Tải bản đầy đủ (.pdf) (75 trang)

Phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự việt nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (640.74 KB, 75 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ HÀ

PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN
TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. ĐINH VĂN THANH

HÀ NỘI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện. Các đoạn
trích dẫn sử dụng trong luận văn này đều được dẫn nguồn và có độ chính xác
cao trong phạm vi hiểu biết của tôi.

Tác giả luận văn

Trần Thị Hà



LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Phương thức bảo vệ quyền nhân
thân trong pháp luật dân sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô
Khoa Luật Dân sự, Ban giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau đại
học. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS Đinh Văn Thanh - Thầy
giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này.

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014

Trần Thị Hà


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ Luật dân sự

BLTTDS

: Bộ Luật tố tụng dân sự

BLHS


: Bộ Luật hình sự

BTTH

: Bồi thường thiệt hại

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU

01

Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức
bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt
Nam

08

1.1. Khái quát chung về quyền nhân thân trong pháp luật

08

dân sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân


08

1.1.1.1. Định nghĩa quyền nhân thân

08

1.1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân

11

1.1.2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của quyền
nhân thân theo pháp luật dân sự Việt Nam

13

1.1.3. Các nhóm quyền nhân thân

16

1.1.3.1. Nhóm các quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa
cá nhân

16

1.1.3.2. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể
cá nhân

17

1.1.3.3. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến giá trị

tinh thần của chủ thể

17

1.1.3.4. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ
hôn nhân và gia đình của cá nhân

18

1.1.3.5. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến các đối
tượng của quyền sở hữu trí tuệ

18

1.2. Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân
thân trong pháp luật dân sự Việt Nam

19

1.2.1. Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân

19

1.2.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật
bảo vệ quyền nhân thân

21

1.2.3. Ý nghĩa của việc bảo vệ quyền nhân thân của các
chủ thể


24


Chương 2: Nội dung các quy định pháp luật về phương thức bảo
vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành

26

2.1. Các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp
luật dân sự Việt Nam hiện hành

26

2.1.1. Tự mình cải chính

26

2.1.2. Yêu cầu người xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức

27

2.1.3. Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu
cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi
phạm bồi thường thiệt hại

32


2.2. Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân

39

2.2.1. Biện pháp tự bảo vệ

39

2.2.2. Biện pháp hành chính

41

2.2.3. Biện pháp hình sự

43

2.2.4. Biện pháp dân sự

44

2.3. Đánh giá việc bảo vệ quyền nhân thân bằng các phương
thức dân sự

45

Chương 3: Thực tiễn và một số kiến nghị về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành

47


3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật dân sự Việt
Nam hiện hành về phương thức bảo vệ quyền nhân
thân

47

3.2. Một số yêu cầu và kiến nghị về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam
hiện hành

55

3.2.1. Một số yêu cầu về phương thức bảo vệ quyền nhân thân

55

3.2.2. Một số kiến nghị về phương thức bảo vệ quyền nhân
thân của các chủ thể

58

KẾT LUẬN

66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

67



1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xã hội hiện nay, nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều thuận lợi
cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng chính nền kinh tế thị trường
đó làm phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, dẫn đến số lượng các vi phạm pháp
luật gia tăng. Đặc biệt, đó là những hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân
của các chủ thể. Thực tiễn cho thấy, những hành vi xâm phạm đến quyền
nhân thân của các chủ thể đã gây ra những hậu quả lớn cho chính đối tượng
mà hành vi đó tác động đến. Hậu quả đó có thể là những thiệt hại đã xảy ra
hoặc đe dọa xảy ra khi hành vi xâm phạm quyền nhân thân được thực hiện.
Những hành vi xâm phạm đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền dân sự nói
chung, quyền nhân thân của các chủ thể nói riêng nên vấn đề đặt ra là cần
phải có phương thức bảo vệ quyền nhân thân cho các chủ thể bị xâm phạm
bởi hành vi không được phép thực hiện.
Đi kèm với vấn đề quyền nhân thân luôn luôn và không thể thiếu được
là vấn đề bảo vệ quyền nhân thân. Bảo vệ quyền nhân thân đòi hỏi không chỉ
ngăn chặn ngay hành vi xâm phạm quyền nhân thân, mà còn cần phải có
những biện pháp chế tài đối với những chủ thể vi phạm và những biện pháp
khôi phục lại những quyền đó. Tuy nhiên, quyền nhân thân sẽ không thể được
bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật. Chỉ khi thông qua
pháp luật, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại
dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc mang tính xử
sự bắt buộc chung cho tất cả mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì thế, pháp luật
là phương tiện hữu hiệu để đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ
thể.
Quyền nhân thân đã được pháp luật quốc tế ghi nhận và bảo vệ trong
nhiều văn bản pháp luật. Theo Điều 12 Tuyên ngôn thế giới về quyền con



