Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Bảo đảm pháp lý tố tụng hình sự đối với việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.76 MB, 99 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Vương Sơn Hà

BẢO ĐẢM PHÁP LÝ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .........................................................................................5
1.1. Khái quát chung về bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự ..............5
1.2. Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự .........................................................................................................15
1.3. Những Nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự .......................................................................16
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO
CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH TÂY NINH .................................................24
2.1. Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự ...........................................................................................24


2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật để thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét
xử vụ án hình sự ở Tây Ninh ................................................................................49
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VIỆC

THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................................................................................66
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự ...........................................................................................66
3.2. Giải pháp hoàn thiện bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ................................................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

HĐXX


: Hội đồng xét xử

NBC

: Người bào chữa

TA

: Tòa án

TAND

: Tòa án nhân dân

THTT

: Tiến hành tố tụng

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

TTHS

: Tố tụng hình sự

VAHS

: Vụ án hình sự


VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số liệu VAHS sơ thẩm có NBC tham gia ở tỉnh Tây Ninh từ năm
2013 – năm 2017: ..............................................................................................52
Bảng 2.2. Số liệu VAHS sự sơ thẩm có NBC tham gia ở huyện Tân Châu, tỉnh
Tây Ninh từ năm 2013 – năm 2017: ..................................................................53


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay,
Việt Nam rất coi trọng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm hướng đến điều
chỉnh tốt hơn các quan hệ xã hội và bảo vệ tốt hơn quyền con người. Cụ thể hóa
cho chủ trương này, Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định:“Ở nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến
pháp và pháp luật”. Việc bảo vệ quyền con người đòi hỏi phải được pháp luật quy
định cụ thể trên mọi lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vực mà quyền con người có nguy

cơ bị xâm phạm nhiều nhất là trong TTHS. Vì vậy, Điều 103 của Hiến pháp 2013
còn ghi nhận:“Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp
của đương sự được bảo đảm”.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 2013, Điều 16 BLTTHS 2015 ghi nhận:
“Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa;
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải
thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền
bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này”. Mục
đích của quy định này nhằm bảo vệ đầy đủ các quyền và các lợi ích hợp pháp của bị
cáo trong TTHS và đảm bảo nguyên tắc: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản
án kết tội của Tòa án”. Đây cũng là nội dung liên quan đến chủ trương và chiến
lược của Đảng ta thể hiện trong Nghị quyết số: 08/NQ-TW ngày 02/01/20012, Nghị
quyết số: 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020; theo đó, thực hiện chủ trương và triển khai các nhiệm vụ cải
cách tư pháp mà một trong các nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp đến năm
2020 được xác định là phải đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn
vị trí, quyền hạn và trách nhiệm của người THTT, người tham gia tố tụng theo
hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất lượng tranh
tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp.
1


Pháp luật TTHS quy định khá chặt chẽ và tương đối đầy đủ quyền bào chữa
của người bị buộc tội, nhưng trên thực tế trong thời gian qua trong cả nước nói
chung, địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng, việc thực hiện quyền bào chữa còn nhiều
khó khăn, hạn chế, chưa được CQTHTT thật sự tôn trọng và bảo đảm thực hiện; đặc
biệt là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS - giai đoạn mà quyền và lợi ích hợp
pháp của bị cáo có nguy cơ bị xâm hại nhiều nhất. Nhằm loại trừ, giảm bớt những
bất cập, khó khăn và vướng mắc trên; đồng thời từng bước hoàn thiện việc thực
hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS trên tinh thần cải cách

tư pháp, việc hoàn thiện các quy định trong TTHS sẽ góp phần vào việc bảo đảm
dân chủ trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm quyền con người trong hoạt
động tư pháp, tạo cơ hội cho bị cáo có thể tiếp cận với công lý. Vì vậy, tác giả quyết
định chọn đề tài: “Bảo đảm pháp lý tố tụng hình sự đối với việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh”
làm Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quyền
bào chữa, chức năng bào chữa như: Luận án tiến sĩ luật học: “Bảo đảm quyền bào
chữa của người bị buộc tội, so sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và
Mỹ” của Lương Thị Mỹ Quỳnh; luận văn thạc sĩ: “Các chức năng tố tụng cơ bản
trong tố tụng hình sự” của Lê Tiến Châu; Luận văn thạc sĩ “Vai trò của luật sư bào
chữa trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” của Nguyễn Cảnh Tuyến; luận văn thạc
sĩ: “Người bào chữa trong tố tụng hình sự” của Trần Văn Bảy và một số bài viết:
“Người bào chữa trong vụ án hình sự” của Nguyễn Mai Bộ, bài viết: “Các chức
năng buộc tội, bào chữa, xét xử trong tố tụng hình sự” của Hoàng Thị Sơn; bài viết:
Quyền bào chữa của người bị buộc tội theo BLTTHS 2015 của thạc sĩ, NCS Tôn
Thiện phương...
Các đề tài, bài viết nêu trên đã đi sâu vào phân tích, nghiên cứu các quy định
của pháp luật về nhiều khía cạnh của quyền bào chữa, chức năng bào chữa trong
pháp luật TTHS nhưng lại mang tính khái quát, giàn trải toàn bộ các giai đoạn của
2


