Tải bản đầy đủ (.doc) (33 trang)

Phân tích nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và vận dụng quy luật đó vào trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (243.31 KB, 33 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay gọi là quy luật
mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và
biện chứng duy vật lịch sử khẳng định rằng: mọi sự vật và hiện tượng trong tự
nhiên đều tồn tại và mâu thuẫn bên trong. Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong
mọi sự vật của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy con người. Mâu thuẫn
tồn tại từ khi sự vật xuất hiện đến khi sự vật kết thúc.Trong mỗi một sự vật có
rất nhiều mâu thuẫn và sự vật trong cùng một lúc có rất nhiều mặt đối lập.Mâu
thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành…
Trong sự nghiệp đổi mới của nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã
đạt được những thành tưụ bước đầu mang tính quyết định, quan trọng trong
việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đó là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, nền kinh tế đã bộc lộ nhiều mâu
thuẫn, bởi bên cạnh những ưu điểm, kinh tế thị trường luôn chứa đựng những
mặt tiêu cực mang tính nội tại kìm hãm sự phát triển của công cuộc đổi mới.
Giải quyết được những mâu thuẫn ấy chính là tạo động lực cho sự phát triển
kinh tế một cách vững chắc và ổn định theo đúng những định hướng đã đặt
ra.Vì vậy, trong phạm vi của một bài tiểu luận, em chọn đề tài: ”Phân tích nội
dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập và vận dụng
quy luật đó vào trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam”.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài : Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn quá
độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường (KTTT). Một trong những luận điểm rất quan trọng phản ánh tư duy
mới của đảng ta thể hiện trong văn kiện Đại hội Đảng lần VI là: Chính sách cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần. Đảng ta từng bước khẳng định chủ trương xây
dựng ở nước ta một nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN).Trãi


qua thực tiễn đổi mới, chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo theo cơ chế thị trưòng có sự quản lí của nhà nước theo định hướng XHCN
đã đưa lại hiệu quả to lớn vaò thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.Tuy nhiên, nền KTTT định hướng XHCN là một nền kinh tế quá độ với
điểm xuất phát và bản chất của chế độ cũ nên nó không tránh khỏi những mâu
thuẫn quá độ của nó. Khi đó tình hình nghiên cứu đề tài giải quyết những mâu
thuẫn chứa đựng những mặt tiêu cực mang tính nội tại và kìm hãm, gây trở
ngại cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế, và đòi hỏi phải giải quyết vấn
đề ấy.
3.Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài:
Mục đích của đề tài: Nắm vững quy luật này là cơ sở để hiểu biết tất cả
các phạm trù và quy luật khác của phép biện chứng duy vật. Nghiên cứu quy
luật này giúp mọi người hình thành phương pháp, hình thành tư duy khoa học,
biết khám phá bản chất của các sự vật và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh
thúc đẩy sự vật phát triển.
Nhiệm vụ của đề tài: Làm rõ được nội dung quy luật mâu thuẫn, thông
qua đó làm rõ hơn một số mâu thuẫn trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và một số giải pháp của nền KTTT.
Giới hạn của đề tài: Phạm vi của đề tài là rất rộng, do thời gian có hạn
nên trong tiểu luận này chỉ xem xét đánh giá một vài mâu thuẫn tiêu biểu:
-Mâu thuẫn giữa đổi mới nền kinh tế và ổn định chính trị.
-Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
-Mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu trong thời kì quá độ sang
kinh tế thị trường ở Việt Nam.
-Mâu thuẫn giữa kinh tế thị trường với xây dựng con người mới
xã hội chủ nghĩa.
4.Cái mới của đề tài: Từ đề tài, có được cái nhìn đúng đắn hơn về nền kinh tế
Việt Nam trong thời kì đổi mới và hoàn thiện vốn kiến thức của mình.
5.Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu: Lí luận dựa trên nghiên cứu của
Chủ nghĩa C.Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

6.Ý nghĩa của đề tài: Nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập cho biết nguyên nhân hay nguồn gốc và động lực của sự vận động và
phát triển, nó có tác dụng nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương
hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát
hiện ra mâu thuẫn của sự vật.
7.Kết cấu của tiểu luận:
Phần mở đầu
Phần nội dung: 2 chương, 5tiết
Phần kết luận
Hà Nội, tháng3/2004
2

