Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Quản lý Nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.1 MB, 91 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ DUY THẮNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

:

838.01.02



LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN MINH ĐỨC

HÀ NỘI, năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và
không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực. Các thông tin, tài liệu trích
dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Lê Duy Thắng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU ...6
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu ...................................................................................................6
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu .......14
1.3. Phương thức quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu .16
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu ...............................................................................................................20
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NAM ..............................................................................................................25
2.1. Điều kiện tự nhiên và lịch sử của tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam .................25
2.2. Khái quát về văn hóa tộc người Cơtu .....................................................................28
2.3. Tình hình quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam .............................................................................................39
2.4. Những ưu điểm và hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hoá tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..........................................58
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC
NGƯỜI CƠTU TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM ........................................64
3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................64
3.2. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ..................................................65
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam ................................................................68
KẾT LUẬN ..................................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là nền tảng sinh hoạt tinh thần của con người trong xã hội, phản ánh
trình độ phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Đất nước ta đang trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng cao. Bên cạnh
những thay đổi, chuyển biến về mặt kinh tế nói chung, xã hội đã đặt ra cho lĩnh vực
văn hóa nhiều vấn đề mới. Đặc biệt là những vấn đề nảy sinh do sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế, kết cấu xã hội và sự biến đổi của cơ chế quản lý. Bên cạnh đó còn có

những vấn đề văn hóa nảy sinh từ quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặt khác, trình độ dân trí được nâng cao cũng làm cho nhu
cầu hưởng thụ văn hóa gia tăng về quy mô và chất lượng. Sự chuyển tiếp thế hệ còn
đặt ra vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống sao cho đảm bảo được
sự phát triển bền vững của đất nước.
Bản sắc văn hoá của một dân tộc là những giá trị vật chất và tinh thần đặc trưng
trường tồn cùng dân tộc đó. Một mặt nó phản ánh sinh động đời sống kinh tế - xã hội
của dân tộc, mặt khác nó cũng là dấu hiệu đặc trưng để chúng ta phân biệt và nhận biết
dân tộc này với dân tộc khác.
Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thống có ý nghĩa sống còn đối
mới mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế hội nhập với cơ chế thị trường
hiện nay thì vấn đề này càng được chú trọng và quan tâm hơn bao giờ hết.
Lịch sử văn hóa dân tộc Cơtu là một bộ phận, góp phần làm phong phú thêm
kho tàng văn hóa Việt Nam. Với số dân đứng thứ hai sau dân tộc Kinh ở Quảng Nam,
cộng đồng dân tộc Cơtu có từ lâu đời với đời sống tâm linh phong phú đã hình thành
nền văn hóa chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Song những giá trị truyền
thống của dân tộc này có nguy cơ mai một do chịu sự tác động bởi những mặt trái của
nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính sách định cư, quy
hoạch phát triển kinh tế… Vì vậy, việc bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa tộc người
Cơtu là nhiệm vụ cấp thiết nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong giai
đoạn hiện nay.
1


Từ những lý do nêu trên, học viên chọn đề tài "Quản lý Nhà nước về bảo tồn
và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" làm luận
văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Đề tài được thực
hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước đối với quá trình bảo tồn và
phát triển bản sắc văn hoá của dân tộc Cơtu ở tỉnh Quảng Nam nói riêng và nền văn
hoá dân tộc Việt Nam nói chung, làm cơ sở và tiền đề cho việc xây dựng một nền văn

hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan đến đề tài, đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều khía cạnh
khác nhau. Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu như:
"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia,
1994; "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS. Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh, 2001; "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học,
2002; "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên); "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb
Văn hóa Thông tin, 2003.
Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:
“Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa
dân tộc, Hà Nội, 1997; "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1998; Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar
ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê
Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội; "Văn hóa truyền thống các
dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ
thuật, số 7/2000; Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu
số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa...
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc Cơtu, cũng có nhiều công trình với nhiều tác
phẩm, dẫn liệu mà chủ yếu là điều tra, truy tìm và giới thiệu những giá trị văn hóa ở
dạng vật thể, phi vật thể, trong đó tiêu biểu có:
Trong cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết về văn hóa dân tộc Cơtu là “Tìm hiểu
2


văn hóa Ka Tu”, Nxb Thuận Hóa, năm 2002, tác giả Tạ Đức đã nêu những vấn đề và
cách lý giải những khía cạnh đời sống văn hóa của dân tộc Cơtu, qua đó người đọc có
thể tiếp cận những giá trị và các tập tục của người Cơtu ở Quảng Nam.

