Tải bản đầy đủ (.doc) (101 trang)

Giải pháp hạn chế rủi ro cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng đầu tư và phát triển việt nam – chi nhánh hải vân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (474.46 KB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM THỊ VÂN BÌNH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO
CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN,
CHI NHÁNH HẢI VÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng- Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM THỊ VÂN BÌNH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO
CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN,
CHI NHÁNH HẢI VÂN

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH



Người hướng dẫn khoa học: TS. VÕ THỊ THÚY ANH

Đà Nẵng- Năm 2012


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân Bình


MỤC LỤC
Trong 3 năm, dư nợ tín dụng tại Chi nhánh đều có mức tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước
với tốc độ tăng trưởng bình quân là trên 30%. Dư nợ tăng lên do chi nhánh mở rộng các phòng
giao dịch, đồng thời tích cực tìm kiếm khách hàng nên số lượng khách hàng tăng lên. Tuy nhiên,
dư nợ của chi nhánh về cơ cấu chưa hợp lý, tỷ trọng dư nợ vay trung dài hạn trên tổng dư nợ vẫn
còn ở mức rất cao và tăng dần qua các năm (năm 2009 là 65,9%, năm 2010 là 77,9%, năm 2011
là 86,4%). Nguyên nhân, do chi nhánh cho vay đầu tư dự án đối với 1 số khách hàng lớn Hoàng
Đạt Silver shore, Tổng công ty cổ phần xây dựng Điện Việt Nam, Công ty cổ phần Cao su Đà
Nẵng, Công ty cổ phần Đầu tư Sài Gòn – Đà Nẵng. Mặt khác, dư nợ cho vay khách hàng doanh
nghiệp rất lớn, chiếm tỷ trọng 93,7%/tổng dư nợ (năm 2011), điều đó cho thấy chi nhánh chưa
quan tâm đến lĩnh vực cho vay khách hàng cá nhân. Việc cho vay trung dài hạn quá cao, tập
trung vào 1 số khách hàng doanh nghiệp sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho chi nhánh...........................37
Năm 2009, do chịu tác động của khủng hoảng, suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp kinh doanh

thua lỗ đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại Chi nhánh, tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng cao. Tuy nhiên,
năm 2010, 2011, chất lượng tín dụng tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh của một số
doanh nghiệp chuyển biến tích cực, chính sách hỗ trợ lãi suất của chính phủ đã giúp cho các
khách hàng giảm chi phí tài chính..................................................................................................38
Về cơ cấu dư nợ theo ngành hàng, dư nợ chi nhánh tập trung chủ yếu ở ngành thương mại dịch vụ
(69,5%/tổng dư nợ), xây lắp (4,4%/tổng dư nợ), công nghiệp chế biến và khai thác (4%/tổng dư
nợ)...................................................................................................................................................38
CHỈ TIÊU........................................................................................................................................................38
Kết luận chương 2: Trên cơ sở những nội dung lý luận ở chương 1, nội dung chương này đã phân
tích, đánh giá công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Hải Vân trong những năm gần đây và đã kiểm soát được nợ
xấu theo kỳ hạn, theo loại hình doanh nghiệp, theo ngành kinh tế. Tuy nhiên, có thể thấy rằng
công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tại Chi nhánh vẫn còn bất cập và chưa phát huy
hiệu quả. Từ đó, rút ra những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
tại BIDV Hải Vân làm cơ sở đưa ra các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả chất lượng tín
dụng, hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp trong thời gian tới....................65
Tổ chức giám sát nợ một cách đầy đủ, chặt chẽ, có hiệu quả thông qua hoạt động phân tích, phân
loại nợ theo định kỳ, qua đó phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay......................68
Bán các khoản nợ.............................................................................................................................81
Khai thác, xử lý có hiệu quả các tài sản bảo đảm nợ vay................................................................83
Sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng hợp lý và có hiệu quả..........................................................84
KẾT LUẬN.....................................................................................................................................................91

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BIDV

BIDV Hải Vân

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam –
Chi nhánh Hải Vân

CIC

Thông tin thông tin tín dụng của Ngân hàng
Nhà nước

CTCP
DNNN

Công ty cổ phần
Doanh nghiệp nhà nước

DNTN

Doanh nghiệp tư nhân

DPRR

Dự phòng rủi ro

NHNN

Ngân hàng Nhà nước

NHTM


Ngân hàng thương mại

QHKH

Quan hệ khách hàng

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TNHH MTV

Trách nhiệm hữu hạn một thành viên


DANH MỤC CÁC BẢNG
CHỈ TIÊU........................................................................................................................................................38
KẾT LUẬN.....................................................................................................................................................91