NỘI DUNG
Chương I: Lý luận chung về mâu thuẫn

Ngay từ thời cổ đại đã có những phỏng đoán thiên tài về sự tác động qua
lại của các mặt đối lập và xem xét sự tác động đó là cơ sở vận động của thế
giới. Nhiều đại biểu triết học cổ đại Phương Đông đã xem vận động do sự
hình thành những đối lập và các đối lập ấy luôn luôn vận động. Nhà triết học
Hy Lạp cổ đại Hêracơlit-người được Lênin coi là ông tổ của phép biện chứng
cho rằng trong sự vận động biện chứng vĩnh viễn của mình, các sự vật đều có
xu hướng chuyển sang các mặt đối lập… Tư tưởng biện chứng về những đối
lập đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển của phép biện chứng của các nhà
triết học cổ điển Đức,tiêu biểu là I.Cantơ và G.V.Hêghen.
Các antinômi của Cantơ xuất hiện trên cơ sở vượt quá trình độ nhận thức
có tính chất kinh nghiệm khi Cantơ xem các mặt đối lập la những đối lập về
chất.Song không giải quyết được vấn đề Các antinômi,Cantơ đã đi tới từ bỏ
việc thừa nhận các mâu thuẫn khách quan.Ông xem sự tồn tại của mâu thuẫn là
bằng chứng nói lên tính bất lực của con người trong việc nhận thức thế giới.
Khi nghiên cứu phép biện chứng trong sự vận động và phát triển của “ý

niệm tuyệt đối “, Hêghen đã kịch liệt phê phán quan điểm siêu hình về sự đồng
nhất (quan điểm này cho rằng đã đồng nhất thì loại trừ mọi sự khác biệt về
mâu thuẫn).Theo ông, đó là sự đồng nhất trừu tượng trống rỗng, không bao
hàm một nhân tố chân lí nào.Ông quan niệm bất kì sự đồng nhất nào cũng bao
hàm sự khác biệt và mâu thuẫn.Ông là người sớm nhận ra vai trò của mâu
thuẫn trong quá trình vận động và phát triển:”Mâu thuẫn là nguồn gốc
của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sự sống, chỉ trong chừng mực một
vật chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn thì nó mới vận động, mới có
xung lực và hoạt động.Tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản
thân nó.Song do bị chi phối bởi quan niệm duy tâm và lợi ích giai cấp Hêghen
đã đẩy việc giải quyết mâu thuẫn không thể điều hoà được trong “xã hội công
dân” vào lĩnh vực tư tưởng thuần tuý.
Kế thừa một cách có phê phán tất cả những thành tựu tư tưởng về mâu
thuẫn, bằng việc tổng kết từ thực tế lịch sử loài người, các nhà kinh điển của
chủ nghĩa Mác đã cho rằng chúng ta phải tìm xung lực vận động và sự phát
triển của sự vật trong chính sự vật đó, trong những mâu thuẫn của bản thân sự
vật.Quan điểm lý luận đó được thể hiện trong quy luật thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập-Quy luật mâu thuẫn-đây là hạt nhân của phép biện chứng.

1.1-Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến:
Mỗi một sự vật, hiện tượng đang tồn tại đêu là một thể thống nhất được cấu
thành bởi các mặt, các khuynh hướng, các thuộc tính phát triển ngược chiều
nhau, đối nhau…
3
Trong phép biện chứng duy vật,khái niệm “mặt đối lập” là phạm trù dùng để
chỉ những mặt có những đặc điểm, những khuynh hướng phát triển ngược
chiều nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội, tư duy. Chính
những mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành
mâu thuẫn biện chứng.Do đó cần phải phân biệt rằng không phải bất kì hai mặt
đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn. Bởi vì trong các sự vật hiện tượng của

thế giới khách quan, không phải chỉ tồn tại trong đó hai mặt đối lập mà trong
cùng một thời điểm ở mỗi sự vật có thể cùng tồn tại nhiều mặt đối lập, có
những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong cùng một sự vật nhưng có
khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, bài trừ phủ định và chuyển hoá lẫn
nhau.Sự chuyển hóa này tạo thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định các
bản chất, khuynh hướng phát triển của sự vật thì hai mặt đối lập như vậy mới
gọi là hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến. Mâu thuẫn mang tính
khách quan vì là cái vốn có trong các sự vật, hiện tượng và tồn tại trong tất cả
các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy nên có tính phổ biến.Chính vì vậy mâu
thuẫn rất đa dạng và phức tạp.Mâu thuẫn trong mỗi sự vật hiện tương và trong
các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau và trong bản thân mỗi sự vật hiện
tượng lại bao hàm nhiều mâu thuẫn. Mỗi mâu thuẫn và mỗi mặt của mâu thuẫn
lại có đặc điểm ,vai trò tác động lẫn nhau đối với sự vận động và phát triển của
sự vật .Vì vậy cần phải có phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn một
cách cụ thể.

