Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

Thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ thực tiễn tỉnh bình dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 116 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC DIỆP

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN NGỌC DIỆP

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834 0402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG


HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Diệp


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng
góp ý kiến và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Chiến Thắng, giảng viên
khoa Chính sách công, Học viện khoa học xã hội, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo em trong suốt quá trình làm luận văn.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Học viện khoa học xã
hội nói chung, các thầy cô trong khoa Chính sách công nói riêng đã truyền đạt nhiều
kiến thức bổ ích, giúp em có được cơ sở lý thuyết vững vàng và tạo điều kiện giúp
đỡ em trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn tạo điều
kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
luận văn thạc sĩ này.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 3 năm 2018
Tác giả luận văn


Nguyễn Ngọc Diệp


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT
VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ......................................................... 8
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ..............................................................................8
1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .......................................15
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài .......................................................................................................................31
1.4. Các nhân tố cơ bản thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ..........................34
1.5. Kinh nghiệm một số tỉnh về thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ..............................................................................................................38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC
TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG ......................... 42
2.1. Tổng quan về hệ thống chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Bình Dương .................................................................................42
2.2. Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .....................46
2.3. Các nhân tố cơ bản thu hút vốn trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Dương ..49
2.4. Phân tích SWOT thu hút vốn trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Dương ......53
2.5. Đánh giá tổng quát về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
tỉnh Bình Dương trong thời gian qua .....................................................................56
2.6. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế .............................................................61
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH
DƢƠNG .................................................................................................................... 64
3.1. Phương hướng thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại tỉnh Bình Dương................................................................................................64

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại tỉnh Bình Dương......................................................................................66


3.3. Các kiến nghị để hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài .......................................................................................................................72
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN

: Association of South-East Asian Nation
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

APEC

: Asia – Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương

ASEM

: The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á–Âu

AFTA


: ASEAN’S Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN

EU

: European Union
Liên hiệp Châu Âu

FDI

: Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP

: Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội

MNCS

: Multinational corporations
Các công ty đa quốc gia

NAFTA

: North America Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ

TNCs


: Trans National Corporations
Công ty xuyên quốc gia

WTO

: World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới

KTTĐPN

: Kinh tế trọng điểm phía Nam

KCN

: Khu công nghiệp


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 và những năm tiếp
theo, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính Phủ đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
đạt 6.5-7% hàng năm và phấn đấu GDP bình quân đầu người lên 20003000USD/người/năm. Để thực hiện mục tiêu đó thì yêu cầu về vốn là một trong
những thử thách lớn nhất và khó giải quyết nhất đối với nền kinh tế của Việt Nam.
Theo tính toán sơ bộ, để uy trì tốc độ tăng trưởng GDP 6.5-7%/năm như mục tiêu
của đề ra, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 Việt Nam cần đầu tư khoảng 95-100
tỷ USD. So với năng lực tiết kiệm nội địa hiện tại cả đất nước thì con số này thực sự
khổng lồ; vì vậy chúng ta cần phải tính đến khả năng huy động các nguồn vốn từ
bên ngoài.
Về nguyên tắc muốn tích lũy chúng ta cần tăng cường sản xuất và thực hành
tiết kiệm, thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một cách tạo vốn tích lũy nhanh mà các

nước đi sau có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí và vai trò ngày càng to
lớn, nó đã và đang trở thành xu hướng của thời đại. Đối với quá trình phát triển kinh
tế của Việt Nam, từ một điểm xuất phát thấp, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò
hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, một kênh để chuyển giao
công nghệ, giải pháp để tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu
cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã được Đảng
và Nhà nước ta coi là một chủ trương quan trọng nhằm góp phần khai thác các
nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước. Để tăng cường
hoạt động thu hút FDI vào nước ta Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
chỉ rõ nhiệm vụ của nhà nước ta trong thời gian tới là: “Tạo điều kiện kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ

1


tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại tạo nhiều việc làm. Cải thiện
môi trường kinh tế pháp lý để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.”
Nhận thức đúng vị trí và vai trò to lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính
phủ Việt Nam đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các nhà đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam. Phương châm của chúng ta là đa dạng hóa và đa phương hóa hợp tác đầu
tư với nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau. Chính Phủ
Việt Nam coi vấn đề và sử dụng hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể
chiến lược phát triển và tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay là một trong những
nhiệm vụ chiến lược trọng yếu nhất. Trong một phạm vi nhất định, có thể nói rằng
việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục và bền vững mà Việt
Nam đang theo đuổi, tại thời điểm xuất phát thấp hiện tại, phụ thuộc rất nhiều vào

việc giải quyết nhiệm vụ nói trên.
Xuất phát từ vùng kinh tế, chính trị quan trọng của khu vực này, để đạt được
thế mạnh trên, ngoài lợi thế về vị trí địa lý tỉnh Bình Dương phải có những chính
sách và biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư làm tăng tính hấp dẫn thu hút
nhà đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận rất quan trọng
được đánh giá là chiếc “chìa khóa vàng ”. Là một đòn bẫy thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế địa phương, kinh tế của vùng và góp phần đưa đất nước hội nhập sâu với thế
giới. Địa phương tiếp nhận nguồn vốn đầu tư không những được cung cấp về vốn
mà còn được tiếp cận về khoa học công nghệ hiện đại cũng như những kinh nghiệm
quản lý tiên tiến. Vì vậy việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư đã trở
thành vấn đề quan trọng với nhiều địa phương và nhiều nước trên thế giới đặc biệt
là những nước đang phát triển. Sự đóng góp của FDI là nguồn vốn quan trọng bổ
sung cho đầu tư phát triển, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, khai thác
nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nước. Tạo điều kiện thực hiện tốt chiến
lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Vì vậy việc xây dựng, ban hành
chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương là
rất quan trọng mang tầm chiến lược trong phát triển kinh tế.

2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về FDI như là:
Nguyễn Chiến Thắng, 2014 (Chủ nhiệm đề tài). “Thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong bối cảnh phân cấp”. Đề tài NCKH cấp Bộ. Nhóm tác giả đã đề
cập việc phân cấp cũng tạo ra những bất cập cho tình hình thu hút FDI và đề xuất
các giải pháp chính sách nhằm tiếp tục tăng cường thu hút FDI và đồng thời hạn chế
những bất cập liên quan đến việc thu hút FDI trong thời gian qua.
Ngô Thị Hải Xuân, 2011 (Chủ nhiệm đề tài). “Những giải pháp chiến lược
khắc phục tình trạng mất cân đối trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại

Việt Nam”. Đề tài NCKH cấp Bộ. Nhóm tác giả đã đề cập những hạn chế và mất
cân đối trong hoạt động FDI ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp khắc phục.
Hoàng Thị Bích Loan, 2008, “Thu hút đầu tƣ trực tiếp của các công ty
xuyên quốc gia vào Việt Nam”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Tác giả cho
chúng ta thấy toàn cảnh bức tranh của các công ty xuyên quốc gia trong dòng lưu
chuyển vốn FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của các của các công ty xuyên
quốc gia và thực trạng đầu tư trực tiếp của của các công ty xuyên quốc gia vào Việt
Nam.
Nguyễn Xuân Trung, 2012,” Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Luận án Tiến sĩ
Khoa học. Thông qua việc phân tích một số vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam liên quan đến: cân đối vĩ mô, bảo vệ môi trường và chuyển giao công
nghệ; sự tác động lan tỏa, liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh
nghiệp trong nước… Tác giả đã làm sáng tỏ một số mặt tích cực và tiêu cực của đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút
và sử dụng FDI ở Việt Nam.
Bùi Huy Nhượng, năm 2005 “Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai
thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ.
Tác giả tập trung phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam. Tìm những nguyên nhân về phía nhà nước đang cản trở