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt động kinh
doanh phức tạp và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng nhưng cũng là
hoạt động có rủi ro cao. Hiện nay rủi ro tín dụng trong cho vay vẫn là loại rủi ro
chiếm tỷ trọng lớn nhất, nếu xảy ra sẽ có tác động lớn và ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của mỗi tổ chức tín dụng và cao hơn nữa nó tác động ảnh hưởng đến

toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Rủi ro tín dụng trong cho vay luôn đi đôi với hoạt động cho vay, không thể
loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng
ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra. Vì vậy, để quản lý toàn bộ
hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, bằng nhiều biện
pháp các ngân hàng đã tác động đến hoạt động tín dụng để hạn chế tối đa rủi ro tín
dụng cho vay nhằm góp phần đạt mục tiêu hoạt động tín dụng an toàn và hiệu quả.
Trong điều kiện nền kinh tế còn phải đối mặt với nhiều khó khăn như lạm
phát vẫn ở mức cao, tăng trưởng thấp, lãi suất cao ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều này gây tác động không nhỏ đến hoạt động
tín dụng ngân hàng nhất là hoạt động cho vay đối khách hàng doanh nghiệp. Do đó,
hiện nay việc nâng cao hiệu quả trong hoạt động cho vay của ngân hàng nhất là việc
tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế các rủi ro tín dụng trong cho vay đối với đối
tượng khách hàng doanh nghiệp giai đoạn hiện nay là cần thiết và ngày càng được
các ngân hàng thương mại quan tâm.
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân (BIDV Hải
Vân) là ngân hàng được thành lập cuối năm 2004 với nguồn thu chủ yếu từ hoạt
động cho vay, trong đó nguồn thu từ hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, do đó việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng trong cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp luôn là mối quan tâm của
ngân hàng. Chính vì lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro


2

cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng trong cho
vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại một ngân hàng thương mại. Trên nền tảng lý

luận đó phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay và các nhân tố gây ra
rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
– Chi nhánh Hải Vân. Từ đó nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng trong cho vay doanh nghiệp, nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng.
3. Câu hỏi nghiên cứu:
- Ngân hàng thương mại cần làm gì để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay
doanh nghiệp?
- Công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân có những ưu nhược điểm
gì? Do những nguyên nhân nào gây ra?
- Để hoàn thiện công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
thì Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân cần thực hiện
những biện pháp nào?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn liên quan đến việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh
nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.
Phạm vi nghiên cứu: phân tích các vấn đề liên quan đến việc hạn chế rủi ro
tín dụng cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
nhánh Hải Vân giai đoạn 2008-2011.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong quá
trình nghiên cứu, luận văn vận dụng kết hợp các phương pháp cụ thể như: thống kê,


3

so sánh, tổng hợp để phân tích thực tế thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho
vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Một là, hệ thống hóa và khái quát hóa các lý luận cơ bản liên quan vấn đề
về rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp.
- Hai là, từ việc phân tích, đánh giá để rút ra những nhận xét, kết luận về
thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân. Nêu ra được những nguyên nhân và những
vấn đề cần giải quyết.
- Ba là, trên cơ sở các phân tích, đánh giá thực trạng đó đề xuất các giải pháp
hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của
Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân.


4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động đầu tư nói chung, trong đó có
hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng trong cho vay là
một trong những loại rủi ro xuất hiện lâu đời và phức tạp nhất mà các ngân hàng
phải đối mặt.
Trên quan điểm quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay là không thể tránh
khỏi, chỉ có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ. Do vậy, ngày nay việc
tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay luôn trở thành vấn
đề mang tính sống còn, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ ngân hàng nào.