1.2-Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó hai mặt đối lập vừa thống nhất vừa
đấu tranh với nhau:
1.2.1-Sự thống nhất của các mặt đối lập :
Hai mặt đối lập trong sự vật tồn tại trong sư thống nhất của chúng.”Sự thống
nhất” của các mặt đối lập được hiểu với ý nghĩa không phải chúng đứng bên
cạnh nhau mà là “nương tựa” vào nhau,tạo ra sự phù hợp,cân bằng như liên hệ
phụ thuộc, qui định và ràng buộc lẫn nhau.Mặt đối lập này lấy mặt đối lập làm
tiền đề cho sự tồn tại của chính mình và ngược lại.Nếu thiếu một trong hai mặt
đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sự vật.Bởi
vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiêú được cho sư
tồn tại của bất kì sự vật hiện tượng nào.Sự thống nhất này do những đặc điểm
riêng có của bản thấn sự vật tạo nên.
*Ví dụ: Quan hệ lực lưọng sản xuất-quan hệ sản xuất trong phương thức

sản xuất:khi lự lượng sản xuất phát triển thì cùng với nó quan hệ sản xuất cũng
phát triển, hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phất triển của
phương thức sản xuất.Nhưng quan hệ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
-Thứ nhất:Đó phải là một khái niệm chung nhất được khái quát từ các
mặt phù hợp khác nhau phản ánh được bản chất của sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với lượng sản xuất.
4
-Thứ hai:Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng thái biến
đổi thường xuyên của sự vận động,phát triển trong quan hệ của quan hệ sản
xuất với lực lượng sản xuất.
-Thứ ba:Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn.Ngoài ý nghĩa
nhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất được coi là thoã
đáng phải có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây dựng quan hệ sản
xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp cao nhất với lực
lượng sản xuất.
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau,”đồng
nhất” với nhau.Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm
cả sự “đồng nhất” của các mặt đó.Do đó sự ”đồng nhất” của các mặt đối lập
mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó, mặt đối lập này có
thể chuyển hoá sang mặt đối lập kia-khi xét về một vài đặc trưng nào đó.
Ví dụ:Sự phát triển kinh tế trong chủ nghĩa tư bản phục vụ lợi ích giai
cấp tư sản nhưng lại tạo tiền đề cho sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ
nghĩa xã hội.
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang
nhau của chúng.Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai
đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập.
Tuy nhiên khái niệm thống nhất này cũng chỉ là tương đối. Bản thân nội
dung khái niệm cũng đã nói lên tính chất tương đối của nó: thống nhất của cái
đối lập ,trong thống nhất đã bao hàm và chứa đựng trong nó sự đối lập.

1.2.2-Sự đấu tranh của các mặt đôí lập:
Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn luôn tác động qua lại
với nhau, ”đấu tranh” với nhau. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động
qua laị theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Bởi vì các
mặt đối lập cùng tồn tại trong một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn
vẹn nhưng không nằm yên bên nhau điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành
động lực phát triển của bản thân sự vật.Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ và phủ
định lẫn nhau giữa các mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều dạng
khác nhau.
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội có giai cấp đối
kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuất lạc
hậu, kìm hãm nó diễn ra gay gắt và quyết liệt. Chỉ có thông qua các cuộc cách
mạng xã hội bằng nhiều hình thức kể cả bạo lực mới có thể giải quyết được
mâu thuẫn một cách căn bản.
Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau
giữa các mặt đó. Sự thủ tiêu chỉ là một trong những hình thức đấu tranh cảu
các mặt đối lập.Tính đa dạng của hình thức đấu tranh giữa các mặt đối lập tuỳ
thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa
chúng, phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, phụ thuộc vào điều
kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập .
Với tư cách là hai trạng thái đối lập trong mối quan hệ qua lại giữa hai
mặt đối lập, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quan hệ chặt chẽ
với nhau.Sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với sự đứng im, sự ổn định tạm thời
5
của vật.Sự đấu tranh của mối quan hệ gắn bó với tính tuỵêt đối của sự vận
động và phát triển.Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là
tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. Lênin viết:”Mặc dù
thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý nghĩa nó chính là nó nhờ có
sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận biết được sự vật, hiện
tượng tồn tại trong thế giới khách quan.Song bản thân của sự thống nhất chỉ là