quá trình tố tụng hoặc chỉ là một giai đoạn như giai đoạn điều tra, riêng trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án, đặc biệt là từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh thì chưa có công
trình nghiên cứu nào.
Tuy nhiên, những công trình khoa học nghiên cứu nêu trên phần nào đã là
nguồn tài liệu tham khảo để tác giả tham khảo và kế thừa có chọn lọc trong quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu những vấn đề mang tính khái quát, nhận thức chung về
quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Tây
Ninh; phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về quyền bào chữa trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam và
tìm hiểu thực tiễn áp dụng, để tìm ra những vấn đề vướng mắc, bất cập những quy
định chưa phù hợp. Để trên cơ sở đó, đề ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật cho việc áp dụng những quy định pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS có hiệu quả trên thực tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bản chất pháp lý về quyền bào chữa và
những đảm bảo của quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS.
Phạm vi nghiên cứu đề tài: đề tài không đề cập đến quyền bào chữa trong các
giai đoạn khác của TTHS. Cơ sở thực tiễn của đề tài được đánh giá ở tỉnh Tây Ninh,
giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm của Đảng cộng sản
Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về chủ trương cải cách tư pháp, tôn trọng và
bảo vệ quyền con người.
Đồng thời, để thu thập, phân tích, xử lý các thông tin, những phương pháp
nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh. Các phương pháp
nghiên cứu thực tiễn cũng được sử dụng như: phương pháp thống kê, phương pháp
3


nghiên cứu vụ án điển hình nhằm góp phần làm rõ những vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thấm VAHS từ thực tiễn địa bàn tỉnh Tây Ninh. Kết quả nghiên cứu về lý luận và

pháp luật thực định cũng như những kiến nghị mà tác giả đưa ra có ý nghĩa như một
đề xuất khoa học góp phần hoàn thiện quyền bào chữa và những bảo đảm cho
quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích
cho những người quan tâm đến quyền bào chữa trong TTHS nói chung và quyền
bào chữa từ thực tiễn của tỉnh Tây Ninh nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ
viết tắt thì nội dung luận văn được chia thành ba chương với kết cấu như sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tây Ninh.
Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

4


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG
GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
Quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong những quyền con người
trong lĩnh vực tư pháp được pháp luật quốc tế tôn trọng, ghi nhận và bảo vệ. Một
trong những văn bản pháp luật quốc tế điển hình có ghi nhận quyền bào chữa là
Công ước về quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976; Việt Nam đã

tham gia Công ước này ngày 24/9/1982 và có trách nhiệm thực thi những cam kết
quốc tế trong công ước.
Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng pháp luật, nhà nước ta luôn coi trọng
các quyền con người, xem đó là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng
hoàn hiện pháp luật. Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được ghi nhận trực tiếp trong
các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980. Đến Hiến pháp 1992, thì lần
đầu tiên chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều
50; đỉnh cao là bản Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ về quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của nhà nước.
Quyền là một khái niệm dùng để chỉ những điều mà "pháp luật công nhận và
đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được
hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [32, tr. 648].
Theo nghĩa phổ thông trong từ điển tiếng Việt: Thì bào chữa là việc dùng lý
lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo [33, tr. 38].
Quyền bào chữa là một hoạt động tố tụng cực kỳ quan trọng, vì thông qua hoạt
động bào chữa thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mới được đảm
bảo. Do chưa có một khái niệm cụ thể nào về vấn đề này được cụ thể hóa trong luật,
cho nên hiện nay khái niệm về quyền bào chữa chưa được thống nhất, vì vậy có rất
nhiều quan điểm khác nhau:
5


Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Quyền bào chữa là một dạng hoạt động tố
tụng bằng cách dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc
một vụ án hình sự hay dân sự trước Toà án hoặc cho một việc nào đó đang bị lên
án” [31, tr. 30]. Với quan điểm này, quyền bào chữa không chỉ xuất hiện trong lĩnh
vực hình sự mà còn xuất hiện trong lĩnh vực dân sự. Vì dân sự là sự tranh chấp giữa
các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tổ chức hoặc giữa tổ chức với tổ chức,
nó phù hợp với ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hơn là phù
hợp với ý nghĩa bào chữa. Khái niệm này theo chúng tôi là quá rộng, không phân

biệt được ranh giới giữa bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự
trong các lĩnh vực không phải hình sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền bào chữa là hoạt động của người bào
chữa nhằm xác định những tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị
cáo” [21, tr. 9]. Theo quan điểm này thì quyền bào chữa chỉ là hoạt động của người
bào chữa nhằm mục đích minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo. Còn
hoạt động của chính của bản thân bị can, bị cáo tự bào chữa cho mình thì không
phải là hoạt động bào chữa. Quan điểm này chưa đầy đủ; vì người bị buộc tội mới là
chủ thể đích thực của quyền bào chữa, họ mới chính là người có thể sẽ bị xâm hại
đến quyền và lợi ích hợp pháp. Cũng theo quan điểm này, hoạt động bào chữa chỉ
được áp dụng cho bị can, bị cáo, còn người bị bắt và người bị tạm giữ không thuộc
đối tượng được phép bào chữa. Trong khi đó, theo Hiến pháp năm 2013 quy định
thì: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự
bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [17, Đ. 31]. Đồng thời, BLTTHS
2015 quy định CQTHTT, người có thẩm quyền THTT có nghĩa vụ của họ theo quy
định của Bộ luật này [16, Đ. 16]. Như vậy, với quan điểm trên, thì hoạt động bào
chữa là quá hẹp, chưa thể hiện hết nội dung của quyền bào chữa.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền bào chữa là:“Người bị buộc tội thực hiện
hành vi phạm tội nào đó được luật thừa nhận khả năng bào chữa, chống lại sự buộc
tội, bác bỏ nó bằng cách đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm làm giảm nhẹ
TNHS của mình. Trong quá trình điều tra và xét xử vụ án cần làm sáng tỏ không chỉ
6