Xuất phát từ những lý do trên đã có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và đưa ra
những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tại ngân hàng, với mục
đích nâng cao chất lượng tín dụng nhằm hạn chế tối đa rủi ro tín dụng trong cho vay
của ngân hàng.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro
cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam – Chi nhánh Hải Vân”, tôi đã tham khảo một số đề tài nghiên cứu khoa
học, luận văn đã được công bố về hạn chế rủi ro tín dụng và hạn chế nợ xấu như:
- Luận văn cao học – Đại học Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Thị Kim Sơn:
"Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đà Nẵng", thực hiện năm 2010.
Đối với đề tài này, trong chương 1 tác giả đã làm rõ được khái niệm rủi ro tín dụng
của ngân hàng thương mại, những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và các chỉ tiêu
đo lường rủi ro tín dụng. Nêu những đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ, qua đó
đó thấy được đặc điểm rủi ro tín dụng của đối tượng khách hàng này và đề cập đến
việc hạn chế rủi ro tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Qua đây, tôi có thể tham
khảo khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng và ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến ngân
hàng thương mại, đặc điểm của rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Tuy
nhiên, đề tài trên chưa làm rõ được nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay,
chưa nêu được các tiêu chí đánh giá kết quả công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong


5

cho vay và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho
vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại.
- Bên cạnh đó, đề tài còn tham khảo một số tài liệu khác của một số đề tài có
liên quan như Luận văn cao học – Đại học Đà Nẵng của tác giả Lê Trọng Quý với
đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng TMCP Kỹ
thương Đà Nẵng” và Luận văn cao học – Đại học Đà Nẵng của tác giả Nguyễn

Quảng Đông với đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Hải Vân; Luận văn cao học – Đại học Đà Nẵng của tác giả Lê
Quốc Vũ “Giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam”. Với các đề tài này tác giả đã sử dụng duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, tổng hợp để nghiên
cứu.
Trong chương 1 các tác giả đã đưa ra một số vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro
tín dụng như: khái niệm về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và hạn chế rủi ro
tín dụng và các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng. Qua việc đọc các đề tài này, tôi
nhận thấy tác giả đưa ra được việc quản trị rủi ro tín dụng thông qua việc nhận dạng
rủi ro tín dụng; đo lường rủi ro tín dụng bằng phân tích tín dụng cổ điển và mô hình
định lượng; kiểm soát rủi ro tín dụng bằng việc ứng dụng công cụ phái sinh để hạn
chế rủi ro tín dụng và tài trợ rủi ro tín dụng.
Trên cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro, chương 2 tác giả đã đi sâu phân tích thực
trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh, từ đó có những đánh giá chung về tình
hình hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh: kết quả đạt được cũng như những hạn chế
về công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh. Trên cơ sở đó tác giả cũng đã đưa
ra những nhóm giải pháp tương ứng để hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh.
Qua đề tài này, tôi đã tham khảo các nội dung về hạn chế rủi ro tín dụng, để
từ đó đưa ra nội dung để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp: phòng
ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay và biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay.
Đồng thời tham khảo các nhân tố tác động đến rủi ro tín dụng trong cho vay để đưa
vào đề tài các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp.


6

Trên cơ sở các đề tài tham khảo, điểm khác biệt của đề tài của tôi là đi theo
hướng làm rõ nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp, đưa ra
quan điểm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay, cũng như nội dung về phòng ngừa

và biện pháp xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Đưa ra các tiêu chí
đánh giá kết quả công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay và các nhân tố ảnh
hưởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân
hàng thương mại. Đề tài đi từ việc phân tích chung về thực trạng hoạt động kinh
doanh của BIDV Hải Vân, qua đó đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay
doanh nghiệp và công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doang nghiệp của
chi nhánh. Từ việc phân tích đó, tôi rút ra được những ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân hạn chế đối với việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại chi
nhánh. Trên cơ sở đó tôi đưa ra các nhóm giải pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro
tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại BIDV Hải Vân trong thời gian tới.


7

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH
NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về cho vay
Để tìm hiểu khái niệm cho vay trước hết phải hiểu được khái niệm cấp tín
dụng là gì? Theo điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng ngày 16 tháng 6 năm 2010 thì:
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc
cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các
nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng
đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Cho vay là một hình thức cấp
tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để
sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn

trả cả gốc và lãi”.
1.1.2 Nguyên tắc cho vay của Ngân hàng
Hoạt động cho vay của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa
trong các quy định của Ngân hàng Trung ương:
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguyên
tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời
nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đây là nguồn vốn có
nguồn gốc chủ yếu từ các khoản tiền gửi của khách hàng gửi tiền và các khoản ngân
hàng vay mượn, ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam
kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng vay phải thực hiện trả nợ đúng thời
hạn như đã cam kết này. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.