tính tương đối tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó
diễn ra thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình tồn tại của sự vật. Kể cả
trong trạng thái sự vật ổn định cũng như khi chuyển hoá nhảy vọt về chất của
các mặt đối lập là có điều kiện thoáng qua, tạm thời tương đối.Sự đấu tranh
của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận
động là tuyệt đối”.
Mâu thuẫn biện chứng có quan hệ như thế nào với nguồn gốc của sự vận
động và sự phát triển?
Sự đấu tranh của các mặt đối lập được chia ra làm nhiều giai đoạn.Thông
thường, khi mới xuất hiện, hai mặt đối lập chưa thể hiện rõ sự xung khắc gay
gắt.Tất nhiên không phải xung khắc bất kì sự khác nhau nào cũng được gọi là
mâu thuẫn. Chỉ có những mặt khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ
hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong
của sự phát triển, thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành bước đầu của mâu
thuẫn.Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn xung đột gay
gắt, nó biến thành đối lập. Nếu hội đủ các mặt cần thiết hai mặt đối lập sẽ
chuyển hoá lẫn nhau. Mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới hơn xuất hiện với
trình độ cao hơn… Cứ như thế, đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật
biến đổi không ngừng từ thấp lên cao, chính vì vậy Mác viết: “Cái cấu thành
bản chất của sự vận động biện chứng chính là sự cùng nhau tồn tại của hai mặt
đối lập, sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy
thành một phạm trù mới”. Nhấn mạnh hơn nữa tư tưởng ấy Lênin khẳng định”
Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”.
1.2.3-Sự chuyển hoá của các mặt đối lập:
Không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự chuyển hoá
giữ chúng.Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một trình độ
nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển hoá, bài trừ và
phủ định lẫn nhau. Chuyển hoá của các mặt đối lập chính là lúc mâu thuẫn
được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, đó chính là quá trình diễn
biến rất phức tạp với nhiều hình thức phong phú khác nhau.

Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là
sự hoán vị đổi chỗ một cách giản đơn máy móc.Thông thường mâu thuẫn
chuyển hoá theo hai phương thức:
+Phương thức thứ 1: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kia
nhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật .
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu
tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới cao hơn về trình độ.
6
+Phương thức thứ 2: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để hình thành
hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kế hoạch tập trung, quan liêu bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Tóm lại: Từ lý luận về mâu thuẫn cho ta thấy trong thế giới hiện thực bất kì
sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những
thuộc tính có khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau. Sự đâú tranh và
chuyển hoá của các mặt đối lập trong những điều kiện cụ thể tạo thành mâu
thuẫn.Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn
được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới hình thành, sự vật mới lại nảy
sinh các mặt đối lập và mâu thuẫn mới .Các mặt đối lập này lại đấu tranh
chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để tạo thành sự vật mới hơn.Cứ như vậy mà
các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan thường xuyên phát triển và
biến đổi
không ngừng. Vì vậy, mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi sự phát
triển.

******************************

Chương II: Kinh tế thị trường và mâu thuẫn

biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

2.1-Khái quát chung về kinh tế thị trường (KTTT):
Trong mô hình cũ của CNXH, sự vận hành của nền kinh tế chủ yếu dựa trên
mệnh lệnh, kế hoạch của Nhà nước và một hệ thống bao cấp từ sản xuất đến
tiêu dùng. Cơ chế kinh tế này, tuy có ưu điểm là tránh được phân cực xã hội,
nhưng lại bộc lộ nhiều nhược diểm cơ bản.Chẳng những quy luật kinh tế khách
quan được coi thường, mà tính tự chủ, năng động, sáng tạo của người lao động
cũng không được phát huy một cách đầy đủ.Sự nghiệp đổi mới được tiến hành
hơn 10 năm qua ở nước ta gắn liền với việc phát triển kinh tế nhiều thành phần
vận hành theo cơ chế thị trương, nền kinh tế mà chúng ta đang xây dựng là nền
KTTT định hướng XHCN.
Trứơc hết ta tìm hiểu một số khái niệm: Khái niệm kinh tế hàng hoá, thị
trường, cơ chế thị trường.
*Kinh tế hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tễ mà trong đó hình thái phổ biến
của sản xuất là sản xuất ra để bán, để trao đổi trên thị trường.
*Thị trường: trong nền sản xuất, mọi sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều
được mua bán trên thị trường. Thị trường là một tập hợp tất yếu và hữu cơ của
toàn bộ quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nó ra đời và phát triển cùng
với sự ra đời và triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá.
-Thị trường gắn liền với địa điểm nhất định, trong đó diễn ra những quá
trình trao đổi, mua bán hàng hoá.
-Sản xuất hàng hoá phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu thông trên thị
trường ngày càng dồi dào, phong phú, thị trường được mở rộng, khái niệm thị
7
trường được hiểu đầy đủ hơn. Đó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua tiền
tệ làm vật môi giới.
-Ngày nay các nhà kinh tế học thống nhất với nhau khái niệm về thị trường
như sau: Thị trường là một quá trình mà trong đó người bán và người mua tác
động qua lại với nhau để xác định giá cả và sản lượng.