những gì khẳng định sự buộc tội mà còn những gì có lợi cho bị cáo” [14]. Với quan
điểm này thì nội dung, phạm vi, chủ thể thực hiện quyền bào chữa đã tương đối đầy
đủ. Người bị buộc tội có thể tự mình bào chữa trên cơ sở các chứng cứ và lập luận
của mình để chống lại sự buộc tội, bác bỏ việc bị buộc tội nhằm minh oan hoặc làm
giảm nhẹ TNHS của mình. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều
tra, truy tố và xét xử vụ án ngoài chứng cứ buộc tội cũng phải có nghĩa vụ tìm

những chúng cứ gỡ tội để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho
người bị buộc tội. Tuy nhiên, theo quan điểm này thì pháp luật chỉ thừa nhận khả
năng bào chữa của người bị buộc tội, không thừa nhận người bị buộc tội được
quyền nhờ người khác bào chữa.
PGS.TS Phạm Hồng Hải khi cho rằng:“Trong TTHS, quyền bào chữa chỉ
xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội” [8]. Bản chất của bào chữa là việc bảo vệ
người bị buộc tội khỏi sự buộc tội, kết tội một cách oan sai của các cơ quan có thẩm
quyền TTHS bằng cách đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, những tình
tiết giảm nhẹ TNHS. Đồng thời, PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn cho rằng:“Quyền
bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội …”
[28, tr. 49].
Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền bào chữa nhưng nhìn
chung các quan điểm này điều xác định chủ thể, phạm vi, cách thức và nội dung của
quyền bào chữa. Theo chúng tôi, quyền bào chữa có thể được hiểu là: Là quyền
năng tố tụng đặc biệt mà pháp luật TTHS trao cho người bị buộc tội để tự mình
hoặc nhờ người khác đưa ra chứng cứ, lập luận chống lại sự buộc tội và bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của mình.
Từ những nội dung trên có thể thấy quyền bào chữa có những đặc điểm sau:
- Quyền bào chữa là quyền hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp, có vị
trí và tầm quan trọng đặc biệt so với các quyền khác.
- Là quyền đặc thù của người bị buộc tội; nó chỉ phát sinh đối với chủ thể từ
khi có sự buộc tội và người bị buộc tội tự thực hiện hoặc nhờ người khác thực hiện.
- Đây là quyền chống lại sự buộc tội thiếu căn cứ và bảo vệ lợi ích của người
7


bị buộc tội.
Có thể khẳng định rằng, quyền bào chữa là một thành tố của chức năng gỡ
tội; theo PGS.TS Lê Hồng Hải, thì quyền bào chữa trong TTHS là: “Tổng hòa các
hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ

sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự
buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm
hình sự của mình trong vụ án hình sự [8, tr. 16].
Ông Christopher Maxwell (công tố viên cao cấp bang New South Wales
Australia) cho rằng: “Một xã hội lành mạnh đòi hỏi phải quản lý các công dân bằng
hệ thống pháp luật - một hệ thống cần phải đạt được sự cân bằng giữa các quyền
của những người bị buộc tội và quyền của các cộng đồng trông chờ những người đó
phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ” [12]. Nhìn từ góc độ lý luận, chức năng
gỡ tội tồn tại song song với chức năng buộc tội như là nhu cầu tất yếu khách quan
của TTHS. Khi chưa xác định ai là người bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc chưa
bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì TTHS chưa xuất hiện chức năng bào
chữa.
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả Trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định:“TTHS không được thừa nhận là dân
chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng của nó là chức năng bào chữa” và
“tranh tụng chính là sự xác định mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng
bào chữa như là sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập”. Sự đấu tranh
nhằm phủ định giữa hai chức năng này chính là “động lực làm cho hoạt động TTHS
vận động và phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác làm thay đổi bản chất
của vụ án hình sự, từ chưa xác định được sự thật khách quan của vụ án đến sự thật
đó được làm sáng tỏ” [15] .
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền con người
trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTHS nói riêng, cùng với nó là
giải quyết những vướng mắc trong tổng thể vận hành chung của cả hệ thống tư
pháp, giữa các chủ thể THTT và người tham gia tố tụng chưa được quan tâm đúng
8


mức. Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua cho thấy rõ sự lúng túng giữa sự đi
trước về mặt lý luận khoa học pháp lý và nhận thức, với thực trạng cơ chế điều