3


hoạt động triển khai dự án FDI tại Việt Nam. Đề xuất biệp pháp tháo gỡ khó khăn
vướng mắc, nhằm thúc đẩy việc triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam.
Trần Văn Lợi, năm 2008 “Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020”,
luận án tiến sĩ.
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những tác động của hoạt động FDI đối với

sự phát triển kinh tế- xã hội vùng KTTĐPN, bao gồm: tác động đến tăng trưởng GDP;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa; đến trình độ kỹ thuật và
công nghệ; đến cân đối tài chính; đến phát tiển xã hội và tính hấp dẫn của môi trường
đầu tư của vùng KTTĐPN. Nhằm đưa ra các giải pháp tăng cường phát huy những tác
động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội vùng KTTĐPN từ nay đến năm 2020.
Nguyễn Văn Hiệp, năm 2007 “Những chuyển biến kinh tế- xã hội của tỉnh
Bình Dương từ năm 1945-2005”, luận án tiến sĩ.
Đề tài này nghiên cứu những chuyển biến về cơ cấu kinh tế, sự phát triển
của các ngành kinh tế, sự chuyển dịch của các thành phần kinh tế, đời sống xã hội
tại Bình Dương giai đoạn 1945-2005. Qua đó, phân tích và tìm ra những nguyên
nhân chủ yếu tạo nên sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội của tỉnh; đồng thời, tìm
ra những tồn tại, những hạn chế cần nhanh chóng khắc phục để tiếp tục phát triển kinh tế
- xã hội tỉnh Bình Dương một cách toàn diện và bền vững hơn.
Ngoài ra một số công trình nghiên cứu khoa học khác được tác giả nghiên cứu
và kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn, được liệt kê trong phần mục tham
khảo.
Các công trình nghiên cứu về FDI ở trên đã nêu những vấn đề thu hút và sử
dụng vốn FDI ở Việt Nam, địa phương như thế nào, nhưng chưa có luận văn, luận
án nào nghiên cứu kĩ sự tác động của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại tỉnh Bình Dương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu

4


Đánh giá tác động của chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
tỉnh Bình Dương. Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thu hút, thúc đẩy sự phát
triển một cách có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài vào tỉnh Bình Dương trong thời

gian tới.
-Nhiệm vụ của luận văn
+ Hệ thống hóa các quan điểm, lý luận cơ bản về chính sách thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
+ Phân tích đánh giá một cách khoa học thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua.
+ Xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực để hoàn thiện chính sách thu hút
FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Bình Dương.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005-2016 định hướng chung cho Chính sách
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho những năm tiếp theo (2020).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành,
liên ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính
sách công từ lý luận đến thực tiễn và phân tích đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả thực hiện chính sách.
Các quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định
đến xây dựng, thực hiện và đánh giá có sự tham gia của các chủ thể chính
sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách

5


công giúp hình thành lý luận về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài.
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp nghiên cứu
định lượng và nghiên cứu định tính.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, thống kê và so sách
được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên
quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định,
Chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành ở Trung ương và địa phương; các công
trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của sở, ban, ngành, đoàn thể, tổ
chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện chính sách thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng kết
hợp phương pháp định tính truyền thống để phân tích các vấn đề và nội dung mang
tính lý thuyết và phướng pháp định lượng để nghiên cứu thực nghiệm. Phương
pháp nghiên cứu cơ bản và xuyên suốt quá trình nghiên cứu là phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử. Dựa trên số liệu thống kê quá khứ về FDI, chính
sách FDI và các vấn đề nảy sinh liên quan đến FDI để làm cơ sở phân tích và nhận
xét. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê so sánh và phân tích tổng
hợp để phân tích thực trạng FDI và tổng kết kinh nghiệm các địa phương trong việc
thu hút FDI và giải quyết các vấn đề liên quan.
6. Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đánh giá, nghiên cứu góp phần vào việc nâng cao hiệu quả việc xây
dựng và thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ học tập, giảng dạy và
vận dụng vào công tác xây dựng, thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư FDI.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội
dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài.


6


Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thu hút vốn

đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương.