*Cơ chế thị trường: là cơ chế tự chỉnh nền kinh tế hàng hoá dưới sự tác động
khách quan của các quy luật kinh tế vốn có của nó,cơ chế đó được giải quyết
những vấn đề cơ bản của nền kinh tế .
Từ đó ta có khái niệm: “Nền kinh tế mà trong đó những vấn đề cơ bản của
nó do thị trường quyết định, vận động theo cơ chế thị trường gọi là “nền kinh
tế thị trường””.
Trong hội thảo “Phấn đấu đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống ” có hai ý
kiến khác nhau:
Một là, xem kinh tế thị trường là phương thức vận hành kinh tế lấy thị
trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hoá làm người phân phối các
nguồn lực chủ yếu, lấy lợi ích vật chất , cung cầu, thị trường mua bán giữa hai
bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế. Nó là một phương tổ chức vận
hành kinh tế-xã hội. Tự nó không mang tính kinh tế-xã hội, không tốt mà cũng
không xấu.Tốt hay xấu là do người sử dụng nó. Theo quan điểm này, kinh tế
thị trường là vật “trung tính”, là “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cũng được.
Hai là, xem kinh tế thị trường là một loại quan hệ kinh tế-xã hội, nó in đậm
dấu của lực lượng xã hội làm chủ thị trường. Kinh tế thị trường là một phạm
trù kinh tế hoạt động, có chủ thể của quá trình hoạt động đó, có sự tác động lẫn
nhau của các chủ thể hoạt động. Trong xã hội có giai cấp, chủ thể hoạt động
trong KTTT không phải chỉ là cái riêng lẻ đó còn là những tập đoàn xã hội,
những giai cấp. Sự hoạt động qua lại của các chủ thể hành động đó có thể có
lợi cho người này tầng lớp hay giai cấp này, có hại cho tầng lớp hay giai cấp
khác cho nên KTTT có mặt tích cực, có mặt tiêu cực nhất định không thể nhấn
mạnh chỉ một mặt trong hai mặt đó.
Hiện nay không có một nước nào trên thế giới có nền KTTT vận động theo
cơ chế thị trường “hoàn hảo”, hoàn toàn do sự chi phối của “bàn tay vô hình”
theo cách nói của Adam Smith, nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh ở
thế kỷ XIII mà trái lại chúng đều vận động theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nứơc ở những mức độ phạm vi khác nhau. Và ở nước ta KTTT mà
Đảng và nhà nước ta chủ trương xây dựng và phát triển trong thời kì quá độ

lên CNXH, là “nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước”.
*Đặc điểm của nền kinh tế thị trường:
Có thể nói, kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển đến giai đoạn
cao.Kinh tế thị trường là một loại hình mà trong đó, các mối quan hệ kinh tế
giữa con người với con ngươì đuợc biểu hiện thông qua thị trường, tức là
thông qua việc mua-bán, trao đổi hàng hoá tiền tệ.Trong kinh tế thị trường,
các qua hệ hàng hoá -tiền tệ phát triển, mở rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, có ý
nghĩa phổ biến đối với người sản xuất và người tiêu dùng.Do nảy sinh và hoạt
động một cách khách quan trong những diều kiện lịch sử nhất định, KTTT
8
phản ánh trình độ văn minh và sự phát triển của xã hội, là nhân tố phát triển
sức sản xuất, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến lên. Tuy nhiên, kinh tế
thị trường cũng có những khuyết tật tự thân, đặc biệt là tính tự phát mù quáng,
sự cạnh tranh lạnh lùng, dẫn đến sự phá sản, thất nghiệp, khủng hoảng chu
kỳ…
KTTT trước hết là kinh tế hàng hoá, với đặc trưng phổ biến của nó là người
sản xuất làm ra sản phẩm với mục đích để bán, để trao đổi chứ không phải để
tự tiêu dùng, hay sản phẩm dư thừa ngẫu nhiên như trước.
KTTT là nền kinh tế có sự đa dạng về hình thức sở hữu, về thành phần
kinh tế, về hình thức phân phối.
KTTT được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để phát triển lực
lượng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động
nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
KTTT là nguồn lực tổng hợp to lớn về nhiều mặt có khả năng đưa nền kinh
tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển trong cả
những điều kiện vốn, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp.
KTTT luôn vận động, phát triển tái sinh, do đó để nâng cao hiệu lực quản
lý của nhà nước, các chính sách kinh tế vĩ mô phải thường xuyên được bổ
xung hoàn thiện.

