Tải bản đầy đủ (.pdf) (88 trang)

Đăng ký Doanh nghiệp theo Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (902.24 KB, 88 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ KIỀU OANH

ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ KIỀU OANH

ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên nghành : Luật kinh tế
Mã số

: 838.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT

HÀ NỘI – năm 2018


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Luật, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt
Nam, Học viện khoa học xã hội,và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Phó Giáo sư
– Tiến sĩ Nguyễn Như Phát, tôi đã thực hiện đề tài: “Đăng ký Doanh nghiệp theo
pháp luật doanh nghiệp Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”.
Thực tế luôn cho thấy, sự thành công nào cũng đều gắn liền với những sự hỗ
trợ, giúp đỡ của những người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó là ít hay nhiều, trực
tiếp hay gián tiếp.
Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành Đến
Thầy cô đã giảng dạy, truyền thụ nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn giúp tôi
nâng cao sự hiểu biết, thêm nhiều kiến thức hữu ích trong cuộc sống.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn Phó Giáo sư- Tiến sĩ Nguyễn Như Phát
đã tận tâm chỉ bảo hướng dẫn tôi qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo
luận về đề tài nghiên cứu. Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo đó, bài luận văn
này của tôi đã hoàn thành một cách suất sắc nhất. Một lần nữa, tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến thầy.
Gia đình, bạn bè, các anh chị em trong trong lớp cao học Luật kinh tế khóa 7
đợt 1 năm 2016 đã luôn khích lệ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập .
Bài luận văn được thực hiện trong 3 tháng. Do vậy, không tránh khỏi những
thiếu sót, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các anh chị
em trong lớp để bài luận văn được hoàn thiện hơn.


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
mọi lý luận, thực tiễn dẫn chứng trong luận văn là trung thực và được tìm
hiểu trong tài liệu tham khảo.
Tác giả luận văn

Đinh Thị Kiều Oanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH
NGHIỆP .................................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp ..................................... 7
1.2. Khái niệm, bản chất của đăng ký doanh nghiệp ................................................. 8
1.3. Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp .............................................. 14
1.4. Pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và hoạt động đăng ký nghiệp ở một số
nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam............................................................ 25
CHƯƠNG 2. THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ........... 30
2.1. Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh .................................................... 30
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố
Đà Nẵng.................................................................................................................... 36
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC THI
PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ..................................................... 62
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp ......... 62
3.2. Định hướng hoàn thiện việc thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa
bàn Thành phố Đà Nẵng .......................................................................................... 66
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện việc thực thi pháp luật đăng ký doanh nghiệp trên
địa bàn Thành phố Đà Nẵng..................................................................................... 69
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC VIẾT TẮT
CTCP

: Công ty cổ phần

CTHD

: Công ty hợp danh

CMND

: Chứng minh nhân dân

DN

: Doanh nghiệp

ĐKDN

: Đăng ký doanh nghiệp

ĐKKD

: Đăng ký kinh doanh

DNTN


: Doanh nghiệp tư nhân

DNXH

: Doanh nghiệp xã hội

ĐHĐCĐ

: Đại hội đồng cổ đông

GCNĐKDN

: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

HĐTV

: Hội đồng thành viên

HĐQT

: Hội đồng quản trị

LDN

: Luật doanh nghiệp

LĐT

: Luật đầu tư




: Nghị định

NHNN

: Ngân hàng nhà nước

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TNHH 1TV

: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

TNHH 2TV

: Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

VPĐD

: Văn phòng đại diện


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 29/11/2005 Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, cộng đồng doanh
nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập tăng kéo theo

sự gia tăng nhanh chóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp
(ĐKDN) cũng như yêu cầu quản lý về ĐKDN. Ngày 26/11/2014, Luật Doanh
nghiệp năm 2014 được Quốc Hội thông qua. Với việc Luật Doanh nghiệp năm 2014
được thông qua, các quy định pháp luật đối với hoạt động ĐKDN có nhiều thay đổi
cần được đưa ra xem xét và kiến giải. Hiện nay việc thực thi pháp luật về ĐKKD
doanh nghiệp nói chung có nhiều cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về
ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủ thể có thẩm quyền thành lập và đăng ký các loại
hình doanh nghiệp khác nhau; có sự chồng chéo trong quản lý đối với ĐKDN giữa
các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài); việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong đối với ĐKDN còn
nhiều tồn tại.
Chính vì vậy việc thực thi pháp luật đối với ĐKDN đã và đang gặp rất nhiều
khó khăn với nhiều lý do cả khách quan và chủ quan. Thực tế hiện nay tình trạng
doanh nghiệp vi phạm các quy định của Luật Doanh nghiệp (không chấp hành các
nội dung trong hồ sơ ĐKDN, không chấp hành các nghĩa vụ, báo cáo của doanh
nghiệp) có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất, mức độ vi phạm. Quan
ngại hơn cả là 6 chính tình trạng này là điều kiện, cơ hội cho các cá nhân, doanh
nghiệp tổ chức lợi dụng vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của các cá nhân,
tổ chức và toàn thể xã hội và làm đau đầu các cơ quan QLNN. Thành phố Đà Nẵng
là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước; phát triển với nhịp độ tăng
trưởng cao, hội nhập vào nền kinh tế khu vực ASEAN và toàn cầu.
Với xu thế phát triển đó, nhu cầu phát triển của cộng đồng doanh nghiệp, với
mong muốn nhanh chóng gia nhập thị trường là điều tất yếu khách quan. Hiện nay