7


Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1.1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực
vốn lớn hơn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Trên bình diện doanh nghiệp, đầu tư
là việc di chuyển vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lại một khoản
tiền lớn hơn.
Theo Điều 3 Luật Đầu tư được Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ngày 12.12.2015 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực
hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng
hoặc thực hiện dự án đầu tư.”
Hoạt động đầu tư được phân loại theo những tiêu chí khác nhau tùy theo mục
đích của việc phân loại đầu tư:

+ Phân loại đầu tư theo tính chất của đầu tư có: hoạt động đầu tư có phát triển;
hoạt động đầu tư chuyển dịch mà không làm thay đổi giá trị của nó.
+ Phân loại theo hình thức sở hữu vốn có: đầu tư của nhà nước, đầu tư của tư
nhân, đầu tư của các tổ chức tài chính.
+ Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư có: đầu tư trực tiếp và đầu tư
gián tiếp.
1.1.1.2. Khái niệm về đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài (đầu tư quốc tế) là một hình thức của đầu tư, đó là xuất
khẩu tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh, một hình thức quan hệ kinh tế,
qua đó tư bản của nước này di chuyển sang nước khác nhằm mục đích trực tiếp kinh
doanh thulợi nhuận. Ngoài ra còn có các hình thức viện trợ, cho vay, viện trợ không
hoàn lại, không nhằm mục đích kinh doanh.

8


Đầu tư quốc tế chủ yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ
không hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi hoặc lãi nhẹ, đầu tư có tính chất công
như là: đầu tư của chính phủ, đầu tư của các tổ chức Quốc tế,các tổ chức phi chính
phủ, các tổ chức quốc gia, quốc tế, các tổ chức Phi chính phủ, đầu tư có tính chất tư
là đầu tư của các tổ chức tư và tư nhân, đầu tư hỗn hợp có cả tính chất công và tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quan điểm vĩ mô là chủ đầu tư trực tiếp đưa
vốn và kĩ thuật vào nước nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, trên
cơ sở thuê, mướn, khai thác các yếu tố cơ bản ở nước sở tại như là tài nguyên sức
lao động, cơ sở vật chất.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quan điểm vi mô là chủ đầu tư đóng góp một
số vốn lớn đủ để họ trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ
vốn.
Đầu tư trực tiếp khác với đầu tư gián tiếp và cho vay tín dụng. Đầu tư trực tiếp
là hình thức mà nước chủ nhà nhận vốn từ nước ngoài vào dưới hình thức vay vốn

hoặc nhận viện trợ của một số tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước sở tại tự
sản xuất, kinh doanh, tự tìm nguồn thị trường tiêu thụ và sau một thời gian hoàn trả
cả gốc lẫn lãi dưới hình thức tiền tệ hay hàng hóa. Còn hình thức vay tín dụng thì
chủ đầu tưnước cho vay nợ) người nhận đầu tư (nước vay nợ) vay vốn trong một
thời gian nào đó và hưởng lợi nhuận qua lãi suất cho vay do hai bên thỏa thuận. Cả
hai hình thức này, khác với đầu tư trực tiếp ở chỗ là không có sự tham gia quản lý,
điều hành trực tiếp của chủ đầu tư đối với đồng vốn của mình.
Vậy khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI: Là loại hình đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ
các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần
cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài gồm công ty liên doanh, doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.

9


Công ty liên doanh (Join Venture Company) là doanh nghiệp do hai bên hoặc
nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp
định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ
nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp
tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà
đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư
nước ngoài dầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Loại hình này thường đầu tư vào khu
chế xuất hặc khu công nghiệp, thời hạn hoạt động kéo dài khoảng 50 đến 70 năm.
1.1.2. Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Đối với nước chủ đầu tư
a. Các tác động tích cực

– Đầu tư trực tiếp nước ngoài đem lại lợi nhuận cao hơn ở trong nước. Đây là
vấn đề quan trọng hàng đầu đối với các nhà đầu tư. Việc đầu tư ra nước ngoài làm
cho yêu cầu tương đối về lao động ở trong nước giảm hay năng suất giảm. Ngược
lại, tổng lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao
động giảm và yếu tố tư bản tăng. Như vậy, thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài có
sự tái phân phối thu nhập quốc nội từ lao động thành tư bản.
– Đầu tư trực tiếp nước ngoài kích thích việc xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy
móc. Đặc biệt là khi đầu tư vào các nước đang phát triển có nền công nghiệp cơ khí
lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con ở nước ngoài máy
móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của nước đầu tư muốn
chiếm lĩnh thị trường thì đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động vào việc xuất khẩu
các linh kiện tương quan, các sản phẩm tương quan để tăng tổng kim ngạch xuất
khẩu.
– Đối với nhập khẩu, nếu các nước đầu tư đầu tư trực tiếp vào ngành khai thác
của nước chủ nhà, họ có được nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu ngang
nhau, họ có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác. Nếu sử dụng giá