8

- Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay theo đúng mục đích đã thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng: Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên
ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử
dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay
và khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay
cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng sau đó phải kiểm tra xem khách
hàng có sử dụng vốn vay đúng mục đích không. Điều này rất quan trọng vì việc sử
dụng vốn đúng mục đích có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả
nợ vay cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và
củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng với ngân hàng sau này.
- Khách hàng phải có bảo đảm theo quy định của ngân hàng: Bảo đảm ở đây

là biện pháp cuối cùng của ngân hàng để thu hồi nợ sau khi khách hàng không trả
được nợ theo phương án vay vốn. Tùy theo mức độ tín nhiệm của khách hàng mà
ngân hàng quyết định khách hàng thực hiện biện pháp bảo đảm tài sản hoặc không
có bảo đảm bằng tài sản hoặc kết hợp cho vay không có bảo đảm và cho vay có bảo
đảm bằng tài sản.
1.1.3 Phân loại cho vay của Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau như sau:
1.1.3.1 Căn cứ thời hạn cho vay
Ngân hàng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các thể loại ngắn
hạn, trung hạn, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và các dự án đầu tư phát triển:
Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn vay đến 12 tháng, mục đích
bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân trong nền kinh tế.
Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn vay trên 12 tháng đến 60
tháng, mục đích chủ yếu là sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc


9

đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới
có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng trở lên,
mục đích để tài trợ cho các công trình, dự án lớn có thời hạn sử dụng lâu dài.
Việc phân chia các khoản vay theo thời hạn như trên có ý nghĩa quan trọng
đối với các ngân hàng trong việc quản lý tính an toàn và sinh lợi của tài sản.
1.1.3.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm
tiền vay như thế chấp, cầm cố tài sản hợp pháp của khách hàng, hoặc phải có sự bảo

lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có
thêm một nguồn thu thứ hai trong trường hợp khách hàng không thanh toán được nợ
vay thông qua phát mãi tài sản khách hàng đã thế chấp, cầm cố tại ngân hàng.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố mà việc cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào uy tín và năng lực của bản
thân khách hàng vay vốn. Khách hàng vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản phải
có các điều kiện sau:
- Có tín nhiệm đối với ngân hàng cho vay trong việc sử dụng vốn vay đúng
mục đích, thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có khả
năng hoàn trả nợ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
1.1.3.3 Căn cứ theo phương thức cho vay
Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay
sau đây:
Cho vay từng lần (cho vay theo món): Phương thức này áp dụng đối với
khách hàng có nhu cầu và đề nghị vay vốn từng lần, có quan hệ không thường
xuyên với Ngân hàng, có nguồn thu không ổn định; việc vay vốn của khách hàng
chỉ mang tính thời vụ hay mở rộng sản xuất như cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính
tạm thời, cho vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học, công nghệ….


10

Khách hàng có thể đề nghị được giải ngân một lần hay nhiều lần căn cứ vào nhu cầu
sử dụng vốn thực tế song tổng số tiền giải ngân không vượt quá số tiền cho vay đã
thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức cho vay theo hạn mức tín
dụng được áp dụng đối với các khách hàng có sản xuất kinh doanh ổn định, có hiệu
quả và có quan hệ tín dụng thường xuyên đối với Ngân hàng. Hạn mức cho vay đối

với khách hàng được tính toán trên cơ sở nhu cầu vốn thực tế của khách hàng. Để
đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh ổn định, hàng năm hoặc theo nhu cầu mở rộng,
thu hẹp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của khách hàng, điều kiện vay vốn của khách
hàng Ngân hàng cùng khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy
trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Cho vay theo dự án đầu tư: Phương thức này áp dụng đối với các khách
hàng vay vốn đủ điều kiện theo quy định để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Theo để nghị
của khách hàng, Ngân hàng sẽ giải ngân vốn một hoặc nhiều lần theo hợp đồng tín
dụng đã ký kết phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách hàng trong thời
hạn giải ngân đã thỏa thuận. Tổng số tiền giải ngần không vượt quá số tiền cho vay
của ngân hàng.
Cho vay trả góp: Theo phương thức cho vay này, tổng số tiền cho vay thực
tế không vượt quá số tiền cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, số tiền
vay được trả nợ thành nhiều kỳ hạn đều nhau với tổng số tiền trả nợ gốc và lãi của
mỗi kỳ hạn là bằng nhau, trong đó Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận
số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn
trong thời hạn cho vay.
Cho vay hợp vốn: Ngân hàng cho vay cùng với một số tổ chức tín dụng,
hoặc chi nhánh của tổ chức tín dụng khác thực hiện việc cho vay một hoặc một
phần dự án, phương án, trong đó ngân hàng cho vay có thể là tổ chức đầu mối hoặc
là thành viên cho vay hợp vốn.