1


cộng đồng doanh nghiệp Thành phố Đà Nẵng với số lượng doanh nghiệp vừa và
nhỏ khoảng hơn 1000 doanh nghiệp. Tại địa bàn TP Đà nẵng đã tồn tại tình trạng

các doanh nghiệp “ma”, “mất tích”, bỏ trốn khỏi địa chỉ ĐKDN; nhiều đối tượng đã
lợi dụng việc thủ tục thông thoáng để đăng ký thành lập doanh nghiệp, lấy tư cách
pháp nhân của doanh nghiệp để hoạt động vi phạm pháp luật. Bên cạnh những khó
khăn trong công tác thực thi pháp luật doanh nghiệp của các cơ quan QLNN TP Đà
Nẵng thì hiện nay việc thực thi pháp luật của Sở KH&ĐT TP Đà Nẵng đối với
ĐKDN theo Luật doanh nghiệp cũng đang gặp nhiều tồn tại, vướng mắc rất cấp
thiết phải được hoàn thiện.
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhanh chóng thành lập, gia nhập thị
trường, hạn chế doanh nghiệp vi phạm Luật doanh nghiệp, hướng tới mục đích đảm
bảo sự phát triển bền vững của cộng đồng của doanh nghiệp, đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Đà Nẵng,
việc nghiên cứu công tác thực thi pháp luật ĐKKD trên địa bàn TP Đà Nẵng để tìm ra
những ưu điểm, hạn chế của pháp luật cũng như việc thực thi pháp luật của Sở
KH&ĐT TP Đà Nẵng đối với ĐKDN với mục đích hoàn thiện pháp luật tăng cường
hiệu quả việc thực thi có vai trò vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết.
Xuất phát từ các yêu cầu trên, học viên đã đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Đăng ký Doanh nghiệp theo Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”để
nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học, với mong muốn đóng góp một số ý kiến
và quan điểm cho quá trình sửa đổi và hoàn thiện trong thời gian sắp tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua việc nghiên cứu, tổng kết vấn đề pháp luật về ĐKDN
nói chung đã được một số tác giả tiến hành. Ở mỗi một góc độ khác nhau cách thức
nghiên cứu, đánh giá về Luật Doanh nghiệp 2014 cũng là không giống nhau. Chính
vì vậy, tùy theo ý niệm chủ quan của từng tác giả dù là cùng một vấn đề nhưng cách
phân tích, nhìn nhận luôn mang tính cá nhân. Có rất nhiều bài viết đánh giá, phân
tích về từng nội dung đổi mới của Luật Doanh nghiệp 2014, so sánh Luật Doanh
nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 về quy định nào đó của pháp luật, nghiên

2



cứu về sự bất cập mới phát sinh của Luật Doanh nghiệp 2014 hay đưa ra những
định hướng chủ quan góp phần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về điều
kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp.Tuy nhiên, lĩnh vực thực thi pháp luật đối
với ĐKDN chưa có nhiều tác giả quan tâm. Do đó đây là một đề tài nghiên cứu
mang tính tiên phong và thực tiễn cao góp phần xây dựng cơ sở lý luận về thực thi
về pháp luật ĐKDN trên địa bàn TP Đà Nẵng. Luận văn còn chỉ ra những điểm còn
bất cập, hạn chế trong các quy định hiện hành về đăng ký doanh nghệp.
Cụ thể:
- Luận văn thạc sĩ quản lý công “Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam đến năm 2020”. Người thực hiện Nguyễn Thị Việt Anh, Người hướng
dẫn GS.TS. Lars-Torsten Eriksson, TS. Nguyễn Thùy Anh. 2013 Đại học kinh tếĐHQGHN.
- Bài viết của PGS.TS Phan Huy Hồng: “Vấn đề đăng ký ngành, nghề kinh
doanh: cần sự đổi mới mạnh mẽ và triệt để” năm 2014.
- Bài viết của Ths. Nguyễn Thị Thu Thủy “Hoàn thiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh ở Việt nam hiện nay” năm 2015.
- Luận văn thạc sĩ Luật “Đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp Việt
Nam - thực trạng và một vài kiến nghị”. Người thực hiện: Lê Thế Phúc. Người
hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan Hương. Khoa Luật năm 2006. Luận văn Làm sáng
tỏ cơ sở lý luận của hoạt động đăng ký kinh doanh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “Đăng ký Doanh nghiệp theo Pháp luật Việt Nam từ
thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp ở những giai đoạn từ trước năm
1986, từ thời kỳ 1986 đến năm 1996, luật doanh nghiêp 2005,và từ 2014 đến nay,
thông qua việc tìm hiểu thực trạng các nguyên tắc, căn cứ thành lập doanh nghiệp,
qua đó đánh giá những hạn chế, bất cập của pháp luật về đăng ký thành lập doanh
nghiệp, trên cơ sở này đưa ra những định hướng chung nhằm góp phần hoàn thiện