10


lao động rẻ của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất
thành phẩm, họ có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu.
Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho
cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy
móc, nguyên vật liệu… cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem
ngoại tệ trở lại cho nước đầu tư. Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho
một dòng tư bản trung bình là từ 5 đến 10 năm.
b. Các tác động tiêu cực
– Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này
lại gây ra ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế. Nguyên nhân

là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên
và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến
một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ.
– Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư. Hãy xem
xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm
sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này
tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu
tư. Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho
việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình
càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê
mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn
đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà.
1.1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
a. Tác động tích cực
- FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư
phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế
khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng
và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh
hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi.

11


- FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu
tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước
đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả
năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của
mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn
mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.
- Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát

triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía
cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển khả
năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. Đây là
những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước
ngoài.
- Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện
chủ yếu bởi các TNC (công ty xuyên quốc gia), dưới các hình thức chuyển giao
trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh
của các TNC. Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các
TNC sang nước chủ nhà (nhất là các nước đang phát triển được thông qua các
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài
nắm phần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, sản phẩm
công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng, công nghệ
quản lý, công nghệ marketing.
Theo số liệu thống kê của trung tâm nghiên cứu TNC của Liên hợp quốc, các
TNC được cung cấp khoảng 95% trong số các hạng mục công nghệ mà các chi
nhánh của TNC ở các nước đang phát triển nhận được trong năm 1993. Cùng với
hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chi nhánh của các TNC
cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Trong giai đoạn 80-96 các
TNC được thực hiện khoảng 8254 hợp đồng chuyển giao công nghệ theo kênh này,
trong đó 100 TNC lớn nhất thế giới chiếm bình quân khoảng 35%. Bên cạnh việc
chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, các TNC còn góp phần làm tăng

12


năng lực ngiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà. Đến năm
1993 đã có 55% chi nhánh của các TNC lớn và 45% chi nhánh của các TNC vừa và
nhỏ thực hiện các hoạt động R&D ở các nước đang phát triển. Trong những năm
gần đây, xu hướng này còn tiếp tục tăng nhanh ở các nước đang phát triển châu á.

Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh
nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ
công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây
là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển
công nghệ ở các nước đang phát triển.
- FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Phát triển nguồn nhân
lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của
nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế
cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng
nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Số lao động trực tiếp làm việc trong
các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Ngoài ra,
các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm
nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử
dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ. Điều này không chỉ
mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp
giải phóng phụ nữ ở các nước này. FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển
nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục
đào tạo. Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ
hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản
lý tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện
nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn
hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt
hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển
sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh
nghiệp mới. Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ

13


và dinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y

tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm.
- FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Xuất khẩu là yếu tố
quan trọng của tăng trưởng. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của
yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả hơn trong phân công lao
động quốc tế. Các nước đang phát triển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có
thể cạnh tranh được nhưng vẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc
tế. Bởi thế, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc
biệt trong chính sách thu hút FDI của các nước này. Thông qua FDI các nước tiếp
nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDI đều
do các TNC thực hiện. ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đều đóng vai trò
quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín của chúng trong hệ
thống sản xuất và thương mại quốc tế. Đối với các TNC, xuất khẩu cũng đem lại
nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào rẻ, khai thác được hiệu
quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy mô thị trường của nước chủ
nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chi tiết sản phẩm ở những nơi có lợi thế
nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm.
- FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Yêu cầu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự phát triển nội tại nền kinh tế mà
còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ
hiện nay. FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngọi, thông qua
đó các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các
nước trên thế giới, đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với
sự phân công lao động quốc tế. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phù
hợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động FDI. Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnh vực và ngành nghề
kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ kỹ thuật và công nghệ ở
nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao động của các ngành này. Mặt khác,