2
người năm 1948 khẳng định: “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc
đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay
thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm
phạm ấy”. Quy định này được tái khẳng định trong Công ước quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị năm 1966 tại Điều 17, cụ thể: “Không ai bị can thiệp
một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở,
thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Mọi người
đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm
phạm như vậy”.
Ngày 24/9/1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền
kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tề về các quyền dân sự chính.
Khi trở thành thành viên của Công ước, trách nhiệm thực hiện Công ước
chính thức có hiệu lực đối với thành viên. Để giải thích cho Điều 17 Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Ủy ban nhân quyền đã
giải thích: “Điều 17 cũng đặt ra trách nhiệm với các quốc gia thành viên
trong việc ban hành các quy định pháp luật cần thiết để bảo vệ danh dự và uy
tín của cá nhân. Các quy định này cho phép mọi người có khả năng tự bảo vệ
trước những sự xâm phạm bất hợp pháp xảy ra và có cơ chế hiệu quả chống
lại những người phải chịu trách nhiệm. Các quốc gia cũng cần chỉ ra trong
báo cáo của mình về mức độ danh dự và uy tín của các cá nhân được bảo vệ
bởi pháp luật và sự bảo vệ này có thể đạt được bằng cách nào trong hệ thống
pháp luật” (Bình luận chung số 16). Việt Nam là một trong những thành viên
của Công ước nên Việt Nam cần phải ban hành các quy định pháp luật cần
thiết để bảo vệ danh dự và uy tín của cá nhân và pháp nhân.
Mặc dù, phương thức bảo vệ quyền nhân thân đã được quy định trong
Hiến pháp và các quy định của pháp luật chuyên ngành. Nhưng số lượng các
quy định về phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật Việt Nam

hiện nay còn khiêm tốn chưa tương xứng với thực tế và nhu cầu xã hội. Hiến


3
pháp năm 2013 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật” (Điều 14). “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư,
bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật
bảo đảm an toàn” (Điều 21). Tiếp đó, BLDS 2005 cũng quy định về phương
thức bảo vệ quyền nhân thân tại Điều 25. Tuy nhiên, những quy định trên còn
quá chung chung, chưa thực sự phát huy được khả năng điều chỉnh các quan
hệ xã hội liên quan đến quyền nhân thân của các chủ thể, chưa bảo đảm được
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bởi hành vi xâm phạm quyền nhân
thân.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta rất quan tâm đến công tác cải cách tư pháp. Ngày 02/01/2002, Bộ
Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; và ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị
tiếp tục ban hành Nghị qu yết số 49-NQ/TW “về Chiến lược Cải cách tư pháp
đến năm 2020”. Qua đó, Đảng và Nhà nước nhấn mạnh việc hoàn thiện các
quy định của pháp luật nói chung và quy định của pháp luật nói riêng để bảo
đảm quyền dân sự, trong đó có quyền nhân thân của các chủ thể. Có thể thấy,
khi nền kinh tế phát triển người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề có cơm ăn,
áo mặc mà còn quan tâm đến giá trị tinh thần, đó là giá trị nhân thân. Việc tôn
trọng và bảo vệ quyền nhân thân đang là sự quan tâm của xã hội, cùng với
phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay.
Vì vậy, đây là vấn đề thời sự, được nhiều người quan tâm và là các vấn đề cấp
thiết.