3


hệ thống pháp luật doanh nghiệp 2014 nói chung, chế độ đăng ký thành lập doanh
nghiệp nói riêng, đồng thời nâng cao hiệu quả của hoạt đông đăng ký thành lập
doanh nghiệp trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Nghiên cứu, phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật
doanh nghiệp hiện hành về dăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Tìm hiểu một số vấn đề về hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp, tình
hình thực hiện pháp luật đăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Đánh giá, tìm ra những hạn chế bất cập của pháp luật về xây dựng, thực
hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần đổi, mới hoàn thiện hệ thống pháp
luật doanh nghiệp nói chung, đăng ký thành lập doanh nghiệp nói riêng, đồng thời
nâng cao hiệu quả của hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thực tiễn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học pháp lý của Luật doanh nghiệp, các
qui phạm pháp luật doanh nghiệp liên quan đến đề tài:“ Đăng ký Doanh nghiệp theo
Pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng”để nghiên cứu vấn đề thuộc
nội dung luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ pháp Luật doanh nghiệp và giới hạn ở
góc độ đăng ký thành lập doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp 2014.
Thời gian nghiên cứu và không gian nghiên cứu:
Dữ liệu thu thập theo các tài liệu tham khảo và thực tiễn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê Nin; Phương pháp luận duy vât

4


biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật. Việc sử dụng các phương phấp tiếp cận và giải
quyết vấn đề của tôi là luôn luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn. Tìm hiểu
những quy định của pháp luật trên cơ sở xem xét thực tế áp dụng chúng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể mà tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài
này đó là:
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp này chủ yếu được sử dụng
để phân tích, lý giải, lập luận những vấn đề lý luận về đăng ký thành lập doanh
nghiệp.
- Phương pháp phân tích, giải thích pháp luật được sử dụng chủ yếu để phân
tích, giải thích các quy phạm pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh pháp luật dùng để so sánh quy phạm pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp hiện hành với quy phạm pháp luật về đăng ký thành
lập doanh Các phương pháp nêu trên nhằm tổng hợp các quy định của pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đưa ra những phân tích, đánh giá,
nhận xét việc thực hiện các quy định này trong thực tế và chứng minh những hạn
chế, thiếu sót của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghệp dẫn đến việc đăng ký
thành lập doanh nghiệp hiện nay chưa phát huy hết vai trò doanh nghiệp, quản lý
chưa hợp lý, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế của toàn xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa,
điểm mới của pháp luật về điều kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp và cơ sở

thực thi pháp luật. Phân tích, đánh giá một cách khách quan, theo sát thực tế của các
quy định pháp luật về điều kiện và thủ tục thành lập doanh nghiệp. Bên cạnh đó
cũng đưa ra phương hướng, giải pháp áp dụng đối với pháp luật về điều kiện và thủ
tục thành lập doanh nghiệp dựa trên quan điểm cá nhân và đường lối chính sách của
Đảng, Nhà nước.

5


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu cho vấn đề đăng ký
thành lập doanh nghiệp. Công trình nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cho quá
trình hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thực tiễn đồng thời cũng là tài
liệu tham khảo trong quá trình học tập trong môn Luât doanh nghiệp của sinh viên
về vấn đề này.
7. Bố cục luận văn
Luận văn được kết cấu ra thành ba phần gồm lời mở đầu, nội dung chính và
kết luận. Phần nội dung chính tác giả bố cục thành ba chương theo hướng đi từ
những vấn đề chung mang tính khái quát đến những vấn đề cụ thể hơn. Chi tiết ba
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đăng ký doanh nghiệp;
Chương 2: Thực thi pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên và thực tiễn thi
hành trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực thi pháp luật về đăng
ký kinh doanh.