KTTT gắn liền với nhà nước pháp quyền và nhà nước sẽ quản lý bằng pháp
luật.

2.2-Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
2.2.1-Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền KTTT định hướng
XHCN ở nước ta.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau. Mỗi một
mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều
kiện lịch sử cụ thể. Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất và đời
sống của nhân loại đã và đang trãi qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứng với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung-
tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá mà giai đoạn cao của nó được gọi là
KTTT.
Kinh tế tự nhiên là kiểu kinh tế–xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là phương
thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng những tặng vật của tự
nhiên và sau đó đựơc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự
nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sự sinh tồn của con
người. Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuàn hoàn khép kín giữa con ngươì
và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làm nền tảng. Hoạt động
kinh tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nông nghiệp tự cung-tự cấp. Nó
đã tồn tại và thống trị trong các xã hội Công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến và tuy không còn giữ địa vị thống trị nhưng vẫn còn tồn tại trong
XHTB cho đến ngày nay. Kinh tế tự nhiên, hiện vật, sinh tồn, tự cung-tự cấp
gắn liền với quan niệm truyền thống về kinh tế XHCN tuy đã có tác dụng trong
điều kiện chiến tranh, góp phần mang lại chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta,
9
song khi chuyển sang xây dựng và phát triển kinh tế, chính mô hình đó đã tạo
ra nhiều khuyết tật, nền kinh tế không có động lực, không có sức đua tranh,
không phát huy được tính chủ động sáng tạo của người lao động, của các chủ

thể sản xuất-kinh doanh, sản xuất không gắn liền với nhu cầu, ý chí chủ quan
đã lấn át khách quan và triệt tiêu mọi động lực-sức mạnh nội sinhcủa bản thân
nền kinh tế, đã làm cho nền kinh tế suy thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều
mục tiêu của CNXH không thực hiện được.
Kinh tế hàng hoá, bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ chế độ
Cộng sản nguyên thuỷ tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sự phân công
lao động xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về tư
liệu sản xuất. Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung-tự cấp sang kinh tế hàng hoá
là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế của sự phát triển, thời đại văn
minh của nhân loại. Trong lịch sử của mình, vì thế của kinh tế hàng hoá cũng
dần được đổi thay từ chỗ như là kiểu tổ chức kinh tế- xã hội không phổ biến,
không hợp thời trong xã hội Chiếm hữu nô lệ của những người thợ thủ công và
nhân dân tự do, đến chỗ được thừa nhận trong xã hội Phong kiến, và đến
CNTB thì kinh tế hàng hoá giản đơn không những được thừa nhận mà còn
được phát triển đến giai đoạn cao hơn đó là KTTT.
KTTT là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá, cũng đã trãi qua ba
giai đoạn phát triển. Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tế hàng
hoá giản đơn sang KTTT. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triển KTTT tự
do. Đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tế diễn ra theo
tinh thần tự do, Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh tế. Giai đoạn
thứ ba là giai đoạn KTTT hiện đại. Đặc trưng của giai đoạn này là Nhà nước
can thiệp vào KTTT và mở rộng giao lưu kinh tế với nước ngoài. KTTT có
những đặc trưng cơ bản như :phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường,
tự do kinh doanh tự do thương mại , tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân
phối do quan hệ cung cầu… đó là cơ chế hỗn hợp “có sự điều tiết vĩ mô” của
nhà nước để khắc phục những khuyết tật của nó.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá tự phát sẽ “hàng
ngày hàng giờ đẻ ra CNTB” và sự phát triển của KTTT trong lịch sử diễn ra
đồng thời với sự hình thành và phát triển của CNTB, nhưng tuyệt nhiên KTTT
không phải là chế độ kinh tế- xã hội. KTTT là hình thức và phương pháp vận