4
Với những luận điểm trên, em lựa chọn đề tài: “Phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” là đề tài cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong các công trình khoa học pháp lý ở Việt Nam từ trước đến nay,
quyền nhân thân đã được đề cập đến nhiều, như một số đề tài nghiên cứu điển
hình sau: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do TS. Lê Đình Nghị và
đ.t.g (2008): “Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân trong
pháp luật dân sự”, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong đề tài này, các tác giả
đã đưa ra một số khía cạnh có liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân và
các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân; Luận án của Tiến sỹ Lê Đình Nghị
(2008): “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”,
Trường Đại học Luật Hà Nội. Một số bài viết trên các tạp chí: TS. Bùi Đăng
Hiếu (số 7/2009), “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân”, tạp chí luật
học; PGS.TS Phùng Trung Tập (2013): “Bàn thêm về các quyền nhân thân
của cá nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005”, tạp chí nghiên cứu lập
pháp…Ngoài ra, cũng nhiều công trình khoa học đề cập tới quyền nhân thân
của các chủ thể nhưng hầu như chưa có một công trình khoa học lớn nào đi
sâu nghiên cứu về vấn đề phương thức bảo vệ quyền nhân thân.
Vì vậy, tác giả hy vọng luận văn của mình sẽ là một trong những công
trình đầu tiên nghiên cứu tổng quát và chuyên sâu một lĩnh vực quan trọng
của quyền nhân thân – phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật
dân sự Việt Nam hiện hành.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận chung về
phương thức bảo vệ quyền nhân thân; nội dung các quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam về phương thức bảo vệ quyền nhân thân; thực tiễn thực hiện



5
các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân và kiến nghị cần hoàn thiện pháp luật.
Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu có giới hạn nên phạm vi của luận
văn là chỉ tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của phương thức
bảo vệ quyền nhân thân; nội dung các quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam về phương thức bảo vệ quyền nhân thân và thực tiễn thực hiện các quy
định đó.
4. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài là
phương pháp luận triết học Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và pháp luật; đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải
cách tư pháp.
Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học như: phương pháp lịch sử để nắm bắt được sự hình thành và phát
triển các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay về các
phương thức bảo vệ quyền nhân thân. Trong đó, chú trọng sử dụng các
phương pháp logic pháp lý, phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các
vấn đề liên quan đến các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật
dân sự Việt Nam. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng phương
pháp tình huống trong từng vấn đề cụ thể.
5. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
a.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, nội dung
các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện vấn đề phương

thức bảo vệ quyền nhân thân. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm
hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự về phương thức bảo vệ quyền
nhân thân và nâng cao hiệu quả thực hiện vấn đề này trên thực tế.


6
b.

Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về phương thức bảo vệ quyền nhân
thân trong pháp luật dân sự Việt Nam;
- Phân tích làm rõ các nội dung cơ bản của vấn đề phương thức , biện
pháp bảo vệ quyền nhân trong pháp luật dân sự Việt Nam;
- Tìm hiểu thực tiễn thực hiện vấn đề phương thức bảo vệ quyền nhân
thân, tìm ra những điểm bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó;
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả thực hiện phương thức bảo vệ quyền nhân.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Kết quả của việc nghiên cứu đề tài: “Phương thức bảo vệ quyền nhân
thân trong pháp luật dân sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
đem lại những điểm mới sau đây:
Thứ nhất: Kết quả của đề tài đưa ra một cách nhìn toàn diện về phương
thức bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam;
Thứ hai: Phân tích thực trạng của các quy định pháp luật và thực tiễn
áp dụng các quy định pháp luật về phương thức bảo vệ quyền nhân thân;
Thứ ba: Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như một số
giải pháp khác liên quan đến phương thức bảo vệ quyền nhân thân của các
chủ thể khi bị xâm phạm.
7. Kết cấu của luận văn

Luận văn “Phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân
sự Việt Nam” được kết cấu gồm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận. Phần
nội dung gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền nhân thân và phương thức bảo
vệ quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam.


7
Chương 2: Nội dung các phương thức bảo vệ quyền nhân thân trong
pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Thực tiễn và nội dung kiến nghị về phương thức bảo vệ
quyền nhân thân trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành.


8
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ
PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN TRONG
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Xã hội văn minh ngày càng đề cao con người và những quyền về con
người, bao gồm cả quyền chính trị, quyền dân sự và quyền xã hội. Quyền về
con người như là trung tâm, động lực và mục tiêu của phát triển. Trải qua quá
trình đấu tranh phát triển của xã hội, các quyền của cá nhân ngày càng được
phát triển, mở rộng và trở thành một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô
cùng quan trọng được pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và
bảo vệ. Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản pháp lý có giá trị cao
cũng đã đề cập tới vấn đề quyền nhân thân của con người như: Tuyên ngôn
thế giới về quyền con người năm 1948; công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Trên cơ sở quy
định của Hiến pháp 1992 và hiện nay là Hiến pháp 2013; Bộ luật dân sự 1995

và Bộ luật dân sự 2005 của nước ta đã ghi nhận và có những quy định cụ thể
để bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể. Luật dân sự điều chỉnh các quan
hệ nhân thân bằng cách quy dịnh những giá trị nhân thân nào được coi là
quyền nhân thân, trình tự thực hiện, giới hạn của quyền nhân thân đó, đồng
thời quy định các biện pháp thực hiện, bảo vệ quyền nhân thân. Đây là cơ sở
pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo vệ quyền nhân
thân.
1.1. Khái quát chung về quyền nhân thân trong pháp luật dân sự
Việt Nam
1.1.1. Khái niệm quyền nhân thân
1.1.1. 1. Định nghĩa quyền nhân thân