6


CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP
1.1. Tổng quan về Doanh nghiệp và Đăng ký doanh nghiệp
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Đó là qúa trình thực hiện một cách liên tục, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm
hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi. Như vậy, Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế, một số tổ chức doanh nghiệp có các
hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ở Việt Nam hiện nay, có rất nhiều loại hình Doanh nghiệp với các loại hình
kinh doanh khác nhau, thường thì có các loại hình kinh doanh như: Công ty trách
nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp tư nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế, nhóm công ty,.. việc thành lập công ty cũng trở thành đơn giản
hơn bởi các dịch vụ tư vấn thành lập công ty rất phổ biến trên thị trường hiện nay.
Nhìn từ góc độ kinh tế, người ta xem doanh nghiệp như một cái áo khoác để
thực hiện ý tưởng kinh doanh tùy theo ý đồ, quy mô, dự tính thời gian kinh doanh.
Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng với nhiều
nghĩa khác nhau, tuy nhiên trong lĩnh vực pháp lý, thuật ngữ doanh nghiệp thường
được dùng để chỉ: (1) một loại hành vi thương mại; hoặc (2) các thực thể kinh
doanh nói chung; (3) tập hợp tài sản có của một thương nhân nào đó được khai thác
cho mục đích thương mại.
Tuy nhiên nhiều đạo luật của Việt Nam lại thường sử dụng thuật ngữ doanh
nghiệp theo nghĩa thứ hai nêu trên. Điển hình, LDN 2005 định nghĩa: “Doanh
nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động
kinh doanh” [4, Khoản 1 Điều 4].
Sự tiến bộ hơn về định nghĩa doanh nghiệp được thể hiện trong đạo luật

7



doanh nghiệp 2014 định nghĩa: DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh
doanh.
LDN 2014 đã định nghĩa khái niệm DN một cách chính xác hơn bởi: Tổ
chức kinh tế bao gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã, và các tổ chức kinh tế khác
theo quy định của pháp luật dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
[5, khoản 27 Điều 3].
Theo đó có những tổ chức kinh tế không phải là doanh nghiệp, ví dụ như hợp
tác xã và các tổ chức kinh tế khác; trong khi đó tổ chức kinh tế lại không bao gồm
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy Luật doanh nghiệp 2014 đã
có những chỉnh sửa một cách hợp lý hơn về khái niệm Doanh nghiệp.
Chính vì vậy, việc lựa chọn một hình thức doanh nghiệp phù hợp với tính
chất kinh doanh, quy mô ngành nghề kinh doanh và khả năng người bỏ vốn thành
lập công ty là vô cùng quan trọng, có tác động tới sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp về sau.
Các loại hình doanh nghiệp cơ bản hiện nay là:
- Doanh nghiệp Nhà nước: Là Doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% từ Nhà
nước, hoạt động phát triển kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu của xã hội do Nhà
nước quản lý.
- Doanh nghiêp tư nhân: Là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của một cá
nhân, do cá nhân đó đứng ra tổ chức thành lập daonh nghiệp, quản lý và chịu trách
nhiệm về pháp lý.
- Doanh nghiệp chung vốn hay công ty : Là loại hình doanh nghiệp do nhiều
thành viên góp chung vốn để kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận cũng như cùng
chịu lỗ.
1.2. Khái niệm, bản chất của đăng ký doanh nghiệp
Đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) là một thủ tục do pháp luật quy định nhằm
khai sinh về mặt pháp lý cho doanh nghiệp; khi đó, doanh nghiệp được nhà nước

thừa nhận và bảo hộ kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

8


Theo đó, Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng
ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay
đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về ĐKDN với cơ quan đăng ký kinh
doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN.
ĐKDN bao gồm: Đăng ký thành lập doanh nghiệp; đăng ký thay đổi nội
dung ĐKDN và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của NĐ
78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc văn bản điện tử mà
Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng
ký doanh nghiệp.
GCNĐKDN đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp
và GCNĐKDN không phải là giấy phép kinh doanh.
Giấy phép kinh doanh là loại giấy tờ có tính chất thông hành, một trong
những thủ tục hành chính bắt buộc mà doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh phải hoàn
tất trước yêu cầu của nhà nước nhằm quản lý các công việc kinh doanh. Loại giấy
này thường được cấp sau khi đăng ký kinh doanh đối với những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện.
Có thể phân biệt GCNĐKDN và Giấy phép kinh doanh ở một số tiêu chí sau:
Phân biệt Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy phép kinh doanh
STT
1

Tiêu chí
Ý nghĩa pháp lý


GCNĐKDN

Giấy phép kinh doanh

- Là chứng nhận của cơ quan - Là sự cho phép của cơ
Nhà nước;

quan quản lý Nhà nước;

- Là nghĩa vụ của Nhà nước - Là quyền cho phép
bảo hộ quyền sở hữu đối với (xin – cho).
tên doanh nghiệp.
2

Thủ tục

- Giấy đề nghị ĐKDN;

- Hồ sơ xin cấp/ đề nghị
được cấp giấy phép
kinh doanh;

- Hồ sơ hợp lệ;

9

- Hồ sơ hợp lệ;


STT


GCNĐKDN

Tiêu chí

Giấy phép kinh doanh
- Thẩm định, kiểm tra
các điều kiện do cơ
quan Nhà nước có thẩm
quyền thực hiện.