hành kinh tế. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do
những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương
thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển. Quá trình hình thành và phát triển
KTTT là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học-
công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh. Sự phát
triển của KTTT gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại,
của khoa học-kỹ thuật, của lực lượng sản xuất.
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản trong nền kinh tế nước ta sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-tự cấp
đang còn chiếm ưu thế. Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn dựa trên nền tảng của
văn minh nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là
một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển. Phát triển trở thành nhiệm vụ,
10
mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường đi tới. Muốn
vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng thái của sự phát triển
là phát triển nền KTTT cùng với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội, nhân
văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng
(tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm cả sự thay đổi về chất (những biến đổi về
mặt xã hội). Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một thành tựu
khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của nhân
loại, và sự phát triển của xã hội loài ngừơi sẽ tiến tới Chủ nghĩa Cộng sản mà
giai đoạn thấp của nó là CNXH. CNXH không đối lập với phát triển, với
KTTT , mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến
bộ xã hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết của các quan hệ xã hội ,
là một sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết
liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu
là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động đem lại cuộc

sống hạnh phúc và giàu sang cho nhân dân lao động. Vì vậy, sự phát triển của
Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn
vinh, hạnh phú của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của toàn xã
hội-toàn dân tộc, là sự phát triển mang tính XHCN, là sự phát triển hiện đại .
Nghĩa là, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN.
2.2.2-Một số đặc điểm chung của nền KTTT ở Việt Nam.
Chuyển nền kinh tế từ hoạt động theo cơ chế kế hoạch tập trung-hành
chính, quan liêu-bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
XHCN là nội dung, bản chất và đặc điểm khái quát nhất đối với nền kinh tế
nước ta trong hiện nay và tương lai. Đặc biệt, cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH, được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng
cộng sản Việt Nam lần thứ VII thông qua vào năm 1991 đã nêu lên những đặc
trưng bản chất của nền KTTT và phát triển nền KTTT theo định hướng
XHCN.
Thứ nhất, nền KTTT định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nền
KTTT hiện đại với tính chất xã hội hiện đại. Mặc dù nền kinh tế nước ta đang
nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước ta chuyển sang
phát triển kinh tế hàng hoá, KTTT, thì thế giới đã chuyển sang giai đoạn KTTT
hiện đại. Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất thiết phải trãi qua giai
đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và giai đoạn KTTT tự do mà đi thẳng vào phát
triển KTTT hiện đại. Mặt khác, thế giới vẫn nằm trong thời quá độ từ CNTB
lên CNXH, cho nên sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta phải theo định hướng
XHCN là cần thiết khách quan và cũng là nội dung yêu cầu của sự phát triển
rút ngắn. Sự nghiệp “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” vừa
là mục tiêu vừa là nội dung, nhiệm vụ của việc phát triển KTTT định hướng
XHCN ở nước ta.
11
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần
với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong một số lĩnh vực, một số khâu

quan trọng có ý nghĩa quyết định đế sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Nền kinh tế hàng hoá, nền KTTT phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa
hình thức sở hữu. Thế nhưng, nền KTTT mà chúng ta sẽ xây dựng là nền
KTTT hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi “Bàn tay hữu hình” của nhà
nước trong việc điều tiết, quản lí nền kinh tế đó. Đồng thời, chính nó sẽ bảo
đảm sự định hướng phát triển của nền KTTT. Việc xây dựng kinh tế Nhà nước
giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa KTTT định
hướng XHCN với KTTT TBCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế ở
nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi lẽ mỗi một chế
độ xã hội đều có một cơ sở cho chế độ xã hội mới-chế độ XHCN.
Thứ ba, nhà nước quản lý nền định hướng XHCN ở nước ta là nhà
nước pháp quyền XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vỡ dõn. Thành
tố quan trọng mang tớnh quyết định trong nền KTTT hiện đại là nhà
nước tham gia vào các quá trỡnh kinh tế. Nhà nước ta là nhà nước
"của dân, do dõn và vỡ dõn", nhà nước công nông, nhà nước của đại đa số
nhân dân lao động, đặt dưới sự lónh đạo của ĐCS Việt Nam. Nó có đủ bản
lĩnh, khả năng và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN
trong việc phát triển nền KTTT hiện đại ở nước ta .
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua
cơ chế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước.
Mọi hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện
thụng qua thị trường. Điều đó có nghĩa là nền KTTT định hướng XHCN
ở nước ta vận động theo những quy luật nội tại của nền KTTT nói
chung, thị trường có vai trũ quyết định đối với việc phân phối các nguồn
lực kinh tế. Việc quản lý Nhà nước nhằm hạn chế, khắc phục những "thất
bại của thị trường", thực hiện các mục tiêu xó hội, nhõn đạo mà bản
thân thị trường không thể làm được.
Vai trũ quản lý của Nhà nước trong nền KTTT hết sức quan trọng . Sự
quản lý của Nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu
quả, đặc biệt là bảo đảm sự công bằng và tiến bộ xó hội. Khụng cú ai ngoài