9
Thuật ngữ “quyền nhân thân” được ra đời khá muộn so với lịch sử lập
pháp nước ta. Lần đầu tiên quyền nhân thân được đề cập dưới góc độ pháp lý
là trong BLDS năm 1995. BLDS 1995 đã thể chế hóa những quy định của
Hiến pháp về quyền dân sự của công dân, trong đó có quy định cụ thể về
quyền nhân thân của cá nhân.
Thế nào là “Quyền nhân thân”? theo từ điển Tiếng Việt “Quyền” là
điều mà Nhà nước và pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được
làm, được đòi hỏi [23, tr.815]. Quyền là một phạm trù mang tính xã hội và
cũng mang tính pháp lý. Nó quyết định hành vi của các chủ thể và do sự tác
động của quyền đối với hành vi của các chủ thể và sự phát triển của xã hội
cho nên ở những mức độ khác nhau, dù muốn hay không tất cả các Nhà nước
đều phải thừa nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
bằng ghi nhận trong hệ thống pháp luật.
“Nhân thân” là gì? Theo từ điển Tiếng việt thì “Nhân thân được hiểu là
tổng hợp các đặc điểm về thân thể, tính cách và cuộc sống cá nhân của một
con người” [23, tr.560]. Như vậy, theo nghĩa thông thường, nhân thân của

một người bao gồm các đặc điểm về giới tính, độ tuổi, dân tộc, thành phần xã
hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, hoàn cảnh gia đình,
quá trình hoạt động chính trị…Tuy nhiên, không phải mọi yếu tố liên quan
đến con người đều là đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự. Luật dân sự
chỉ quy định các quyền nhân thân mang bản chất dân sự.
Khái niệm “Quyền nhân thân” hiện nay, được đề cập trong một số công
trình khoa học. Ví dụ như: Trong cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học”
của trường Đại học Luật Hà Nội có ghi: “Quyền nhân thân là giá trị nhân
thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Chỉ những giá
trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân.
Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người
khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [28, tr.105]. Hay trong cuốn


10
Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật
dân sự Việt Nam” của Tiến sĩ Lê Đình Nghị có định nghĩa về quyền nhân
thân là:
Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù
pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành,
trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn
liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình.
Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn
liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể
chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp luật có quy định khác.
[15, tr18].
Còn theo pháp luật dân sự, khái niệm quyền nhân thân được quy định
tại Điều 24 BLDS năm 2005: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật
này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Theo định nghĩa này

thì có thể thấy quyền nhân thân mang hai dấu hiệu cơ bản là: gắn liền với mỗi
cá nhân cụ thể, liên quan trực tiếp đến cá nhân đó và không thể chuyển giao
cho chủ thể khác. Tuy nhiên, bên cạnh quyền nhân thân của cá nhân, Điều
604, Điều 611 BLDS 2005 còn quy định về “danh dự, uy tín của pháp nhân,
chủ thể khác”. Như vậy, bên cạnh việc công nhận và bảo vệ các quyền nhân
thân của cá nhân, pháp luật dân sự còn bảo vệ các quyền nhân thân của pháp
nhân và các chủ thể khác. Vì vậy, quyền nhân thân có thể định nghĩa khái
quát như sau:
Quyền nhân thân là quyền dân sự do pháp luật quy định gắn liền với
mỗi chủ thể và các chủ thể không thể chuyển giao quyền này cho chủ thể khác
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.