Trong cuốn “Nhà Gươl của người Cơtu”, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, năm
2006, tác giả Đinh Hồng Hải bằng việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của
người Cơtu, đã chỉ ra những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơtu ở Quảng Nam.
Tác giả Lưu Hùng trong cuốn “Góp phần tìm hiểu văn hóa Cơtu”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, năm 2006, đã giới thiệu những nét chính của văn hóa dân tộc
Cơtu, những giá trị tín ngưỡng và tập tục diễn ra trong đời sống của người Cơtu ở
Quảng Nam.
Viết về chính bản thân mình cùng với những nét đặc trưng của dân tộc mình,
tác giả Bh’riu Liếc trong cuốn “Văn hóa người Cơtu”, Nxb Đà Nẵng, năm 2009, đã
trình bày một cách sinh động về tộc danh, phạm vi cư trú, tính cách con người cùng
với những phong tục, tập quán và các lễ hội cổ truyền của người Cơtu ở Quảng Nam.
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Thông, cuốn “Ka Tu- kẻ
sống đầu ngọn nước”, Nxb Thuận Hóa, năm 2005, đã lý giải về nguồn gốc hình thành
tộc người, phạm vi cư trú và tộc danh của người Cơtu, đồng thời tác giả cũng nêu một
số phong tục, tập quán, lễ hội của dân tộc này.
Cuốn tư liệu “Người Cơtu ở Việt Nam”, Nxb Thông tấn, Hà Nội, năm 2009 của
Trần Tấn Vịnh đã ghi lại bằng hình ảnh, miêu tả văn hóa người Cơtu ở Quảng Nam
trong cuộc sống hằng ngày và các sinh hoạt lễ hội.
Tuy nhiên, những công trình nêu trên chỉ mang tính chất khái quát chung về
bản sắc văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong
tục tập quán của người Cơtu, những nét đặc sắc, cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc
Cơtu chứ chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ Quản lý nhà nước
về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Chính
vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải
3



pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc khác trên cả nước
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số khía cạnh lý luận và pháp luật liên quan đến
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa ở Việt Nam.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Từ đó, chỉ rõ những ưu điểm,
hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó trong quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam
nói riêng, trên địa bàn cả nước nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Là những vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa, thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam và tìm ra phương hướng, các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu là một vấn đề có nội dung rất rộng, trong khuôn khổ của một
luận văn cao học, học viên chỉ đề cập và nghiên cứu một cách khái quát những vấn đề
cơ bản của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh đó, học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải

4


quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý về quản lý nhà nước về bảo tồn và
phát triển văn hóa góp phần nâng cao lý luận, nhận thức về bảo tồn và phát triển văn
hóa dân tộc.
Những kết luận rút ra từ bảo tồn và phát triển văn hóa và thực tiễn bảo tồn và
phát triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam còn là cơ sở để hình
thành phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa tộc người Cơtu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và các dân tộc
khác trên cả nước nói chung.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc hoàn
thiện pháp luật về quản lý nhà nước. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
học tập, nghiên cứu cho sinh viên và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý trong quản lý nhà nước về bảo tồn
và phát triển văn hóa tộc người Cơtu.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu tại tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

5



CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠTU
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và
phát triển văn hóa tộc người Cơtu
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn
hóa tộc người Cơtu
Để đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu thì cần phải tìm hiểu một số thuật ngữ sau:
Văn hóa là gì? Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật
như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các "Trung tâm văn hóa" có ở khắp nơi
chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thường khác: Văn hóa là cách sống bao
gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận...
Văn hóa liên kết với sự tiến hóa sinh học của loài người, trong quá trình phát
triển, tác động sinh học hay bản năng dần dần giảm bớt khi loài người đạt được trí
thông minh để định dạng môi trường tự nhiên cho chính mình. Đến lúc này, bản tính
con người không còn mang tính bản năng mà là văn hóa. Khả năng sáng tạo của con
người trong việc định hình thế giới hơn hẳn bất kỳ loài động vật nào khác và chỉ có
con người dựa vào văn hóa hơn là bản năng để đảm bảo cho sự sống còn của mình.
Con người có khả năng hình thành văn hóa và với tư cách là thành viên của một xã
hội, con người tiếp thu văn hóa, bảo tồn nó, đồng thời truyền đạt nó từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Việc cùng có chung một văn hóa giúp xác định nhóm người hay xã hội
mà các cá thể là thành viên.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu văn hóa như sau: Văn hóa là tổng thể
những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách
của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và

văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các
6


giá trị, những tập trung và tín ngưỡng.
Văn hóa tộc người Cơtu: Văn hóa tộc người Cơtu là toàn bộ giá trị vật chất và
tinh thần được sáng tạo trong quá trình đấu tranh sinh tồn tạo dựng cuộc sống cộng
đồng của tộc người Cơtu. Nền văn hóa Cơtu được hình thành và gắn bó với núi rừng
tự nhiên của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị
văn hóa vật thể và phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với
giá trị văn hóa của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt
Nam.
Tuy có những nét tương đồng với một số dân tộc anh em khác nhưng văn hóa
tộc người Cơtu có những nét đặc trưng riêng rất phong phú, đa dạng và tinh tế. Nét
độc đáo đậm đà bản sắc văn hóa của tộc người Cơtu được biểu hiện rõ với những giá
trị văn hóa vật thể và phi vật thể.
Văn hóa vật thể tộc người Cơtu: Văn hóa vật thể là các giá trị văn hóa tồn tại
một cách hữu linh, con người có thể nhận biết một cách cảm tính, trực tiếp qua các
giác quan (hiện vật…) có giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học được cộng đồng dân tộc,
nhân loại thừa nhận. Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hoá nhân loại, thể hiện
đời sống tinh thần của con người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động
sáng tạo, biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử
dụng và thẩm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống con người.
Văn hóa vật thể của tộc người Cơtu được biểu hiện rất rõ với những giá trị văn
hóa vật thể như: Gươl; kiểu dáng nhà sàn truyền thống; các đồ dùng trang sức; dụng
cụ sản xuất, tự vệ; các phương tiện để săn bắn thú rừng; nhạc cụ cồng, chiêng, tù và;
nhà mồ…
Văn hóa phi vật thể tộc người Cơtu: Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh
thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được
lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền

khác. Bao gồm: Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn,
truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ
công, truyền thống tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục
truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.
7


Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơtu gồm những tri thức về mối quan hệ của
người Cơtu với môi trường tự nhiên và cuộc sống như kinh nghiệm về mùa vụ, sức
khỏe, ẩm thực; những sáng tạo trong văn học truyền khẩu dân gian như truyện cổ tích,
ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ
hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơtu, lễ hội…
Tóm lại, văn hóa của tộc người Cơtu gồm những giá trị văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể rất độc đáo, phong phú, đa dạng và tinh tế đã cùng với giá trị văn hóa
của các dân tộc anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Tộc người được hiểu như thế nào? Hiện nay, khái niệm dân tộc được sử dụng
trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên phương tiện thông tin đại
chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “tộc người”. Với nghĩa này, dân tộc
là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có các đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn
hoá và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch
sử. Ví dụ: Dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Ba Na, dân tộc Chăm, dân tộc Cơtu...
Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc
(tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong thành phần dân cư
và có những dân tộc thiểu số. Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi
dân tộc có thể có sự phân chia thành các nhóm người có những đặc điểm khác nhau về
nơi cư trú, văn hoá, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân
tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng của một dân tộc như nói trên đây. Ví dụ: dân tộc
Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các nhóm Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyển, Dao
quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh y, Dao quần trắng.

Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc. Ví dụ như: Dân tộc
Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào... Theo nghĩa này, dân tộc là khái niệm
dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành bởi những tộc người khác
nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định. Như vậy, khái niệm dân tộc ở đây được
hiểu đồng nghĩa với quốc gia đa tộc người, và cũng đồng nghĩa với nhà nước thống
nhất của các tộc người trên một lãnh thổ có chủ quyền quốc gia. Theo nghĩa này, dân
cư của dân tộc này được phân biệt với dân cư của dân tộc khác bởi yếu tố quốc tịch.
8


Do đó, một tộc người có thể có ở những quốc gia dân tộc khác nhau theo sự di cư của
tộc người đó. Ví dụ: Trong kết cấu dân cư của dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Hoa
đều có tộc người H’Mông và tộc người Dao. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này,
học viên chỉ đề cập tới dân tộc theo khái niệm nghĩa hẹp tức là dân tộc đồng nghĩa với
tộc người.
Quản lý Nhà nước về dân tộc (tộc người): Quản lý nhà nước là một hoạt động
chấp hành, điều hành của Nhà nước. Đó là một hình thức hoạt động của Nhà nước
được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội
dung là bảo đảm sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền
lực nhà nước nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc
xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị của nước nhà.
Quản lý Nhà nước về dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên
của Nhà nước bằng quyền lực Nhà nước đối với tất cả các hoạt động trên các lĩnh vực
đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu phát
triển bền vững.
Vậy tại sao phải quản lý Nhà nước về dân tộc?: Quản lý Nhà nước về dân tộc là
một nội dung cơ bản và quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản
lý Nhà nước nói chung, là nội dung đã được quan tâm, thực hiện trong suốt quá trình
lịch sử của nước ta.
Trên mảnh đất Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống và ở mỗi