3

Thời hạn tồn tại

Do nhà đầu tư quyết định và Do cơ quan Nhà nước
thường không ghi trong có thẩm quyền ghi vào
GCNĐKDN

4

giấy phép kinh doanh

Quyền của Nhà Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ cơ Nếu có đủ hồ sơ hợp lệ,
nước

quan Nhà nước phải cấp đủ điều kiện nhưng cơ
GCNĐKDN

cho


nghiệp.

doanh quan Nhà nước vẫn có
thể từ chối để bảo vệ lợi
ích của cộng đồng, có
thể hạn chế số lượng.

Theo đó, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh
nghiệp; mã số này đồng thời là mã số thuế của doanh nghiệp.
Mã số thuế duy nhất đó để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi
đăng ký đến khi không còn tồn tại nữa và không được cấp lại cho tổ chức, cá nhân
khác. Khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động thì mã số doanh nghiệp chấm dứt hiệu
lực và không được sử dụng lại. Mã số này là dãy số được tạo, gửi, nhận tự động bởi
Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Hệ thống thông tin đăng ký
thuế và được ghi trên GCNĐKDN và được dùng để kê khai nộp thuế cho tất cả các
loại thuế mà người nộp thuế phải nộp cũng như để thực hiện các thủ tục hành chính
và quyền, nghĩa vụ khác.
Hiện nay, việc mở rộng giao lưu quan hệ thương mại giữa các quốc gia được
các nước rất quan tâm. Do đó, đối với mỗi một chủ thể kinh doanh, để gia nhập thị
trường và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải thỏa mãn rất nhiều
điều kiện như: chủ thể, vốn, ngành nghề kinh doanh, trụ sở, phương án kinh
doanh…một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất là chủ thể kinh

10


doanh phải tiến hành thủ tục đăng ký thành lập với cơ quan quản lý nhà nước nhằm
mục đích ghi nhận sự ra đời của các chủ thể kinh doanh đó trên thị trường.
“Đăng ký” được hiểu là hoạt động của một cơ quan nhà nước hoặc một tổ

chức cá nhân nào đó được ủy quyền thực hiện việc ghi nhận, xác nhận về một sự
việc hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký
cũng như tổ chức, cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký.
Về khái niệm thành lâp doanh nghiệp, qua tìm hiểu trong các văn bản pháp
luật (VBPL) hiện hành có thể thấy các nhà làm luật của Viêt Nam chưa đưa ra định
nghĩa cụ thể thế nào là đăng ký thành lập doanh nghiệp, mặc dù thuật ngữ này được
sử dụng khá phổ biến trong lập pháp cũng như trong thực tế. Nhìn chung, khái niệm
đăng ký thành lập doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà hoạt
động thực tiễn tiếp cận dưới hai góc độ: góc độ kinh tế và góc độ pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế: Đăng ký thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc
chuẩn bị các điều kiện vật chất cần và đủ để hình thành một tổ chức sản xuất kinh
doanh. Theo đó, để đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư phải chuẩn bị về tài
chính, kề hoạch kinh doanh, trụ sở, nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, thiết bị kỹ
thuật, đội ngũ nhân công, nhà quản lý v.v...Đây thực sự là những công việc quan
trọng mang tính nền tảng, tiền đề, và quyết định rất nhiều tới sự thành công của
doanh nghiệp sau khi được thành lập. Ở một số quốc gia trên thế giới như
Singapore, Anh quốc, trên các websites của chính phủ như www.enterprision.gov.sg
hay www,gov.uk/set-up-business-uk, từ việc lập kế hoạch kinh doanh (đưa ra một
danh sách gợi ý những công việc phải làm trước khi khởi sự kinh doanh, ví dụ:
nghiên cứu thị trường, viết kế hoạch kinh doanh, xây dựng kế hoạch tài chính, chọn
tên kinh doanh, tìm kiếm cơ sở kinh doanh v.v...); bắt đầu hoạt động kinh doanh
(lựa chọn một mô hình doanh nghiệp phù hợp, trình tự, thủ tục ĐKDN, đăng ký
thuế,v.v...)và phát triển công việc kinh doanh đều được hướng dẫn cụ thể cho doanh
nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận, tra cứu thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
hiện thực hóa kế hoạch kinh doanh của mình.
Dưới góc độ pháp lý: Đăng ký thành lập doanh nghiệp được hiểu là thủ tục