11
1.1.1.2. Đặc điểm quyền nhân thân
Quyền nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh mang các đặc điểm như sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân là quyền dân sự do pháp luật quy định
Không phải bất kỳ một quyền nào của công dân được quy định trong
Hiến pháp thì cũng lại được quy định trong BLDS. Tuy rằng, BLDS là đạo
luật cụ thể hoá những tư tưởng chỉ đạo của Hiến pháp, nhưng chỉ cụ thể hoá
những quan hệ nhân thân thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật dân sự. Do đó,
các quyền nhân thân được ghi nhận trong pháp luật dân sự là sự chính thức
thừa nhận việc bảo vệ các quyền nhân thân của cá nhân và các chủ thể khác.
Ở mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, quyền nhân thân được
quy định khác nhau phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội. Đây có thể
xem là tính khách quan của quyền nhân thân.
Thứ hai, quyền nhân thân gắn liền với giá trị tinh thần của chủ thể
Quyền nhân thân thường gắn với đời sống tình cảm hoặc giá trị tinh
thần của cá nhân hay tổ chức. Lợi ích tinh thần có thể hiểu là những giá trị
tinh thần được pháp luật ghi nhận và mọi người tôn trọng như danh dự, nhân

phẩm, uy tín..Những lợi ích tinh thần đó cũng có thể là kết quả của hoạt động
sáng tạo của con người (các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học…). Đặc
điểm này cho thấy quyền nhân thân rất khác biệt đối với quyền tài sản. Trong
quan hệ đối với tài sản thì lợi ích vật chất hay tài sản luôn là yếu tố chi phối
trong quan hệ tài sản.
Thứ ba, quyền nhân thân gắn liền với chủ thể, không thể chuyển giao
cho người khác, trừ những trường hợp pháp luật quy định khác.
Phần lớn các quyền nhân thân mang tính chất cá biệt hóa chủ thể hoặc
gắn liền với thân thể của cá nhân nên luôn gắn liền với chủ thể, không thể
chuyển giao cho người khác, không thể là đối tượng của các giao dịch giữa
các chủ thể. Ví dụ: quyền đối với hình ảnh, họ tên không thể đổi từ người này


12
sang người khác được… Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt theo
quy định của pháp luật, cụ thể là theo quy định của pháp luật dân sự về sở hữu
trí tuệ thì quyền nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Ví dụ, theo
quy định tai điểm c, khoản 2 Điều 738 BLDS 2005 “Quyền công bố hoặc cho
phép người khác công bố tác phẩm” của tác giả. Nhưng như đã khẳng định ở
trên quyền nhân thân là một số đối tượng nhất định và chỉ có một số quyền
nhân thân mới có thể trở thành đối tượng của hợp đồng này.
Đặc điểm này của quyền nhân thân cũng cho thấy nó có sự khác biệt rõ
rệt đối với quyền tài sản. Quyền tài sản trong quan hệ tài sản (các tài sản được
phép tham gia giao dịch dân sự) thì các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân
sự được tự do trao đổi, chuyển giao tài sản thông qua các giao dịch dân sự:
mua bán, tặng cho, vay… mà không bị hạn chế như đối với quyền nhân thân.
Nói cách khác, do có những đặc trưng nên việc chuyển giao về phương thức
bảo vệ quyền nhân thân khác với quyền tài sản nên pháp luật có những quy
định riêng.
Thứ tư, quyền nhân thân có tính chất phi tài sản

Quyền nhân thân luôn gắn với giá trị tinh thần, do đó không thể đong,
đo, đếm trị giá được bằng tiền. Như vậy, có thể hiểu giá trị nhân thân và tiền
tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang
giá. Mặc dù, quyền nhân thân có gắn với tài sản, là những giá trị nhân thân
khi được xác lập sẽ làm phát sinh các quyền tài sản. Quyền nhân thân là tiền
đề làm phát sinh các quyền tài sản: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,
quyền đối với giống cây trồng, vật nuôi…Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhìn
nhận rõ bản thân của quyền nhân thân không phải là tài sản, không mang lại
giá trị về kinh tế nhưng do một sự kiện pháp lý xảy ra chủ thể không chỉ được
hưởng lợi ích tinh thần mà còn được hưởng lợi ích vật chất. Ví dụ: Điều 51
BLDS 2005 quy định về “Quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo” thì bản thân