11

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân
hàng chấp nhận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín
dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự
động hoặc điểm ứng tiền mặt tại các Ngân hàng.

Cho vay theo hạn mức thấu chi: Ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp
thuận cho khách hàng được chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách
hàng tại Ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định, phù hợp với các quy đinh của
Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức
cung ứng dịch vụ thanh toán.
Các phương thức cho vay khác: Ngoài các phương thức cho vay nêu trên,
Ngân hàng cho khách hàng vay vốn theo các phương thức cho vay khác mà pháp
luật không cấm, phù hợp với Quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và điều kiện hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và đặc điểm của từng loại khách
hàng vay.
1.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của
ngân hàng. Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín
dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Khi ngân hàng rơi vào trạng
thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động
tín dụng của ngân hàng. Do đó, có thể nói rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp
và để đánh giá rủi ro tín dụng là việc làm khó khăn của ngân hàng. Rủi ro tín dụng
có thể xảy ra với bất kỳ khản tiền nào, bất cứ nơi nào và có thể xuất hiện trong các
mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, khách hàng là con nợ lại không thực
hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Vậy Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của
ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả
nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử


12


dụng phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng
thù: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Rủi ro tín dụng trong cho vay là một loại rủi ro tín dụng, là rủi ro về sự tổn
thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ người đi vay không thực hiện
nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán.
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu
nghiên cứu. Tùy theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các
loại khác nhau.
- Nếu căn cứ vào nguồn gốc phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia
thành các loại sau đây:
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro có liên quan đến quá
trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của
ngân hàng); rủi ro bảo đảm (rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho
vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo…); rủi ro nghiệp vụ (rủi ro liên quan đến
công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ
thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề).
Rủi ro danh mục là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những
hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội
tại (xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh
vực kinh tế) và rủi ro tập trung (rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào
một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định
hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao).
- Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi
ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. Rủi
ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa,



13

người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn
vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách. Rủi ro chủ
quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình
hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ
cấu các loại hình rủi ro, theo đối tượng sử dụng vốn vay…
1.2.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng
- Đối với ngân hàng:
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi
cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn,
điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ
thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi
gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh
khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, bị cấp
trên khiển trách. Đối với cấp dưới, do gặp phải rủi ro tín dụng nên không có tiền trả
lương cho nhân viên vì thế những người có năng lực sẽ thuyên chuyển công tác, gây
khó khăn cho ngân hàng.
Nói tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau:
nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng
nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân
hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân
hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ
thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết
sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho
vay.
- Đối với nền kinh tế:

Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và
các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì
người gởi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền
ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Ngân
hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp,


14

không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự
hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm
cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất
ổn định. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày
nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu Á (1997) và mới đây là
cuộc khủng hoảng tín dụng xảy ra ở Mỹ bắt đầu từ năm 2007 đã làm rung chuyển
toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh
nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có
liên quan.
1.2.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
1.2.4.1 Nguyên nhân khách quan
Sự tác động của các yếu tố khách quan bên ngoài thường khó dự đoán, khó
kiểm soát, gây ra những thiệt hại lớn cho khách hàng, ngân hàng và thường bao
gồm các loại sau:
- Sự thay đổi chính sách của Nhà nước
Khi các chính sách kinh tế vĩ mô có những thay đổi bất thường, không đồng
bộ tạo ra một môi trường pháp lý và môi trường hoạt động bất ổn, không thể dự
đoán trước tác động đến các khách hàng vay vốn gặp khó khăn trong kinh doanh
dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ cho ngân hàng.
Hệ thống luật pháp là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động tài chính ngân

hàng. Một hệ thống luật hoàn chỉnh là yêu cầu quan trọng cho sự phát triển của hoạt
động ngân hàng. Sự thiếu chặt chẽ, hoàn chỉnh của môi trường pháp luật tác động
xấu tới hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng trong cho vay ngân hàng
nói riêng. Kẽ hở của hệ thống văn bản pháp luật tạo điều kiện cho khách hàng lừa
đảo, chiếm dụng vốn ngân hàng, chây ỳ không chịu trả nợ hoặc gây khó khăn cho
quá trình thu hồi nợ của ngân hàng.
- Môi trường tự nhiên
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động sản