địa phương của Việt Nam có ít nhất có hai dân tộc cùng trú cư. Vì vậy cần thiết phải
có sự quản lý, điều chỉnh của Nhà nước để xây dựng khối đại đoàn kết trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, cùng hướng các dân tộc phát triển và ra sức phấn đấu vì
mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh. Dân
tộc là một bộ phận cấu thành của Quốc gia, là một phần không thể tách rời khỏi Quốc gia.
Chính vì vậy mọi sự biến động trên tất cả các lĩnh vực của dân tộc đều sẽ trực tiếp tác
động, ảnh hưởng đến Quốc gia, cho nên cần thiết phải có sự tác động của quản lý nhà
nước để điều chỉnh, điều tiết tới mọi quá trình kinh tế - xã hội của các dân tộc, hướng các
quá trình kinh tế - xã hội đó phát triển theo định hướng, theo mục tiêu chung của đất
nước, mặt khác nếu không có quản lý nhà nước thì mọi vấn đề trong đời sống kinh tế - xã
9


hội của các dân tộc không thể có sự phát triển bền vững.
Ở nước ta, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chính là vùng đang tồn
tại nhiều bất cập và hạn chế nhất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.
Chính vì thế, cần phải có sự tác động của quản lý Nhà nước với những công cụ,
phương pháp và tiềm lực của mình để từng bước giải quyết những hạn chế khó khăn,
đưa đồng bào các dân tộc thiểu số hoà mình vào dòng chảy chung của Quốc gia, của
thời đại. Qua những phân tích trên ta thấy rằng, quản lý Nhà nước về dân tộc là nội
dung cơ bản và là tất yếu khách quan của quản lý Nhà nước.
* Các quan điểm về bảo tồn và phát triển
- Quan điểm về bảo tồn:
+ Bảo tồn nguyên vẹn: Những người theo quan điểm này cho rằng, những sản
phẩm của quá khứ nên được bảo tồn nguyên vẹn như nó vốn có để tránh tình trạng thế
hệ hiện tại làm méo mó, biến dạng di sản. Mỗi di sản chứa đựng những giá trị văn hoá
- xã hội nhất định mà không phải lúc nào thế hệ hiện tại cũng có thể hiểu biết một
cách cụ thể để có thể phát huy những giá trị ấy một cách thích hợp. Không những thế,
những tác động của ngày hôm nay sẽ tạo nên những lớp văn hoá khác không trùng
nghĩa với lớp văn hoá mà thế hệ trước chuyển giao cho thế hệ sau, vì thế có thể làm

cho các thế hệ sau nữa không thể truy nguyên được những giá trị của di sản đang tồn
tại. Như vậy, những người theo quan điểm này cho rằng, do chúng ta chưa có đủ thông
tin, trình độ hiểu biết để có thể lý giải giá trị của các di sản văn hoá, chúng ta nên giữ
nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện các thế hệ tiếp nối có thể xử lý,
giải thích và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách tốt hơn.
+ Bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa những giá
trị độc đáo của quá khứ dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học giả hiện
nay khi bàn đến di sản nói chung, quản lý di sản nói riêng. Quan điểm lý thuyết này
dựa trên cơ sở mỗi di sản cần phải thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời
gian và không gian cụ thể. Khi di sản ấy tồn tại ở không gian và thời gian hiện tại, di
sản ấy cần phát huy giá trị văn hoá - xã hội phù hợp với xã hội hiện nay và phải loại
bỏ đi những gì không phù hợp với xã hội ấy. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa rất thuận tiện
do chúng ta chỉ lựa chọn những yếu tố hợp lý để phát huy. Tuy nhiên, vấn đề đáng nói
10


ở đây là yếu tố nào được lựa chọn để phát huy và yếu tố nào không được lựa chọn để
phát huy. Trên cơ sở của sự hiểu biết như vậy, trong tác phẩm “Đời sống mới” của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những quan điểm rõ ràng về sự kế thừa: “Cái gì cũ
mà xấu thì phải bỏ, cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp
lý, cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm”. Quan điểm đó thuộc quan điểm bảo tồn dựa
trên cơ sở kế thừa này.
Trên thực tế cho thấy, cả bảo tồn nguyên vẹn lẫn bảo tồn trên cơ sở kế thừa đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng của nó. Nếu như quan điểm bảo tồn nguyên vẹn
gặp khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phái sinh và
giữ gìn nguyên gốc là giữ gìn những yếu tố nào thì quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế
thừa gặp phải khó khăn trong khâu xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế
thừa và phát huy, yếu tố nào không còn phù hợp, cần phải loại bỏ; cũng cần phải
khuyến cáo rằng sự loại bỏ ấy có thể sẽ đánh mất những giá trị văn hoá mà chúng ta
chưa hiểu biết một cách sâu sắc và thấu đáo.