nhà nước lại có thể giảm bớt sự chênh lệch giữa giàu- nghèo, giữa thành thị và
nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nước. Tuy
vậy, cần phải nhấn mạnh rằng sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế sao cho
tương hợp với thị trường.
Thứ năm, mở cửa, hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế
giới, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lónh thổ quốc gia là nội
dung quan trọng của nền KTTT ở nước ta. Quá trỡnh phỏt triển của KTTT đi
liền với xó hội húa nền sản xuất xó hội. Tiến trỡnh xó hội húa trờn cơ sở phát
triển của KTTT là không có biên giới quốc gia về phương diện kinh tế. Một
trong những đặc trưng quan trọng của KTTT hiện đại là việc mở rộng giao lưu
kinh tế với nước ngoài. Xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế với những khu
vực hóa và toàn cầu hóa đang ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu
trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện nay. Tranh thủ
12
thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vượt qua thách thức là yêu
cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển trong điều kiện của KTTT hiện đại,
Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế trong trạng thái tự cung-
tự cấp mà phải mở của, hội nhập với nền kinh tế thế giới trên cơ sở phát huy
lợi thế so sánh và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ
vững độc lập, tự chủ và toàn vẹn lónh thổ quốc gia.
Thứ sỏu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đồng thời với việc bảo đảm công
bằng xó hội cũng là một nội dung rất quan trọng trong nền KTTT ở nước ta.
Phát triển trong công bằng được hiểu là những chính sách phát triển phải bảo
đảm sự công bằng xó hội, là tạo cho mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia
vào quá trỡnh phỏt triển va được hưởng những thành quả tương xứng với sức
lực, khả năng và trí tuệ họ bỏ ra, là giảm bớt chênh lệch giàu - nghèo giữa các
tầng lớp dân cư giữa các vùng. Khác với nhiều nước, chúng ta phát triển KTTT
nhưng chủ trương bảo đảm công bằng xó hội, thực hiện sự thống nhất giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xó hội, trong tất cả cỏc giai đoạn của sự phát
triển kinh tế ở nước ta. Mức độ bảo đảm công bằng xó hội phụ thuộc rất lớn

vào sự phát triển, khả năng và sức mạnh kinh tế của quốc gia.
Túm lại, quỏ trỡnh phỏt triển nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta phải
là "Quá trỡnh thực hiện dõn giàu nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xó
hội nhõn dõn làm chủ, nhõn ỏi, cú văn hóa, có kỉ cương, xóa bỏ áp bức bất
công tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc".
Từ những đặc trưng và sự phát triển đúng hướng của nền KTTT ở nước ta
chúng ta đó đạt được nhiều thành tựu to lớn:
* Nền kinh tế Việt Nam chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóa toàn diện,
khép kín sang một nền KTTT mới, theo định hướng XHCN. Công cuộc đổi
mới kinh tế- xó hội được mở đầu từ Đại hội VI của ĐCS Việt Nam ( 1986)
- Năm 1991 Đại hội VII của Đảng nhận định "Công cuộc đổi mới đó đạt được
những thành tựu bước đầu quan trọng nhưng nước ta vẫn chưa thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế xó hội".
- Năm 1996 Đại hội đảng VIII nhận định "Nước ta đó ra khỏi cuộc khủng
hoảng kinh tế- xó hội, nhưng một số mặt cũn chưa được củng cố vững chắc".
Nền kinh tế Việt Nam đó ra khỏi khủng hoảng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế
ngày càng cao: tốc độ tăng GDP bỡnh quõn thời kỳ 1986- 1990 là 3,6%; 1991-
1995 là 8,2%; 1996-2000 là 7%.
* Lạm phát được đẩy lùi từ 67,4% năm 1990 xuống 12,7% năm 1995, 0,1%
năm 1999 và 0% năm 2000. Phá được thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài cùng nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiờn tiến.
* Điều kiện vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rừ rệt, văn hóa
không ngừng tiến bộ. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực đó trở thành một
nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
* Quốc phũng và an ninh được đảm bảo, ổn định chính trị được giữ vững, các
mối quan hệ kinh tế được mở rộng với nhiều nước trên thế giới, bộ mặt đất
nước đó cú những biến đổi to lớn trên mọi lĩnh vực.
13

×