chỉnh bằng pháp luật, những cản trở đối với sự tham gia của người bào chữa trong
các giai đoạn TTHS chưa thật sự được bảo đảm. Điều này dẫn đến bức xúc trong dư
luận xã hội và người dân, ảnh hưởng đến niềm tin vào tiến trình xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.
Như vậy, có thể khẳng định, việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo chỉ có
thể được thực thi trên cơ sở làm rõ mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của
TTHS, xác định rõ những đặc trưng cơ bản của mô hình TTHS Việt Nam và địa vị
pháp lý của các chủ thể THTT và chủ thể tham gia tố tụng; trong đó có hai chủ thể
quan trọng trong quá trình đảm bảo quyền bào chữa trong các phiên tòa xét xử các
cấp là bị cáo và người bào chữa.
Trong BLTTHS 1988, BLTTH 2003 và BLTTHS 2015 các nhà lập pháp của
nước ta đã nhận thức được ý nghĩa to lớn về chức năng bào chữa trong hoạt động
TTHS, từ đó đã cụ thể hóa quyền bào chữa - quyền hiến định của người bị buộc tội,
nâng cao yêu cầu bảo đảm quyền bào chữa cho chủ thể trên thành một trong những
nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS nước ta (Điều 11 BLTTHS 2003; Điều 16
BLTTHS 2015). Theo đó, Quyền bào chữa là một quyền tố tụng quan trọng với
hình thức thực hiện chức năng bào chữa cụ thể. Các chủ thể được quyền sử dụng tất
cả những biện pháp mà pháp luật không cấm để bác bỏ, phủ nhận sự buộc tội của
VKS hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án. Họ có thể tự bào
chữa, hoặc nhờ người khác bào chữa, hoặc kết hợp vừa nhờ người bào chữa và vừa
tự bào chữa. Đồng thời, việc nhờ người bào chữa không bị giới hạn về số lượng.
Trong hoạt động TTHS, quyền bào chữa là quyền quan trọng nhất của người
bị buộc tội. Đây là tổng hợp các hành vi tố tụng do người bị buộc tội thực hiện
nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc
loại TNHS của mình trong VAHS. Thông thường, sự tham gia của người bào chữa
phụ thuộc vào ý chí của bị can, bị cáo, họ có thể trực tiếp mời hoặc do người thân
của mình mời người bào chữa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt như:
9



Người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, hoặc người chưa thành niên có
hành vi phạm tội hoặc bị can, bị cáo bị truy cứu TNHS về tội theo khung hình phạt
có mức cao nhất là 20 năm, tù chung thân, tử hình (BLTTHS 2003 quy định là tử
hình) thì luật TTHS quy định phải có sự tham gia của người bào chữa mà không
phụ thuộc vào ý chí của bị cáo (Điều 76 BLTTHS 2015). Việc quy định này nhằm
bảo đảm tối đa quyền lợi cho bị can, bị cáo cũng như thể hiện tính nhân đạo của
BLTTHS nước ta. Mặt khác, việc quy định này nhằm tăng thêm tính bảo đảm quyền
bào chữa cho những chủ thể này, khi mà sự tham gia của người bào chữa không chỉ
bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị buộc tội mà còn có ích cho cả hoạt động
của các CQTHTT; sự đối trọng, phản biện của hoạt động bào chữa đối với hoạt
động của các CQTHTT thực hiện chức năng buộc tội, chính là yếu tố hạn chế
những sai sót có khi là sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội trong hoạt động của
những cơ quan này.
Cơ sở đầu tiên để người bị buộc tội thực hiện quyền của mình là sự chủ động
từ chính họ hoặc gia đình của họ, thể hiện qua việc sử dụng quyền lựa chọn người
bào chữa; hoặc từ phía các CQTHTT thông qua hình thức yêu cầu hoặc đề nghị cơ
quan có thẩm quyền cử người bào chữa cho bị cáo (đối với trường hợp người phạm
tội là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất, tinh thần hoặc
người bị truy tố về tội có khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân, tử hình).
Như vậy, quyền bào chữa là quyền chủ thể của người bị buộc tội cáo. Do đó,
thông thường thì chỉ ý chí của họ mới có tính tuyệt đối và các CQTHTT, người
THTT phải tôn trọng quyền này của họ. Tuy nhiên, đối với các trường hợp được
quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2015 thì quyền quyết định của các chủ thể
này không còn tính tuyệt đối mà bị phụ thuộc vào sự xem xét quyết định của
CQTHTT trên cơ sở các căn cứ, điều kiện theo quy định của pháp định.
1.1.2. Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm VAHS: Theo quy định của BLTTHS thời điểm xuất hiện quyền bào chữa là từ
khi có người bị bắt và kết thúc khi bản án hoặc quyết định của TA có hiệu lực pháp
10



luật. Và như vậy, thời điểm bắt đầu xuất hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm VAHS là thời điểm mà hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của VKS được
chuyển sang TA có thẩm quyền. Khi đó, nếu hồ sơ vụ án hoàn chỉnh thì Thẩm phán
được phân công chủ tọa phiên toà sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nội dung
quyết định này đã ghi rõ người thực hiện hành vi phạm tội, tội danh, điều khoản áp
dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội, người bào chữa (nếu có). Như vậy,
tại thời điểm này, quyền tự bào chữa của bị cáo hoặc nhờ người khác bào chữa xuất
hiện khi được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Thời điểm kết thúc quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là
thời phiên toà hình sự sơ thẩm kết thúc.
Cũng có quan điểm cho rằng quyền bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm chấm dứt
tại thời điểm kết thúc phần tranh luận. Theo quy định của BLTTHS thì diễn biến
của phiên tòa phải theo trình tự luật định đó là: Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, phần
xét hỏi, phần tranh luận, phần nghị án và tuyên án. Trong khi đó, tại phần quyết
định của bản án có nội dung là bị cáo (hoặc NBC để bảo vệ lợi ích của người chưa
thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) có quyền kháng
cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. BLTTHS 2015 quy định: Người kháng cáo
cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm
về việc kháng cáo [16, Đ. 332]. Như vậy, với quy định này đã cho thấy trong phần
cuối cùng của phiên tòa, bị cáo và người bào chữa để bảo vệ lợi ích của người chưa
thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền đưa ra
quan điểm không đồng ý với quyết định của TA, vấn đề này đã cho thấy có sự tồn
tại quyền bào chữa, khi chủ thể thực hiện quyền bào chữa không đồng ý với bản án
sơ thẩm của TA.
Xét xử là một hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do TA thực hiện,
nhằm giải quyết những vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo
quy định của pháp luật [13, tr. 1]. Như vậy, hoạt động xét xử là do TA thực hiện
nhằm cũng cố và bảo vệ pháp chế trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền tự do của con