- Quan điểm về phát triển: Xung quanh hoạt động phát triển di sản văn hoá vật
thể và phi vật thể cũng đặt ra nhiều vấn đề, song điều quan trọng hơn cả đối với việc
phát huy những di sản văn hoá là làm sao khơi dậy ý thức của cộng đồng, niềm tự hào
của cộng đồng về di sản văn hóa để di sản ấy sống trong cộng đồng như bản chất của
nó. Trong công tác phát triển, vấn đề đặt ra là tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng,
nhất là thế hệ trẻ những hiểu biết về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể cũng như
những giá trị văn hoá của nó.
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra khái niệm quản lý nhà nước về bảo tồn
và phát triển văn hóa tộc người Cơtu như sau: Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát
triển văn hóa tộc người Cơtu là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt
động về văn hóa của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật đối với tộc người Cơtu, để
những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
* Đặc điểm của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người
Cơtu
Thứ nhất, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
11


hoạt động mang quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước về
bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có
thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó
phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý nhà nước
đối với các hoạt động văn hóa của tộc người Cơtu. Bằng việc ban hành văn bản, chủ
thể quản lý nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách
pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng
quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực
nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện
trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực
tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới

những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động nhằm tổ chức thực hiện pháp
luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm
đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm
quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước như
các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế…,
nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý nhà nước được bảo đảm thực hiện.
Thứ hai, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp. Quyền năng
hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước. Quản lý
nhà nước có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực trong
đời sống xã hội của tộc người Cơtu, từ quan trọng tới ít quan trọng, từ phổ biến tới cá
biệt phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật.
Thứ ba, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ. Để bảo đảm tính pháp chế trong
hoạt động hành pháp đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu, bộ
máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới
địa phương, đứng đầu là Ủy ban Dân tộc, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ
đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp
12


nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ giữa các
địa phương hay vùng miền khác nhau.
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người
Cơtu có tính chấp hành và điều hành. Tính chấp hành và điều hành của hoạt động
quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu thể hiện trong việc
những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện
pháp luật. Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện trong việc chủ thể
có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội tộc người Cơtu.

Thứ năm, quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu là
hoạt động mang tính liên tục. Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý nhà
nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người Cơtu luôn cần có tính liên tục, kịp
thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tộc người
Cơtu.
1.1.2. Vai trò của quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu
Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối “Nâng
cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc”,
công tác quản lý nhà nước về dân tộc nói chung và tộc người Cơtu nói riêng ngày càng
trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước. Vai trò quan trọng
của công tác quản lý nhà nước về dân tộc thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:
Thứ nhất, vấn đề dân tộc là một nội dung trọng yếu trong đường lối cách mạng
của Đảng ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân, cội nguồn sức mạnh cho thắng
lợi của sự nghiệp cách mạng. Chính sách dân tộc của Đảng ta luôn nhất quán, đúng
đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta. Tuy nhiên, để những
nội dung đúng đắn và sáng tạo của chính sách dân tộc đi vào cuộc sống thì cần có sự
tổ chức thực hiện một cách triệt để các chính sách bằng hoạt động quản lý, điều hành
của các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc.
Thứ hai, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là
cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển
kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục... của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình
13


trạng kém phát triển. Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ
lực đầu tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó đặc biệt quan tâm đầu tư
cho đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn.
Các chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt động hướng đến đồng bào dân tộc thiểu
số được thực hiện thông qua hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc.

Thứ ba, để hướng đến mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước
kém phát triển, thì cùng với việc tích cực đầu tư làm thay đổi kinh tế - xã hội ở khu
vực đồng bào dân tộc thiểu số, một vấn đề quan trọng đặt ra là Đảng và Nhà nước ta
cần phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc. Để làm được điều này không thể thiếu
công tác quản lý nhà nước về dân tộc, với tính chất là một lĩnh vực hoạt động thường
xuyên trong tổ chức, điều hành nền hành chính quốc gia.
Thứ tư, hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang là một trong những
vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây rối an ninh chính trị, trật
tự xã hội, phá hoại sự ổn định chính trị của chế độ và sự phát triển bền vững của Nhà
nước ta. Trước tình hình đó, công tác dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng của
toàn bộ hệ thống chính trị mà trong đó hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc có vị trí
rất quan trọng.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc người
Cơtu
Do tính chất đa dạng của chính sách dân tộc, nên công tác quản lý nhà nước về
dân tộc nói chung và tộc người Cơtu nói riêng bao gồm nhiều mặt hoạt động trải rộng
trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng đều hướng đến đối tượng
chung là đồng bào dân tộc thiểu số. Khác với nội dung công tác dân tộc của các cơ
quan khác trong hệ thống chính trị, công tác quản lý nhà nước về dân tộc tập trung vào
việc chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, triển khai các chương
trình, dự án. Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc nói chung, tộc người Cơtu nói
riêng được quy định tại Nghị định định số 05/2012/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm
2011 của Chính phủ, bao gồm:
Thứ nhất, ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu
quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc;
14