14



dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng
có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ.
b. Tác động tiêu cực
– Về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu tư và
hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các
nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn.
– Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của
chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những năm gần đây, do sự phát triển
của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp. Thực
tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ
những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân
với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng
phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc
làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các nước đang phát triển.
– Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát
triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước
đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản
xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh. Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển
những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu
tư đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác
quá mức…
1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.2.1. Khái niệm
Trên phạm vi quốc tế cũng như trong khu vực, cuộc cạnh tranh thu hút FDI
đang diễn ra gay gắt do ngày càng nhiều quốc gia chuyển hướng theo kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế, mở cửa để buôn bán và đầu tư với thế giới. Do vậy,
Chính phủ các nước thường xuyên điều chỉnh các chính sách trực tiếp tác động và
chính sách có liên quan đến FDI nhằm phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia.


15


Trong thế giới hiện đại, lợi thế so sánh của một nước đã thay đổi. Tài nguyên
thiên nhiên vẫn là một lợi thế, nhưng không còn giữ vị trí trọng yếu như trong thời
kỳ công nghiệp thâm dụng tài nguyên là phổ biến. Yếu tố địa lý- chính trị giữ vai
trò quan trọng nhưng đã thay đổi nhiều do tiến bộ trong công nghệ thông tin, giao
thông, vận tải và viễn thông. Ngày nay, ổn định chính trị và an ninh kinh tế, an toàn
xã hội trở thành lợi thế nổi trội trong một thế giới đầy biến động cùng với sự xuất
hiện ngày càng nhiều của các tổ chức khủng bố quốc tế. Chi phí lao động vẫn là một
yếu tố được nhiều nhà đầu tư coi trọng, nhất là trong lĩnh vực và ngành nghề sử
dụng nhiều lao động, tuy nhiên, năng suất lao động mới là yếu tố hàng đầu, gắn với
trình độ lành nghề, năng lực tiếp cận công nghệ hiện đại, đội ngũ lao động có cơ cấu
hợp lý, được đào tạo tốt đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng lao động của
doanh nghiệp.
Chính sách FDI có thể chia làm ba loại: Chính sách thu hút FDI, chính sách
nâng cấp FDI và chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa các tập đoàn xuyên
quốc gia (TNC) với doanh nghiệp trong nước.
Chính sách thu hút FDI được hình thành bằng các ưu đãi về thuế, đất đai, cơ
chế thuận lợi trong việc chu chuyển vốn, xuất nhập khẩu, kinh doanh trên thị trường
trong nước và các bảo đảm bằng luật pháp quyền sở hữu vốn và tài sản, sở hữu trí
tuệ của nhà đầu tư.
Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các định hướng ưu tiên thu hút
FDI như dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, xây dựng khu kinh tế đặc biệt với
những ưu đãi cao hơn so với các dự án FDI thông thường. Trong một số trường
hợp, có nước còn áp dụng hình thức trợ cấp của Chính phủ cho nhà đầu tư để họ
thực hiện dự án có quy mô lớn, tác động lan tỏa rộng, thuộc danh mục ưu tiên cao
nhất.
Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa TNC quốc tế với doanh nghiệp

trong nước được hình thành như là một phần trong chính sách công nghiệp, dịch vụ
của từng quốc gia, nhằm làm cho các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ
FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác và phân công về công nghệ và thị trường tiêu thụ