13
quyền này không phải là tài sản nhưng những phát minh đó hay nghiên cứu
đó mang lại giá trị kinh tế…
1.1.2. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của quyền nhân thân
theo pháp luật dân sự Việt Nam
Thời kỳ cổ luật
Hệ thống văn bản pháp luật của nước ta thời kỳ này khá rời rạc. Những
điều luật được soạn thảo ra trong “Quốc triều hình luật” hay “Luật Hồng
Đức” và trong “Hoàng Triều Luật Lệ” hay “Luật Gia Long” thực chất là xuất
phát từ ý nguyện của các vị vua và cho dù nó gắn bó với thực tiễn cuộc sống
nhưng về cơ bản nó mang những tư tưởng, tình cảm và quan niệm của các
vua. Hơn nữa, pháp luật thời kỳ này “là công cụ trong tay giai cấp phong kiến
thống trị, pháp luật là ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến được nâng lên
thành luật pháp mà nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh
hoạt vật chất của giai cấp phong kiến. Pháp luật phong kiến là phương tiện để
bảo vệ trật tự xã hội phong kiến mà trước hết là quan hệ sản xuất phong kiến”
[13, tr. 242]. Do đó, các quy định về quyền nhân thân thời kỳ này được đề cập

đến chủ yếu là bảo vệ cho vua chúa, cụ thể: Điều 22 – chương vi chế quy
định: “Người nào vẽ và cất giấu những chân dung các vua và hoàng hậu bản
triều thì bị xử phạt 50 roi biếm một tư” [29, tr.84]. Hay trong Điều 31 –
chương vi chế: “Dâng thư nói đến triều vua trước, lại có ý chê bai thì phải tội
đồ làm chủng điền binh, nếu nói miệng thì xử phạt 60 trượng, biếm hai tư”
[29, tr.86]…
Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu
1883; Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931; Bộ Dân luật Trung kỳ 1936. Tất cả các bộ
luật này đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật
Pháp 1804 nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt
người Việt.


14
Tuy nhiên, các quy định dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng
được thực dân Pháp quy định chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi cho giai cấp
thống trị trong xã hội. Các vấn đề về quyền nhân thân thời kỳ này chưa được
quy định và bảo đảm cho người dân thực hiện các quyền của mình.
Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của
Hiến pháp 1946, địa vị pháp lý của người dân nước ta đã có sự thay đổi căn
bản. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Hiến pháp đã trang trọng ghi nhận
quyền con người, quyền công dân – một trong những nội dung cơ bản nhất
của Hiến pháp. Đến nay, quyền nhân thân của cá nhân luôn được pháp luật
bảo vệ và ngày càng được coi trọng. Các quyền nhân thân của cá nhân được
quy định trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và được cụ
thể hoá trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005. Hiện nay, bản Hiến pháp
2013 trong chương về “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân" cũng có nhiều điểm mới về nhận thức và cách thức thể hiện. Qua mỗi
giai đoạn khác nhau của lịch sử, các quy định pháp luật về nhân thân có

những bước phát triển nhất định:
Thời kỳ từ 1946 đến 1992
Thấm nhuần tư tưởng nhân quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ
Hiến pháp đầu tiên 1946 cho đến Hiến pháp 1992 đều thể hiện xuyên suốt
việc đề cao các quyền công dân, trong đó có các quy định về quyền dân sự nói
chung, quyền nhân thân nói riêng. Bốn bản Hiến pháp là bốn nấc thang về
việc ghi nhận và phát triển các quyền cũng như cơ chế bảo vệ các quyền công
dân, các quyền nhân thân ở Việt Nam. Các quyền và nghĩa vụ ghi nhận trong
chương về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng có bước phát triển
theo từng thời kỳ. Nếu Hiến pháp 1946 có 28 điều về quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân, Hiến pháp 1959 có 21 điều; Hiến pháp 1980 có 28 điều;
Hiến pháp 1992 có 34 điều trên tổng 147 điều của toàn bộ Hiến pháp thì đến
Hiến pháp 2013 có 36 điều trên tổng 120 điều của toàn bộ Hiến pháp.


15
Thời kỳ từ 1992 đến nay
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992, BLDS 1995 đã quy định về
các quyền nhân thân của cá nhân, bao gồm các quy định từ Điều 26 đến Điều
47. Ngoài các quy định chung về quyền nhân thân (Điều 26) và bảo vệ quyền
nhân thân (Điều 27), BLDS 1995 đã quy định quyền nhân thân cụ thể, bao
gồm 19 điều: quyên về họ tên, quyền về hình ảnh, quyền về cư trú…Sau một
thời gian áp dụng vào thực tiễn, BLDS 1995 đã bộc lộ một số bất cập cần phải
sửa đổi, bổ sung. BLDS 2005 ra đời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của
BLDS 1995, trong đó có các quy định về quyền nhân thân. Trong BLDS
2005, các quyền nhân thân của cá nhân có bổ sung một số quyền rất quan
trọng: quyền được hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác, quyền được xác định
lại giới tính…Ngoài việc thêm mới một số quyền nhân thân, hầu hết các
quyền nhân thân được quy định trong BLDS 1995 được kế thừa có chọn và
sửa đổi bổ sung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27 BLDS