người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đấu tranh phòng
11


chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác để đưa xã hội đến một trật tự nhất
định.
Theo giáo trình Luật TTHS của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006, thì
xét xử sơ thẩm VAHS là một giai đoạn của TTHS trong đó TA có thẩm quyền tiến
hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của
pháp luật.
Mặc dù BLTTHS không đưa ra khái niệm cụ thể về xét xử sơ thẩm VAHS
nhưng theo định nghĩa trên và theo các quy định của BLTTHS, có thể hiểu xét xử
sơ thẩm VAHS là xét xử vụ án đó ở cấp đầu tiên, trong đó việc xét xử phải theo một
quy trình tố tụng nhất định, đây là một quá trình đánh giá, xem xét hành vi có phải
là tội phạm hay không? Nếu có thì tội gì? cần phải áp dụng hình phạt như thế nào
đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, sản phẩm cuối cùng của việc xét xử sơ
thẩm VAHS là việc TA ban hành quyết định hay bản án. Đối với cấp xét xử này,
bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay.
Như vậy, xét xử sơ thẩm VAHS là hoạt động nhà nước do TA thực hiện ở
cấp xét xử thứ nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, các tài liệu của
VAHS, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định hành vi có phạm tội hay
không, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với
người đã thực hiện hành vi và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong VAHS
[13, tr. 8].
Pháp luật TTHS không có khái niệm cụ thể về quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS nhưng trên cơ sở phân tích các khái niệm của các chức
năng cơ bản trong TTHS và xét xử sơ thẩm VAHS, thì có thể hiểu: “Quyền bào
chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là việc bị cáo tự mình hoặc nhờ người
khác bào chữa bằng cách đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ
sự buộc tội, làm giảm nhẹ TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho họ

trong quá trình xét xử tại phiên tòa”.
Do vậy, theo chúng tôi chủ thể thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS là bị cáo, NBC (trường hợp bị cáo là người chưa thành niên,
12


người có nhược điểm về tâm thần và thể chất thì người đại diện hợp pháp của bị cáo
cũng có quyền bào chữa). Cơ quan có trách nhiệm đảm bảo việc thực hiện quyền
bào chữa trong giai đoạn này chính là TA. Nội dung của quyền bào chữa trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm VAHS bao gồm quyền và nghĩa vụ của bị cáo, NBC cho bị cáo
sử dụng và chấp hành trong quá trình xét xử sơ thẩm để chống lại sự buộc tội của
VKS, chứng minh sự vô tội hoặc những tình tiết làm giảm TNHS, có lợi cho bị cáo.
Như vậy, quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là quyền cơ
bản của người bị buộc tội theo quy định của pháp luật TTHS, có vai trò, vị trí quan
trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đồng thời góp phần
làm cho hoạt động TTHS theo đúng quy định của pháp luật.
1.1.3. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
Có thể nói, giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là giai đoạn cực kỳ quan trọng,
là giai đoạn mà ba chức năng cơ bản của TTHS được hiện diện cùng một lúc, giai
đoạn mà sự đối trọng, sự xung đột về mặt pháp lý giữa quan điểm buộc tội và quan
điểm gỡ tội phải được giải quyết bằng TA. Đồng thời, giai đoạn xét xử sơ thẩm
VAHS nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyết định đến số phận pháp lý
của người bị buộc tội. Do đó, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng nếu như việc buộc tội, phán quyết của TA là không đúng
quy định của pháp luật. Vì vậy, trong giai đoạn này, quyền bào bữa có ý nghĩa rất
quan trọng. Ý nghĩa của quyền bào chữa thể hiện ở những nội dung như sau:
Thứ nhất là, quyền bào chữa là quyền năng tố tụng cơ bản có ý nghĩa quan
trọng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
bảo vệ sự thật, bảo vệ pháp luật. Con người sinh ra được pháp luật công nhận nhiều

quyền như quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, quyền được bầu cử, ứng cử, quyền
lao động, học tập, quyền tự do đi lại, cư trú... Các quyền này được ghi nhận trong
Hiến pháp và các văn bản có liên quan, được đảm bảo thông qua hoạt động của hệ
thống các cơ quan thực thi pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, các quyền này cũng
có thể bị xâm phạm bởi chính các cơ quan này, đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự
13


thông qua các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thiếu tính chính xác, khách
quan như: bức cung, mớm cung, nhục hình... Do đó, với quyền bào chữa, người bị
buộc tội có thể bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình như có thể
chứng minh mình không có tội, hoặc hạn chế thấp nhất khả năng bị buộc tội không
đúng với mức độ nguy hiểm của hành vi do mình thực hiện. Ngoài ra, thông qua
quyền này CQTHTT sẽ cẩn thận hơn trong việc xác định chứng cứ, đi tìm sự thật
khách quan của vụ án để đưa ra phán quyết chính xác nhất. Do vậy, sẽ hạn chế tình
trạng oan sai, hạn chế việc áp dụng điều luật không đúng, loại bớt những sai phạm
do tắc trách, sai lầm áp dụng pháp luật, tùy tiện hoặc do động cơ vụ lợi cá nhân của
người THTT.
Thứ hai là, Quyền bào chữa là cơ sở quan trọng giúp cho CQTHTT được vận
hành tốt, đúng yêu cầu của pháp luật. Mặc dù pháp luật có quy định chặt chẽ thủ tục
TTHS nhưng trên thực tế vẫn có nhiều sai phạm. Có thể do nguyên nhân khách
quan hay chủ quan mà CQTHTT sẽ không thực hiện đúng với các quy định của
pháp luật. Do đó, thông qua quyền bào chữa, thì CQTHTT sẽ hạn chế được những
sai phạm đó, tránh được sự xâm hại do hành vi tiêu cực của CQTHTT, người
THTT, tình trạng lạm dụng quyền như mớm cung, bức cung sẽ hạn chế hơn. Khi có
vụ án xảy ra, họ sẽ cẩn thận hơn trong việc tìm ra chứng cứ, đi tìm sự thật của vụ án
để truy tố, xét xử. Vì vậy, quá trình giải quyết vụ án sẽ đạt hiệu quả hơn và quá
trình tố tụng sẽ được vận hành tốt hơn.
Thứ ba là, Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp
phần bảo vệ pháp luật, bảo đảm sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm việc khởi tố,

điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không ngừng nâng
cao uy tín của CQTHTT, người THTT. Trong quá trình xét xử sơ thẩm VAHS,
thông qua quá trình thẩm vấn, tranh luận, đối đáp của bên gỡ tội và bên buộc tội sẽ
là cơ sở để Tòa án ra quyết định đúng đắn, xét xử đúng người, đúng tội. Do vậy,
nếu không có sự bào chữa thì sẽ dẫn đến tình trạng không công bằng, duy ý chí, độc
đoán ... của CQTHTT, người THTT và tình trạng oan sai sẽ nhiều. Như vậy, quyền
bào chữa vận hành tạo đối trọng với hoạt động buộc tội trên cơ sở hai bên cùng đưa
14


ra chứng cứ, lập luận ... để tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Tạo tiền đề và là cơ
sở cho việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được chính xác, công bằng khách quan,
không làm oan người vô tội và để lọt người phạm tội, góp phần bảo vệ pháp luật,
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra, VKS và TA, đề cao
tính thượng tôn pháp luật của mọi tầng lớp trong xã hội.
1.2. Bảo đảm pháp lý thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định của pháp luật TTHS, quyền bào chữa bao gồm: Quyền tự bào
chữa và nhờ người khác bào chữa. Nếu tự bào chữa là hình thức bị cáo tự sử dụng
các quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ TNHS hoặc
bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình thì nhờ người khác bào chữa là hình thức
bị cáo nhờ luật sư hoặc người khác mà pháp luật TTHS quy định để bào chữa, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Khi nhận trách nhiệm bào chữa, NBC
được sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bào chữa cho bị cáo, nhằm
giúp đỡ bị cáo về mặt pháp lý.
Hai hình thức bào chữa nêu trên đây có thể được sử dụng cùng lúc để bào
chữa cho bị cáo trong vụ án. Quyền bào chữa của bị cáo có thể hiểu không chỉ là
một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị cáo mà có thể hiểu nó còn là
tổng hòa các quyền của bị cáo. Ngoài việc, đưa ra những lý lẽ để biện hộ cho mình,
bị cáo còn thực hiện quyền bào chữa thông qua các quyền khác như: Quyền trình

bày lời khai, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, quyền đưa ra yêu cầu ... nhằm mục đích
thực hiện việc gỡ tội và bảo vệ quyền, lợi ích họp pháp cho mình. Việc quy định
quyền bào chữa cụ thể trong luật TTHS nhằm mục đích nhấn mạnh quyền tự bảo vệ
mình trước sự buộc tội của CQTHTT.
Quyền bào chữa của bị cáo không đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền bào
chữa của bị cáo. Bảo đảm quyền bào chữa cần được hiểu rộng hơn quyền bào chữa.
Điều đó có nghĩa là ngoài việc bị cáo thực hiện các quyền của mình còn có hoạt
động của những người THTT và NBC thực hiện chức năng bào chữa nhằm đảm bảo
thực hiện quyền của họ mà pháp luật quy định. Nguyên tắc hiến định: Quyền bào
15


chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm
[16, Đ. 31] là nhấn mạnh đến việc thực hiện các quyền được pháp luật dành cho
những người này và đặt trách nhiệm lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
những người có chức vụ, trách nhiệm trong hoạt động TTHS phải bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mà pháp luật đã ghi nhận cho họ.
Bảo đảm pháp lý quyền bào chữa của bị cáo phải được thể hiện trước hết ở
việc Nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện để người bị buộc tội thực hiện quyền bào
chữa của mình. Bên cạnh đó, các CQTHTT trong khi trong hoạt động TTHS phải
có nhiệm vụ đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền của mình trên thực tế đúng quy
định của pháp luật TTHS. Mọi sự vi phạm các quy định về bảo đảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo là một trong những vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS trong
quá trình giải quyết VAHS.
Và như thế, có thể khẳng định rằng, quyền bào chữa của bị cáo gắn liền với
nhiệm vụ của các CQTHTT, người THTT. Trách nhiệm của các cơ quan này trong
việc bảo đảm thực hiện các quyền của người bị buộc tội được cụ thể hoá trong các
điều luật của BLTTHS và các văn bản khác có liên quan. Và, chỉ khi nào các quy
định về quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện nghiêm chỉnh trong
thực tế thì quyền của bị cáo mới được tôn trọng và bảo đảm.

