 cho
thấy, trẻ em trong các gia đình tham gia theo hộ gia đình có cơ hội tiếp cận
dịch vụ cao hơn so với trẻ em của những gia đình đóng bảo hiểm theo cá
nhân; trẻ em thuộc các gia đình không tham gia theo hộ gia đình có sự khác
biệt lớn về số lượng và loại dịch vụ sử dụng trong khi trẻ thuộc gia đình có
thẻ BHYT gia đình khá đồng nhất về nội dung này.
Quá trình thực hiện BHYT theo hộ gia đình ở các nước cho thấy có
mấy nội dung sau cần được nghiên cứu thấu đáo để đảm bảo khả năng thực
thi chính sách này tại Việt Nam:

Khái niệm người ăn theo
Do phần lớn các nước thực hiện BHYT theo hộ gia đình đều có sự hỗ
trợ lớn từ Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động cho các thành viên khác của
hộ gia đình (như vợ không đi làm, con cái, bố mẹ, người bảo hộ theo pháp
luật…) nên khái niệm này được quy định chặt chẽ theo điều kiện kinh tế xã
hội ở mỗi nước. Tuy có thể khác biệt về một vài nội dung nhưng khái niệm
này ở các nước đều có một điểm chung, một nội hàm khá thống nhất: người
ăn theo là người có tên trong sổ hộ khẩu và là người thuộc diện được miễn trừ
thuế thu nhập cá nhân của lao động chính trong gia đình. Chương trình
Obama Care của nước Mỹ quy định, người ăn theo là người độc thân có tên
trong hộ khẩu, chưa có quan hệ lao động và dưới 26 tuổi (có thể là tuổi tối đa
của con cái đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng…). Người trên 26
tuổi phải thực hiện trách nhiệm tham gia BHYT như một lao động chính của
một hộ gia đình. Hộ gia đình có thể là nhiều người nhưng có thể chỉ có một
người duy nhất. Hộ gia đình có thể là hộ mà quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình là quan hệ hôn nhân chính thức và các con của họ kể các con


×