11



pháp lý được thực hiện tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để công khai hoá việc
xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp mà nhà đầu tư bỏ vốn thành lập. Như vậy,
sau khi lập kế hoạch kinh doanh và xác định loại hình doanh nghiệp dự định thành
lập, nhà đầu tư sẽ phải chuẩn bị những giấy tờ cần thiết mà Nhà nước yêu cầu như:
Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp, văn bản xác nhận vốn pháp định, chứng chỉ
hành nghề, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, dự
thảo điều lệ, danh sách thành viên v.v... Những giấy tờ nói trên đều được thể hiện
trong bộ hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và có giá trị thẩm định, kiểm tra về
khả năng quản lý, định hướng phát triển doanh nghiệp, năng lực của nhà đầu tư
cũng như tiềm lực tài chính để hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, đủ
sức cạnh tranh mang lại sản phẩm có lượng cao cho xã hôị. Ở đây, theo quy định tại
Điều 8 khoản 7 Luật doanh nghiệp 2014, người đăng ký thành lập doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký
thành lập doanh nghiệp, trong khi đó, cơ quan đăng ký kinh doanh (CQĐKKD) sẽ
phải chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, cụ thể là: Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp sau khi hoàn thiện
sẽ được nộp tại CQĐKKD có thẩm quyền; CQĐKKD tiến hành kiểm tra, xác minh
tính hợp lệ của hồ sơ và quyết định cấp hay không cấp Giấy chứng nhận đăng ký
thành lâp doanh nghiêp cho doanh nghiệp. Như vậy, thông qua hoạt động đăng ký
thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp được thừa nhận là một chủ thể kinh
doanh độc lập, bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác trong nền kinh tế thị
trường. Trong khi đó, về phía nhà nước, các cơ quan nhà nước có thể thực hiện hoạt
động quản lý đối với doanh nghiệp.
Như vậy trong nền kinh tế thị trường hiện nay thành lập doanh nghiệp là
nhân tố quan trọng báo đảm thành công cho việc thực hiện các mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định
chính trị và tạo thế mạnh về năng lực cạnh tranh, cho nên đăng ký thành lập doanh
nghiêp luôn là hiện tượng kinh tế - xã hội thể chế đồng thời ba yếu tố: Pháp chế
(thông qua việc xác nhận tính pháp lý được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm


12


quyền để xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp ); chuyên môn ( thể hiện công
tác kỹ thuật, giám sát, kiểm tra, điều tra, xử lý, tư vấn, kiểm toán...) và kinh tế ( thể
hiện hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh). Cùng với đó, đăng ký thành lập
doanh nghiệp là một hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và đảm bảo
quyền tự do sản xuất, kinh doanh cho chủ đầu tư theo đường lối kinh tế của Nhà
nước trên cơ sở dự báo kinh tế phát triển bền vững trong từng thời kỳ. Với ý nghĩa
như vậy, pháp luật hiện hành đưa ra khái niệm về đăng ký thành lập doanh nghiệp
như sau:
Đăng ký thành lập doanh nghiệp là ghi vào sổ cơ quan quản lý về kế hoạch
sản xuất, kinh doanh của chủ đầu tư được Nhà nước chấp nhận bằng việc cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiêp.
Trong hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiêp, Nhà nước trao toàn quyền
chủ động cho doanh nghiệp được lựa chọn, quyết định và tự chịu trách nhiệm về các
nội dung trong đăng ký thành lập doanh nghiêp. Tuy nhiên, quyền tự do ở đây vẫn
phải nằm trong khuôn khổ của luật doanh nghiệp 2014. Cơ quan đăng ký kinh
doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký thành lập doanh
nghiệp, không chịu trách nhiệm về những vi phạm pháp luật xảy ra trước và sau
đăng ký doanh nghiệp. Khi các thông tin và tài liệu đăng ký doanh nghiệp là phù
hợp và không trái với luật doanh nghiệp thì cơ quan đăng ký kinh doanh không
được từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp. Ngoài
ra, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp, một nhiệm vụ của
Nhà nước là phải đáp ứng, bảo đảm các điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện
quyền tự do kinh doanh như: Mở rộng kinh doanh, chọn mô hình đa dạng, phong
phú, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đơn giản, nhanh gọn, quy định rõ ràng,
minh bạch về ngành nghề cấm và không cấm, ngành nghề kinh doanh có điều kiện
để được kinh doanh.
Khi CQĐKKD đáp ứng được các điều kiện này, đồng nghĩa với việc Nhà

nước đã tạo ra môi trường minh bạch và thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện
đầy đủ quyền tự do kinh doanh của mình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt

13


của doanh nghiệp, tạo khả năng thuận lợi cho sự khởi nghiệp kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.3. Nhu cầu và mục đích của đăng ký doanh nghiệp
Việc đăng ký doanh nghiệp nói riêng và thành lập doanh nghiệp nói chung
có một ý nghĩa hết sức quan trọng không chỉ với sự hình thành công ty mà còn với
cả sự ổn định và phát triển của công ty trong suốt quá trình tồn tại của nó. Điều đó
được thể hiện rõ ở những điểm sau:
Thứ nhất, đăng ký doanh nghiệp là quá trình đánh dấu sự ra đời của một
doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận như một thực thể tham gia vào nền kinh tế
với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình;
Thứ hai, nó đánh dấu việc kết thúc một quá trình thảo luận, đi đến thống nhất
giữa các sáng lập viên và mở ra sự công nhận của pháp luật với sự bàn bạc, thảo
luận đó. Các thành viên sáng lập sẽ chịu sự ràng buộc doanh nghiệp và trách nhiệm
về tài sản đối với doanh nghiệp;
Thứ ba, đây là giai đoạn quan trọng với sự hoạt động của công ty về sau
bằng việc các bên thống nhất ký tên vào Điều lệ của Công ty và được Nhà nước
công nhận. Mọi hoạt động sau này của công ty phải tuân thủ Điều lệ đã ban hành.
Cơ cấu tổ chức, hình thức quản lý, cách thức ra quyết định đều phụ thuộc và được
quy định rõ tại Điều lệ này;
Như vậy đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục có vai trò quan trọng với sự
hình thành của doanh nghiệp là bước tạo tiền đề về vật chất, tài chính để duy trì sự
hoạt động và phát triển việc kinh doanh của doanh nghiệp, quan trọng hơn nó mang
tính chất pháp lý thể hiện sự công nhận của pháp luật với sự ra đời của một thực thể
kinh doanh và được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật. Đó là mục đích

của việc đăng ký doanh nghiệp.
Pháp luật về Đăng ký Doanh nghiệp
Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về
đăng ký thành lập doanh nghiệp là một chế định quan trọng của pháp luật doanh

14


nghiệp Việt Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: Pháp luật về đăng ký thành
lập doanh nghiệp là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quá trình đăng ký
thành lập doanh nghiệp và sản xuất, kinh doanh trong phạm vi cả nước cho các mục
tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trong một không gian, thời gian
cụ thể và những cách thức, biện pháp cụ thể để thực hiện quá trình đó.
Sự điều chỉnh của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp được thể
hiện bằng việc Nhà nước sử dụng pháp luật tác động vào hành vi xử sự của các chủ
thể kinh doanh theo hướng:
Một là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể phù hợp của quy định
của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp thì pháp luật bảo vệ, tạo điều kiện
khuyến khích để doanh nghiệp phát triển.
Hai là, đối với những hành vi xử sự của các chủ thể trái hoặc không phù hợp
với quy định của pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp thì pháp luật xử lý,
ngăn ngừa và tiến tới loại bỏ dần khỏi đời sống xã hội.
Với ý nghĩa nêu trên có thể thấy, pháp luật về đăng ký thành lập doanh
nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và
chi phối bởi sự lựa chọn của nhà nước trong việc thực hiện quyền tự do thành lập
doanh nghiệp. Khẳng định như vậy bởi lẽ: Nhà nước với tư cách là đại diện của
quyền lực công nên Nhà nước có quyền phân bổ và điều chỉnh doanh nghiệp cho
các mục tiêu kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đó Nhà nước có quyền phân định các chủ
thể, trụ sở, đất đai... Cho các mục đích khác nhau theo ý đồ của Nhà nước trên cơ sở

giải quyết hài hòa lợi ích “ công” của Nhà nước và xã hội và lợi ích “ tư” của các
chủ thể kinh doanh.
Thứ hai, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp là hệ thống pháp luật
rộng lớn bao gồm nhiều mảng pháp luật khác nhau bao gồm cả pháp luật chung và
pháp luật chuyên ngành. Theo đó, pháp luật doanh nghiệp điều chỉnh đăng ký thành
lập doanh nghiệp tổng thể, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp của các
ngành điều chỉnh doanh nghiệp trong nội bộ ngành và lĩnh vực của mình trên cơ sở
phù hợp với luật chung.

15


Thứ ba, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp mang tính ổn định
tương đối trong một khoảng thời gian nhất định và chúng thay đổi theo nhiệm vụ
phát triển kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ khác nhau.
Thứ tư, pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp mang tính bắt buộc đối
với các chủ thể tham gia vào quan hệ quản lý và thành lập doanh nghiệp phải chấp
hành khi cấp giấy phép kinh doanh và tổ chức hoạt động kinh doanh.
Các điều kiện đăng ký kinh doanh
Điều kiện về chủ thể: Điều kiện về chủ thể thành lập doanh nghiệp:
Người thành lập doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân thành lập hoặc góp vốn để
thành lập doanh nghiệp.
Theo đó, Mọi cá nhân, tổ chức có quyền thành lập doanh nghiệp; quản lý
doanh nghiệp và được Nhà nước bảo hộ trừ các đối tượng không được thành lập và
góp vốn thành lập sau đây:
- Cơ quan nhà nước, vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập
doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức, viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc

phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà
nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ
những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của nhà
nước tại DN;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị
mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết
định xử lý hành chính tại cơ sở ca nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc

16


đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất
định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng chống tham nhũng [5, Điều 18].
Bên cạnh đó, cụ thể Điều 37 Luật phòng chống tham nhũng cũng quy định một
số đối tượng không được phép thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp như sau:
- Cán bộ, công chức không được làm những việc sau:
- Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức,
đơn vị, các nhân trong khi giải quyết công việc;
- Thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý, điều hành DNTN, Công ty
TNHH, CTCP, CTHD, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên
cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước
ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những
công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;
- Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau

khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;
- Luật phá sản 2014 Điều 130 cũng quy định các trường hợp cấm đảm nhiệm
chức vụ sau khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản dưới đây, trừ trường
hợp doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản với lý do bất khả kháng:
1. Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội
đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không
được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản.
2. Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà
nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ
quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.
3. Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá
sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18, khoản 5 Điều 28, khoản 1 Điều
48 của Luật Phá sản 2014 thì Thẩm phán xem xét, quyết định về việc không được
quyền thành lập doanh nghiệp, hợp tác xã, làm người quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

17


trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.[16]
Đối với quyền góp vốn: Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần,
mua phần vốn góp trừ trường hợp: (i) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào DN để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị
mình; (ii) Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của
pháp luật về cán bộ, công chức.
Do vậy, người thành lập doanh nghiệp sẽ trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ
chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục liên quan đến ĐKDN. Trường hợp ủy quyền
thì khi thực hiện người được ủy quyền phải nộp bản sao hợp lệ chứng minh nhân
dân hoặc Thẻ căn cước công dân hoặc hộ chiếu còn hiệu lực và kèm theo bản sao
hợp lệ hợp đồng cung cấp dịch vụ giữa người thành lập hoặc doanh nghiệp và tổ

chức làm dịch vụ; Giấy giới thiệu của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện;
Văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến ĐKDN.
Điều kiện về khách thể
Luật doanh nghiệp khẳng định, thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật là quyền của cá nhân và tổ chức được nhà nước bảo
hộ. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp
không được ban hành các quy định về đăng ký doanh nghiệp áp dụng riêng cho
ngành hoặc địa phương mình; Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu
người thành lập doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật
doanh nghiệp; gây chậm trễ, gây phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập
doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên để đảm bảo trật tự trong quản lý kinh tế, đảm bảo sự hài hòa về
quyền và lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội, pháp luật quy định các điều kiện đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá
nhân theo hai nội dung gồm: (1) Điều kiện về chủ thể; (2) Điều kiện về khách thể.
Theo đó, điều kiện về khách thể gồm: Điều kiện về ngành nghề kinh doanh; điều
kiện về tên doanh nghiệp; điều kiện về tài sản góp vốn.

18


Điều kiện về ngành nghề kinh doanh
Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực 1/7/2015 đã hiện thực hóa phần nào
quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp theo tinh thần của Hiến pháp 2013 là
quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, làm cho DN
trở thành công cụ kinh doanh thực sự an toàn, hiệu quả hơn. Theo đó pháp luật
không quy định cụ thể các ngành nghề được phép kinh doanh mà chỉ quy định các
trường hợp cấm kinh doanh; ngành, nghề kinh doanh có điều kiện mà thôi. Cụ thể,
Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh; tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn,
điều chỉnh ngành, nghề kinh doanh nếu như ngành nghề kinh doanh:

- Không thuộc ngành, nghề cấm kinh doanh: Cụ thể tại Điều 6 Luật đầu tư
2014 như sau: (i) Kinh doanh các chất ma túy; (ii) Kinh doanh các loại hóa chất,
khoáng vật cấm; (iii) Kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang nguy
cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên; (iv) Kinh doanh mại dâm; (v)
Mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; (vi) Hoạt động kinh doanh liên quan
đến sinh sản vô tính trên người. Để làm rõ giới hạn cấm này, trong phụ lục 1 và 2
Luật đầu tư 2014 còn liệt kê chi tiết danh mục chất ma túy, danh mục động, thực
vật, khoáng vật cấm kinh doanh đầu tư.
- Không thuộc ngành, nghề kinh doanh phải có điều kiện kinh doanh mà
chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật hoặc không đảm bảo
duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.
Ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện là ngành nghề mà việc thực hiện
hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do
quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của
cộng đồng.
Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định cụ thể
tại Phụ lục 4 của LĐT 2014, và điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành nghề
này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
Theo đó, Doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh

19


×