Thứ hai, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây
dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương

trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó
khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành
phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng
chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các
dân tộc thiểu số;
Thứ ba, kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương
đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc;
Thứ tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân
tộc thiểu số;
Thứ năm, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính
sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công
tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết
khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật;
Thứ sáu, tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ
động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các
dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương
trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa
giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo,
giải quyết khó khăn trong cuộc sống;
Thứ bảy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc
thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân
tộc;
Thứ tám, xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc;
Thứ chín, thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội vùng dân tộc thiểu số;
Thứ mười, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc,
chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác
15



dân tộc;
Mười một, hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá
nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công
tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công
tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật.
1.3. Phương thức quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển văn hóa tộc
người Cơtu
Phương thức quản lý là tổng thể những cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng
để tác động có định hướng vào đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định.
Phương thức quản lý là nội dung cơ bản của quản lý, các phương thức có tác dụng
quyết định đến sự thành công của quá trình quản lý.
Vùng dân tộc thiểu số ở nước ta có những đặc điểm riêng về sinh hoạt xã hội
truyền thống của từng dân tộc, các dân tộc lại cư trú xen kẻ với nhau, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội giữa các dân tộc rất chênh lệch nhau. Vì vậy, việc quản lý vùng
dân tộc không thể cứng nhắc rập khuôn, máy móc, áp đặt mà phải tuỳ theo đặc điểm
và tình hình thực tế của từng dân tộc, đặc biệt là với dân tộc Cơtu mà áp dụng những
phương thức quản lý cho thích hợp.
Quản lý Nhà nước về dân tộc mà đặc biệt là về bảo tồn và phát triển văn hóa
tộc người Cơtu phải cần các phương thức cơ bản sau: Quản lý bằng pháp luật; quản lý
bằng chính sách, chương trình; quản lý bằng tổ chức bộ máy; quản lý bằng đầu tư tài
chính; quản lý bằng thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá.
Quản lý bằng pháp luật: Nội dung cơ bản của phương thức quản lý bằng pháp
luật đó là: Luật pháp phải thực sự là công cụ cơ bản của quản lý Nhà nước về các vấn
đề dân tộc mà đặc biệt là đối với tộc người Cơtu, thông qua việc ban hành các văn bản
pháp quy đối với miền núi và đồng bào tộc người Cơtu để thực hiện đường lối của
Đảng ta trong vấn đề dân tộc, từng bước đưa đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số
nói chung, tộc người Cơtu nói riêng, đồng bào sinh sống ở miền núi, vùng sâu,vùng xa
ngày càng tốt hơn, hòa chung cùng sự phát triển của đông đảo, đa số.

Việc ban hành các văn bản pháp luật trước hết phải trên cơ sở lý luận của chủ
16


nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải xuất phát từ thực tiễn đời sống quốc
tế về dân tộc. Những đặc điểm, xu hướng vận động của các dân tộc Việt Nam không
thể tách khỏi những đặc điểm, xu hướng vận động chung của cộng đồng Quốc Tế. Sau
đó, từ thực tiễn trong nước, cần có những văn bản pháp luật cụ thể để quản lý Nhà
nước đối với vấn đề dân tộc, mà cụ thể là đối với tộc người Cơtu, trong phạm vi luận
văn này tập trung một số vấn đề sau:
- Có những văn bản pháp quy cho từng lĩnh vực của đời sống xã hội đồng bào
các dân tộc thiểu số, trong đó có tộc người Cơtu.
- Xây dựng các văn bản pháp quy cho từng dân tộc mà đặc biệt là dân tộc Cơtu
hoặc từng vùng có các dân tộc sống tập trung theo lãnh thổ.
Hiện nay, chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp và Ủy ban Dân tộc phối hợp đưa
chương trình giáo dục pháp luật đến các vùng dân tộc thiểu số, làm cho đồng bào các
dân tộc biết được, hiểu được các chính sách pháp luật. Trên cơ sở đó Nhà nước tiến
hành chủ trương “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, thay thế dần với
cách sống kiểu xã hội truyền thống trong một số vùng đồng bào.
Quản lý bằng tổ chức bộ máy: Cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương được
giao nhiệm vụ quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc trong phạm vi cả nước
là Ủy ban Dân tộc. Đối với các địa phương mà có đủ số lượng người dân tộc thiểu số
theo quy định của pháp luật thì được phép thành lập cơ quan quản lý hành chính Nhà
nước ở địa phương làm công tác dân tộc.
Cơ quan làm công tác quản lý dân tộc ở Trung ương: Hiện nay theo quy định
tại Nghị định 13/2017/NĐ-CP ngày 10/02/2017 của Chính phủ quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Dân tộc thì Uỷ ban Dân tộc là cơ
quan ngang Bộ của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác dân
tộc trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý
của Ủy ban Dân tộc theo quy định của pháp luật.