2005), quyền xác định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005), Điều 31, 32, 37, 38
BLDS 2005…
Và hiện nay, theo bản Hiến pháp 2013 có thể thấy quyền con người,
quyền công dân nói chung và quyền nhân thân nói riêng là điểm nhấn xuyên
suốt toàn bộ Hiến pháp sửa đổi. Theo đó, mọi người có quyền sống, quyền có
nơi ở hợp pháp, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nhà ở, về đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; pháp luật bảo hộ quyền tự do đi
lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước;
mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người, hiến xác theo quy định
của luật. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn
trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm quyền và cơ hội
bình đẳng giới; công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, có quyền kết hôn, ly
hôn và thực hiện hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, một vợ một chồng, vợ


16
chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình,
bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em…
1.1.3. Các nhóm quyền nhân thân
Trong khoa học pháp lý có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại quyền
nhân thân.
Nếu dựa vào chủ thể mang quyền nhân thân thì có thể chia thành hai
nhóm là: các quyền nhân thân của cá nhân và các quyền nhân thân của các
chủ thể khác. Các quyền của cá nhân được quy định từ Điều 26 đến Điều 51
BLDS 2005 chiếm số lượng chủ yếu. Quyền nhân thân của các chủ thể khác
chỉ được quy định ở Điều 604 và Điều 611 BLDS năm 2005, bao gồm hai
quyền nhân thân là quyền đối với danh dự và uy tín.
Nếu dựa vào căn cứ phát sinh thì các quyền nhân thân được chia thành
các quyền nhân thân gắn với tài sản và các quyền nhân thân không gắn với tài

sản. Quyền nhân thân không gắn với tài sản là quyền nhân thân tồn tại một
cách độc lập không liên quan đến tài sản. Ví dụ: Quyền đối với tính mạng,
sức khỏe, danh dự của cá nhân… Quyền nhân thân gắn với tài sản là quyền
nhân thân khi được xác lập sẽ là tiền đề phát sinh quyền tài sản. Ví dụ: quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài
sản của tác giả mà các quyền nhân thân này chỉ được xác lập cùng với sự hình
thành tài sản trí tuệ ( tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học…).
Trong phần này, các quyền nhân thân được phân chia thành năm nhóm
căn cứ vào đối tượng của quyền:
1.1.3.1. Nhóm các quyền nhân thân mang tính cá biệt hóa cá nhân
Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền đối với họ, tên (Điều
26 BLDS 2005); Quyền thay đổi họ, tên (Điều 27 BLDS 2005); Quyền xác
định dân tộc (Điều 28 BLDS 2005); Quyền được khai sinh, khai tử ( Điều 29,
Điều 30 BLDS 2005); Quyền đối với hình ảnh (Điều 31 BLDS 2005); Quyền


17
xác định lại giới tính (Điều 36 BLDS 2005); Quyền đối với quốc tịch (Điều
45 BLDS 2005). Đây là những quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, là
quy định cá biệt hóa cá nhân, để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và
phân biệt cá nhân với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự. Trong
cuộc sống hằng ngày cũng như trong quan hệ pháp lý, việc phân biệt cá nhân
này với cá nhân khác là vô cùng quan trọng và cần thiết. Mỗi cá nhân có tên
gọi, hình ảnh và các yếu tố lý lịch khác nhau mà tổng hợp các yếu tố đó giúp
chúng ta có thể nhận biết cá nhân, từ đó xác định rõ những quyền và nghĩa vụ
dân sự của cá nhân đó.
1.1.3.2. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến thân thể cá nhân
Nhóm quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân bao gồm các
quyền: Quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều
32 BLDS 2005); Quyền hiến bộ phận cơ thể; Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể

sau khi chết; Quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 33, 34, 35 BLDS 2005).
BLDS 2005 đã bổ sung cho sự hạn chế và thiếu sót của BLDS 1995 khi đã
quy định quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với
các bộ phận cơ thể, xác của mình sau khi chết. Những quyền này ghi nhận
một loại giá trị nhân thân rất đặc biệt đó là tính mạng, sức khỏe, thân thể nên
loại quyền nhân thân này chỉ có thể là quyền của cá nhân và không thể
chuyển giao cho người khác. Hơn nữa, nhóm quyền này bị vi phạm thì việc
khôi phục là hầu như không thể thực hiện được. Ví dụ: nếu như một người bị
xâm phạm về tính mạng thì việc khôi phục là không thể thực hiện được…
1.1.3.3. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến giá trị tinh thần
của chủ thể
Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín (Điều 37 BLDS 2005); Quyền đối với bí mật đời tư (Điều
38 BLDS 2005); Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 46 BLDS 2005);