1.3. Những Nguyên tắc cơ bản trong việc thực hiện quyền bào chữa
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.3.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Trong hoạt động TTHS thì pháp luật quy định các chủ thể thực hiện các chức
năng của TTHS luôn đề cao việc thượng tôn pháp luật, thể hiện sự dân chủ, nhằm
đảm bảo và tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân luôn được coi là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách của toàn xã
hội. Đảm bảo quyền con người là một trong những tiêu chí phấn đấu của các nước
dân chủ và tiên tiến trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Quyền bào chữa của bị cáo
là một trong những quyền con người khi tham gia tố tụng. Bảo đảm quyền bào chữa
của bị cáo là một trong những nguyên tắc hiến định trong tất cả các bản Hiến pháp,
16


là nguyên tắc đặc thù của BLTTHS. Điều 31 Hiến pháp 2013 đã quy định rất cụ thể:
“Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào
chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa ” và “Quyền bào chữa của bị cáo
được bảo đảm” [17, Đ. 103]. Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều 16 BLTTHS 2015
quy định: “Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan
điều tra, VKS và Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa
chữa họ theo quy định của BLTTHS”.
Các quy định trên nhằm bảo đảm cho bị cáo sử dụng tất cả các biện pháp
theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình trước TA, pháp luật dành cho bị cáo
mọi quyền cần thiết để chứng minh sự vô tội của mình và các tình tiết giảm nhẹ
TNHS, đề xuất những yêu cầu, đưa ra tài liệu, đồ vật, tranh luận tại phiên toà...
ngoài việc bảo đảm cho bị cáo tự bào chữa, pháp luật còn quy định bảo đảm cho bị
cáo quyền nhờ người khác bào chữa và trong một số trường hợp còn quy định TA
phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo như: Trường hợp bị cáo là người chưa
thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần. Những người được bị cáo
nhờ bào chữa hoặc TA chỉ định bào chữa cho bị cáo được sử dụng mọi biện pháp

theo quy định của pháp luật để bảo vệ bị cáo mà mình bào chữa. Đồng thời, nguyên
tắc này yêu cầu CQTHTT, những người THTT phải tạo điều kiện cho bị cáo hoặc
người bào chữa được sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để chứng
minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Ngoài ra, quyền bào chữa của bị
cáo được quy định cụ thể trong các Điều 61, 73 của BLTTHS 2015.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo ở giai đoạn xét xử được coi
như tập trung nhất về quyền bào chữa [13, tr. 22]. Vì trong giai đoạn này, bị cáo sẽ
bị một phán quyết của TA, phán quyết này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của
bị cáo. Do vậy, bị cáo và NBC sẽ làm hết khả năng như đưa ra tất cả các chứng cứ,
tài liệu, đồ vật có liên quan để chứng minh sự vô tội của bị cáo hoặc đưa ra các tình
tiết giảm nhẹ TNHS để hạn chế thấp nhất việc bị cáo bị buộc tội.
Như vậy, việc thực hiện nguyên tắc này, đã góp phần không nhỏ vào việc
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, trong đó kể cả quyền sống. Đảm bảo
17


quyền bào chữa của bị cáo còn giúp CQTHTT, người THTT có cái nhìn toàn diện,
khách quan để có thể giải quyết vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Mặc dù nguyên tắc này được quy định khá chặt chẽ và đầy đủ trong Hiến pháp và
pháp luật TTHS. Nhưng khi vận dụng vào quá trình giải quyết VAHS, nó còn bộc
lộ nhiều hạn chế, thiếu sót. Về mặt lý luận: khái niệm, chủ thể, nội dung vẫn chưa
được làm rõ. Bên cạnh đó, một số CQTHTT không tuân thủ quy định của pháp luật,
quyền bào chữa của bị cáo chưa được triệt để tôn trọng và chưa được CQTHTT,
người THTT tạo điều kiện để bị cáo thực hiện quyền này, họ còn quan niệm rằng
việc tự bào chữa của bị cáo và nhờ người bào chữa chỉ mang tính chất hình thức.
TA không quan tâm đến lời bào chữa của luật sư, thậm chí không tạo điều kiện cho
luật sư thực hiện nhiệm vụ của họ, dẫn đến xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bị cáo.
1.3.2. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo
Đây là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 103 của Hiến pháp

2013:“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”; đồng thời, cũng được
ghi nhận trong BLTTHS. Lần đầu tiên, nguyên tắc tranh tụng được đưa vào
BLTTHS như là sự thừa nhận rằng, TTHS Việt Nam hướng đến một nền tố tụng
công bằng giữa bên buộc tội với bên bị buộc tội. Nguyên tắc này ghi nhận về quyền
bình đẳng trước TA không những thể hiện quyền bình đẳng của công dân trước
pháp luật, trước các cơ quan công quyền mà còn là sự bảo đảm cho những người
tham gia tố tụng được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra
yêu cầu và tranh luận trước TA. Vì vậy, BLTTHS quy định nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được đảm bảo. Nội dung của nguyên tắc này thể hiện:“Trong quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,

iều tra viên,

SV, người khác có thẩm quyền

THTT, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có
quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để
làm rõ sự thật khách quan của vụ án” [17, Đ. 26]. Sự bình đẳng giữa bên buộc tội
và bên bị buộc tội thể hiện ở chỗ: Các bên đều có quyền đưa ra chứng cứ, kiểm tra
tính xác thực, liên quan, hợp pháp của chứng cứ; đánh giá về giá trị chứng minh của
18