Cơ quan làm công tác quản lý Nhà nước về dân tộc ở địa phương: Theo quy
định tại Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/2/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ
chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân các cấp thì Ủy ban nhân dân
các cấp căn cứ vào quy định của chính phủ quyết định về tổ chức bộ máy của cơ quan
17


quản lý Nhà nước làm công tác dân tộc tại các địa phương.
- Mô hình tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh: Thành lập Ban dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện chức năng quản lý Nhà nươc về lĩnh vực công tác dân tộc, có con dấu và tài
khoản riêng khi có ít nhất một trong ba tiêu chí sau:
+ Có trên 20.000 (hai mươi nghìn) người dân tộc thiểu số sống tập trung thành
cộng đồng làng, bản;
+ Có dưới 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập
trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;
+ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc
phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta
và các nước láng giềng thường xuyên qua lại.
Ðối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng
các tiêu chí như trên thì lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí cán bộ, công chức) làm công
tác dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Phòng Dân tộc (hoặc cán bộ,
công chức) làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho
hoạt động của Phòng Dân tộc.
- Mô hình tổ chức của cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện: Thành lập Phòng Dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khi có 1 trong 2
tiêu chí sau:
+ Có ít nhất 5.000 (năm nghìn) người dân tộc thiểu số đang cần nhà nước tập
trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển;

+ Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh quốc
phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh
sống và thường xuyên qua lại với nước láng giềng.
Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ
các tiêu chí nêu trên thì tổ chức các công tác dân tộc thực hiện theo mô hình sau:
+ Thành lập phòng quản lý Nhà nước đa ngành đa lĩnh vực trong đó công tác
dân tộc và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều tới công tác dân tộc trực
18


thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện nhưng phải đảm bảo số phòng ở cấp huyện theo quy
định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 của Chính phủ quy định tổ
chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh.
+ Bố trí cán bộ chuyên trách công tác dân tộc trong văn phòng Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác hiện có của Ủy ban nhân dân
cấp huyện.
- Mô hình tổ chức của cơ quan làm công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp
xã: Đối với các xã có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn không thành lập
tổ chức riêng, nhưng phân công một ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo
dõi, tổ chức thực hiện công tác dân tộc.
Quản lý bằng đầu tư tài chính: Trong quản lý Nhà nước tài chính là một nội
dung mà Nhà nước cần phải quản lý, ngược lại Nhà nước cũng phải sử dụng tài chính
làm công cụ để quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Trong chính sách, chương trình, dự án bao hàm nội dung của Nhà nước đã sử
dụng tài chính cho sự phát triển của miền núi và đồng bào các dân tộc. Ngoài ra sự
quan tâm của chính phủ đối với miền núi và các dân tộc còn thể hiện ở việc đầu tư cho
xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư cho phát triển văn hoá , giáo dục, y tế, bảo vệ môi
trường... ở vùng miền núi, vùng sâu vùng xa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Tài chính vừa là nguồn lực đồng thời cũng là công cụ của quản lý Nhà nước. Vì

vậy Nhà nước cần phải có chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực, công cụ này.
Quản lý bằng thanh tra, kiểm tra và tổng kết đánh giá: Kiểm soát đối với hành
chính Nhà nước bao gồm các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra. Tất cảc các hoạt
động này là để đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý Nhà nước.
Với quan điểm dân chủ hoá, công khai hoá trong hoạt động quản lý Nhà nước,
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 của Chính
phủ về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; Luật Thanh tra 2010 và một số văn
bản pháp luật khác quy định nhân dân có thể trược tiếp hoặc thông qua các tổ chức xã
hội, Ban thanh tra nhân dân để tiến hành giám sát và đánh giá về hoạt động của các cơ
Nhà nước tại địa phương trong một số lĩnh vực cụ thể như: Xây dựng cơ bản, quản lý
19