18
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 47 BLDS 2005); quyền tự do đi lại,
tự do cư trú (Điều 48 BLDS 2005); Quyền lao động (Điều 49 BLDS 2005);
Quyền tự do kinh doanh (Điều 50 BLDS 2005); Quyền tự do nghiên cứu,
sáng tạo (Điều 51 BLDS 2005). Việc thực hiện những quyền này luôn mang
lại những lợi ích tinh thần cho chính các chủ thể.
1.1.3.4. Nhóm các quyền nhân thân liên quan đến quan hệ hôn nhân
và gia đình của cá nhân
Nhóm này bao gồm các quyền nhân thân: Quyền kết hôn (Điều 39
BLDS 2005); Quyền bình đẳng vợ chồng (Điều 40 BLDS 2005); Quyền được
hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình (Điều 41 BLDS 2005);
Quyền ly hôn (Điều 42 BLDS 2005); Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con
(Điều 43 BLDS 2005); Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm

con nuôi (Điều 44 BLDS 2005). Đây là nhóm quyền có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, thể hiện quyền được hỗ trợ để bảo vệ gia đình…Theo các quyền
này thì nam, nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà
không có bất cứ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam và
nữ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi
ly hôn…Điều này khẳng định, gia đình là tế bào tự nhiên và cơ bản của xã
hội, được Nhà nước và xã hội bảo vệ. BLDS 2005 đã có nhiều quy định cụ
thể về quyền nhân thân trong nhóm quan hệ này. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân
và gia đình 2000, cũng đã quy định chi tiết các quyền nhân thân thuộc nhóm
này. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các cá nhân trong mối quan hệ
hôn nhân, gia đình được bảo vệ.
1.1.3.5. Nhóm quyền nhân thân liên quan đến các đối tượng của
quyền sở hữu trí tuệ
Theo quy định tại phần thứ sáu BLDS 2005 về Quyền sở hữu trí tuệ và
chuyển giao công nghệ và Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân thuộc
quyền tác giả bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; Quyền đứng tên thật


19
hoặc bút danh trên tác phẩm hay trên văn bằng bảo hộ (đối với sáng chế, kiểu
dáng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng), quyền được nêu
tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Quyền công bố
hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của
tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc tác phẩm (Điều
738 BLDS 2005). Quyền nhân thân của người biểu diễn bao gồm các quyền
được nêu tên khi biểu diễn hoặc khi phát hành bản ghi âm, ghi hình cuộc biểu
diễn; Quyền bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng khi biểu diễn (Điều 745 BLDS
2005). Quyền nhân thân của tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế
bố trí mạch tích hợp bán dẫn, giống cây trồng bao gồm: Quyền được đứng tên
tác giả trong văn bằng bảo hộ, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về đối

tượng đó (Điều 751 BLDS 2005). Trước đây các quy định này được quy định
chi tiết trong BLDS 1995 nay được quy định trong Luật sở hữu trí tuệ 2006,
sửa đổi, bổ sung 2009.
1.2. Khái quát chung về phương thức bảo vệ quyền nhân thân
trong pháp luật dân sự Việt Nam
1.2.1. Khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân
Cho tới nay, khái niệm bảo vệ quyền nhân thân, chủ thể của quyền
nhân thân, nội dung của bảo vệ quyền nhân thân vẫn là những vấn đề còn
tranh luận giữa các nhà khoa học pháp lý cũng như các cán bộ làm công tác
thực tiễn pháp luật. Để làm rõ khái niệm phương thức bảo vệ quyền nhân thân
trước hết cần phải làm rõ bảo vệ quyền nhân thân là gì? Theo Từ điển tiếng
Việt “Bảo vệ” là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được
nguyên vẹn” [23, tr.40]. Trong BLDS 2005, “Bảo vệ quyền nhân thân” được
quy định tại Điều 25: “Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì
người đó có quyền:
1. Tự mình cải chính;


×