từng chứng cứ, cũng như toàn bộ chứng cứ ngay tại phiên tòa xét xử. Mọi chứng cứ
xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
TNHS và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày,
tranh luận, làm rõ ngay tại phiên tòa xét xử.
Thông qua nguyên tắc này quyền lợi của bị cáo, NBC được đảm bảo. Tại
phiên tòa, bị cáo, NBC có quyền bình đẳng đưa ra các tài liệu, đồ vật, chứng cứ để
chứng minh bị cáo vô tội hoặc để giảm nhẹ TNHS đối với hành vi phạm tội của

mình. CQTHTT, người THTT cũng phải tôn trọng khi bị cáo, NBC có mặt tại phiên
tòa, lắng nghe những luận cứ mà họ đưa ra tại tòa, tranh luận một cách công bằng
tại phiên tòa, không dùng quyền lực để ép bị cáo, NBC. TA có trách nhiệm tạo cho
bị cáo, NBC thực hiện tốt nhất để thực hiện các quyền mà pháp luật trao cho bị cáo,
NBC để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Đồng thời, hạn chế những tiêu cực do
CQTHTT, người THTT mang lại như tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm
quyền, xét xử làm oan người vô tội.
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng được thực hiện một cách đầy
đủ, điều 26 BLTTHS 2015 còn quy định:“Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do
VKS chuyển đến TA để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử VAHS phải
có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt
phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do
Bộ luật này quy định. TA có trách nhiệm tạo điều kiện cho KSV, bị cáo, NBC,
những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và
tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước TA.
Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng,
tình tiết giảm nhẹ TNHS, áp dụng điểm, khoản, điều của BLHS để xác định tội
danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng
và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh
luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản án, quyết định của TA phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng
cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa”.
19


Hiến pháp 2013 khi ghi nhận nguyên tắc tranh tụng đã đề cao trọng tâm của
cải cách tư pháp là cải cách hệ thống TA, tăng cường tranh tụng trước tòa, góp phần
quan trọng để TA có thể thực hiện quyền tư pháp; nguyên tắc này cũng đã đề cao
quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng và sự bình đẳng hóa trong quá trình giải
quyết vụ án của các chủ thể thực hiện chức năng cơ bản của TTHS; và “đó cũng là

cơ sở nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm bản lĩnh nghề nghiệp của từng chủ
thể, đáp ứng những đòi hỏi mới của quá trình cải cách tư pháp hình sự [9, tr. 143].
Tranh tụng tại phiên toà có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là sự đánh giá
các kết quả hoạt động của giai đoạn điều tra, truy tố mà còn có tác dụng to lớn đối
với giai đoạn xét xử, là cơ chế tối ưu nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị cáo,
đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Nguyên tắc này cũng thể hiện sự thể chế hóa chủ trương xác định rõ thẩm quyền
của từng CQTHTT, mối quan hệ giữa các cơ quan.
Như vậy, BLTTHS hiện hành quy định tranh tụng là một nguyên tắc của
hoạt động xét xử nên việc yêu cầu thực thi đúng và đầy đủ nguyên tắc này cũng là
đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo trong xét xử VAHS. Bảo đảm sự bình đẳng
giữa các chủ thể tham gia tranh tụng là một điều kiện cơ bản của hoạt động tranh
tụng tại phiên toà. Nó là cơ sở xác định tư cách tố tụng của người bào chữa, bị cáo
không chỉ là một chủ thể mà còn là một bên tham gia tranh tụng bình đẳng với bên
buộc tội.
1.3.3. Nguyên tắc xác định sự thật vụ án
Quá trình giải quyết VAHS thông qua các giai đoạn khác nhau, nhưng các
giai đoạn tố tụng đó đều có mục đích chung là xác định sự thật vụ án. Nguyên tắc
xác định sự thật của vụ án trong TTHS được quy định tại Điều 15 BLTTHS 2015
(Điều 10 BLTTHS 2003): “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có
thẩm quyền THTT. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh
là mình vô tội. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm
quyền THTT phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và
20


chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS của người
bị buộc tội”..
Nguyên tắc này đòi hỏi: Trong quá trình giải quyết VAHS, CQTHTT, người

THTT phải có trách nhiệm đưa ra chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của
một người nào đó đã xâm hại đến lợi ích chung. Do vậy, trách nhiệm chứng minh
tội phạm thuộc về các CQTHTT. Bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ chứng
minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS của mình, nhưng không buộc phải đưa ra
chứng cứ chứng minh mình vô tội. Trong trường hợp bị can, bị cáo không đưa ra
hoặc không đưa ra được những chứng cứ chứng minh mình vô tội thì không phải vì
thế mà có thể coi họ là phạm tội. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các
CQTHTT, người có thẩm quyền THTT.
Nội dung của việc xác định sự thật là trả lời các câu hỏi như: Có hành vi
phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi
phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý
hay do vô ý; có năng lực TNHS hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội;
những tình tiết tăng nặng, những tình tiết giảm nhẹ TTHS của bị can, bị cáo và
những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra.
Việc quy định nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong hoạt động TTHS
là nhằm mục đích đòi hỏi các CQTHTT, người THTT phải xác định sự thật của vụ
án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ nhất để loại trừ khả năng có sự thiếu
khách quan, thiên vị, cảm tính cá nhân; yêu cầu họ phải đánh giá toàn diện và cân
nhắc kĩ càng, đầy đủ các tình tiết có thể làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng
đắn vụ án để lọt tội phạm; đồng thời, không làm oan người vô tội. Đây là một trong
những yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, góp phần xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, mọi công dân đều sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
1.3.4. Nguyên tắc suy đoán vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong
BLTTHS 2015. Trong các BLTTHS trước đây đã có quy định một phần nội dung
21



×