đất đai, tài chính...
Trong công tác quản lý đối với lĩnh vực dân tộc thiểu số cũng phải sử dụng các
công cụ này. Bởi vì thực tế quá trình đầu tư cho việc phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở
vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đã xảy ra hiện tượng tham nhũng, lãng phí tài sản
của Nhà nước, nhân dân. Vì vậy, việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát,
đánh giá là hết sức cần thiết.
Kết quả của thanh tra , kiểm tra, giám sát và đặc biệt là đánh giá một chương
trình, dự án, chính sách dân tộc của Nhà nước một cách định kỳ và liên tục đã nâng
cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý Nhà nước đối với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế
- xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Như vậy, để quản lý Nhà nước đối với vấn đề dân tộc chúng ta có nhiều phương
thức, công cụ khác nhau mà điều quan trọng là Nhà nước phải biết sử dụng linh hoạt
từng phương thức, công cụ tùy theo điều kiện cụ thể từ thực tế, không cứng nhắc, rập
khuôn, khi cần có thể sử dụng tổng hợp những phương thức trên để đạt hiệu quả tốt nhất
trong quản lý Nhà nước nói chung và quản lý Nhà nước về dân tộc nói riêng.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển
văn hóa tộc người Cơtu

1.4.1. Yếu tố pháp luật
Vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
chính là thông qua pháp luật đường lối, chủ trương của Đảng về văn hóa được nghiêm
túc thực hiện trong toàn xã hội; đồng thời pháp luật xác lập cơ sở pháp lý cho các chủ
thể tham gia giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và chống lại những hành vi vi phạm
pháp luật về vấn đề trên nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Có thể khái quát vai trò của pháp luật trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc trên những phương diện sau:
Thứ nhất, pháp luật thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và làm cho chủ trương, đường lối trở thành ý
chí và mục tiêu của toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan quản lý nhà
20


nước, tổ chức và cá nhân giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa.
Thứ ba, pháp luật là công cụ hữu hiệu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống.
Thứ tư, pháp luật có vai trò giáo dục ý thức con người trong việc giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hóa truyền thống.
1.4.2. Bộ máy quản lý và nguồn nhân lực
Bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu
tổ chức quyền lực nhà nước, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan
hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau được bố trí thành cấp và khâu để thực hiện chức
năng nhất định của quản lý nhà nước về kinh tế nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Qua
đây, có thể thấy bộ máy quản lý có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động quản lý
nhà nước về văn hóa.
Thứ nhất, bộ máy quản lý quyết định “tính hiệu quả” của hoạt động quản lý nhà
nước về văn hóa. Nếu xây dựng được một bộ máy phù hợp thì công tác quản lý sẽ

thuận lợi, tiết kiệm được kinh phí, thời gian mà vẫn đảm bảo nhiệm vụ đề ra.
Thứ hai, bộ máy quản lý tác động mạnh đến cách thức, phương pháp quản lý.
Bởi lẽ, cách bố trí chức danh, số lượng, phạm vi… của bộ máy từ Trung ương đến địa
phương hoặc tại một khu vực nhất định sẽ ảnh hưởng đến cách thức quản lý áp dụng
trên thực tế đối với khu vực hành chính đó. Chẳng hạn, nếu tại một khu vực nhất định số
lượng cán bộ quản lý nhiều thì công tác quản lý sẽ tiến hành bằng cách trực tiếp, thường
xuyên, đi sâu vào thực tiễn từng hộ gia đình, từng di tích, từng điểm kinh doanh dịch vụ
văn hóa… Còn nếu không đủ người thì cơ quan nhà nước sẽ chọn những phương thức
khác phù hợp như thông qua tuyên truyền, phương tiện truyền thông, tin báo…
Thứ ba, bộ máy quản lý tạo động lực để phát triển nền văn hóa của một quốc
gia. Cho dù các yếu tố khác trong công tác quản lý nhà nước về văn hóa có tốt đến
mấy nhưng nếu không xây dựng được một bộ máy khoa học, hoàn thiện, đáp ứng
được những yêu cầu của thực tiễn thì công tác quản lý sẽ trở nên lủng củng, từ đó
không thể phát triển văn hóa. Một bộ máy quản lý tốt sẽ giúp cho những người đứng
đầu lãnh đạo điều hành công tác văn hóa một cách bài bản và phát triển vững chắc,
tăng tiến.
21


×