16


với các TNC. Chính sách này cũng khuyến khích TNC quốc tế hợp tác với các cơ
sở đào tạo (nhất là bậc đại học và dạy nghề trình độ cao), tổ chức nghiên cứu khoa
học trong nước để nâng cao hơn nữa trình độ và năng lực của các cơ sở, tổ chức đó.
1.2.2. Nội dung chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên thực tế, từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay, Việt
Nam đã và đang theo đuổi cả ba loại chính sách trên. Tuy nhiên, tính nhất quán và
ổn định trong các chính sách vẫn chưa được bảo đảm, nhất là các luật thuế và hải
quan, đôi khi được điều chỉnh không đồng bộ với các chính sách có liên quan đến
thu hút FDI.
Các nghiên cứu của thế giới đã cảnh báo về tình trạng “cuộc chiến chào
mời, khuyến khích đầu tư” có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến phúc lợi xã
hội của nước nhận đầu tư. Trong trường hợp Chính phủ ban hành quy định ưu đãi
mới có tác động gia tăng cả số lượng và chất lượng FDI, bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội của FDI thì tổng ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội là dương. Ngược lại, khi các
ưu đãi mới làm giảm hiệu quả của FDI thì tổng ảnh hưởng là âm.
Trong khung khổ chương trình nghiên cứu của OECD về quản lý tài chính và
doanh nghiệp toàn cầu, khu vực và quốc gia năm 2003, Andrew Charlton đã đưa ra
bốn khả năng có liên quan đến chính sách FDI: (i) “Câu trộm đầu tư” xảy ra khi các
khuyến khích FDI nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế trong nước, nhưng lại tác
động tiêu cực đến hiệu quả quốc tế; (ii) Cạnh tranh lành mạnh khi các khuyến khích
FDI vừa cải thiện luồng vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế trong nước, vừa tạo
ra hiệu quả quốc tế; (iii) “Ăn mày của hàng xóm” là kết quả tồi tệ nhất của các
khuyến khích FDI, có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế trong nước và hiệu quả
quốc tế; (iv) “Nỗi khổ của người chiến thắng” xảy ra khi các khuyến khích đầu tư

vượt quá mức độ cần thiết, có thể đưa đến hiệu quả quốc tế nhưng nước nhận đầu tư
chịu thua lỗ do ưu đãi quá mức cần thiết cho nhà đầu tư.
Việc theo đuổi chính sách khuyến khích FDI đồng thời coi trọng chất lượng
FDI là hai mặt có quan hệ hữu cơ trong chính sách của Việt Nam. Thời kỳ đầu mở
cửa, để thu hút vốn đầu tư quốc tế trong điều kiện trình độ phát triển của nước ta

17


còn thấp, chính sách ưu đãi FDI chủ yếu dành cho các dự án thâm dụng lao động dù
quy mô nhỏ, chỉ từ vài triệu đến chục triệu USD. Từ đầu thế kỷ XXI, Chính phủ đã
điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng gắn với quá trình tái cấu trúc nền
kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới đã được Đại hội lần thứ IX của Đảng (năm
2001) đề ra. Đó là cùng với việc tiếp tục khuyến khích các dự án thâm dụng lao
động thì coi trọng hơn các dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, đầu tư vào khu
kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao. Năm 2007, tổng kết 20 năm thực hiện
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Chính phủ đã điều chỉnh theo hướng nâng
cấp chính sách FDI, coi trọng hơn chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Năm 2013, tổng kết 25 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
Chính phủ đã điều chỉnh theo hướng nâng cấp chính sách FDI, coi trọng hơn chất
lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, trong suốt thập niên đầu của thiên niên kỷ mới, việc chuyển đổi cơ
cấu kinh tế vẫn diễn ra chậm chạp, cơ cấu đầu tư của FDI cũng trong tình trạng đó,
các ưu tiên đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, dịch vụ
chất lượng cao, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và phát triển không đạt được như
kỳ vọng. Do vậy, làm giảm tác động của FDI đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế.
Từ năm 2006, Chính phủ phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố quyền hạn
lớn hơn đối với FDI, bên cạnh mặt tích cực là có nhiều sáng kiến trong thu hút FDI,
đã xảy ra tình trạng “xé rào trong ưu đãi đầu tư” mà các nhà kinh tế thế giới gọi là

“cuộc chiến chào mời, khuyến khích đầu tư” gây tác động tiêu cực đến phúc lợi xã
hội của dân cư do những ưu đãi không cần thiết, chỉ nhằm mục đích để cạnh tranh
với địa phương lân cận.
Trong 5 năm (2011 - 2015), việc điều chỉnh chính sách FDI gắn với cải cách
thủ tục hành chính đã làm cho hoạt động FDI khởi sắc, đặc biệt là từ 2013 đến nay,
nhiều nhà đầu tư tiềm năng đang thực hiện những dự án công nghệ cao với quy mô
vốn hàng tỷ USD như Samsung, LG, Microsoft - Nokia, Intel… đã giúp Việt Nam
dần trở thành địa điểm sản xuất hàng điện tử của thế giới.

18


×