15

xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Điều kiện tự nhiên là yếu
tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm ngoài tầm kiểm soát
của con người. Vì vậy khi có thiên tai, lũ lụt xảy ra, khách hàng cùng ngân hàng sẽ
có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh bị đổ bể, doanh nghiệp không có
nguồn thu... điều đó đồng nghĩa với ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách
hàng của mình.
- Môi trường kinh tế xã hội
Hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào thói quen, truyền
thống, tập quán của người dân. Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế
việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Nhóm tác động bất khả kháng như biến động thị trường, thay đổi về lãi suất,
tỷ giá, ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và khu vực gây ra cho
các khách hàng những gánh nặng nợ nần không đáng có.
1.2.4.2 Nguyên nhân chủ quan
Rủi ro tín dụng trong cho vay thường xảy ra do các nguyên nhân chủ quan sau:
- Trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng.
Chất lượng cán bộ làm công tác tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc
sàng lọc được các khách hàng tốt, dự án tốt. Cán bộ tín dụng phải tiếp xúc với nhiều

khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí
nhiều quốc gia khác nhau. Để có được sự đánh giá chính xác về khách hàng, họ phải
thực sự am hiểu khách hàng, lĩnh vực ngành nghề mà khách hàng kinh doanh, môi
trường mà khách hàng sống. Cán bộ tín dụng phải có kỹ năng phân tích tổng thể và
chi tiết các thông tin về khách hàng cũng như về dự án đề nghị vay vốn, đồng thời
mỗi cán bộ tín dụng cũng cần có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến khách
hàng vay vốn. Như vậy, cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo bài bản và tự đào tạo
kỹ lưỡng và toàn diện.
Mặc khác, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tín dụng cũng rất quan trọng,
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của các khoản cho vay. Rủi ro tín dụng trong cho
vay rất dễ phát sinh khi cán bộ tín dụng cố ý làm sai quy trình tín dụng hay bỏ sót


16

một vài bước trong quy trình để nhằm nhận được những khoản "bồi dưỡng" từ
khách hàng.
- Nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng.
Cũng như các ngành kinh tế khác, nạn tham nhũng và hối lộ đã gây tổn thất
lớn cho hoạt động ngân hàng. Tình trạng tham nhũng làm suy yếu hệ thống tài
chính, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phân bổ các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế
và dẫn đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng.
Do vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế nên ngân hàng là nơi tập trung
nguồn lực tiền tệ của xã hội. Sự thoái hoá, biến chất của một số cán bộ ngân hàng tạo
cơ sở cho tệ nạn tham nhũng. Các vụ án tham nhũng, hối lộ có quy mô lớn xảy ra đa
phần có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng. Khả năng thu hồi những khoản này rất
thấp. Vì vậy, việc hạn chế tệ nạn này là một biện pháp để ngân hàng ngăn chặn phát
sinh rủi ro tín dụng trong cho vay.
- Sự quản lý yếu kém của ngân hàng.
Sự quản lý yếu kém trong hoạt động ngân hàng thể hiện ở một số nội dung

như: chậm điều chỉnh, ban hành mới các cơ chế, chính sách phù hợp; chỉ đạo nghiệp
vụ không sâu sát, kịp thời; không có các chính sách phòng ngừa rủi ro hoặc có
nhưng không hoàn thiện...
Rủi ro tín dụng trong cho vay có thể phát sinh từ tất cả các khâu trong quá
trình cấp tín dụng của NHTM bao gồm: giai đoạn trước khi cho vay, giai đoạn giải
ngân và giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng.
Ở giai đoạn trước khi cho vay, việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín
dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không
tốt sẽ dẫn đến phát sinh rủi ro trong tương lai.
Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân không tuân
thủ theo quy định tín dụng; yếu kém trong kiểm soát, theo dõi (không kiểm soát
hoặc kiểm soát không chặt chẽ mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, việc
kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng bị


17

buông lỏng, việc kiểm soát, theo dõi danh mục khoản vay không được thực thi một
cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng phát sinh rủi ro trong tương lai.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng.
Nhiều khách hàng có hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, giá thành cao,
doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng nên gặp rủi ro cao, và
kết quả là gây thiệt hại lớn cho vốn tín dụng.
Tài chính của nhiều doanh nghiệp không minh bạch gây ra khó khăn trong
việc thẩm định, đánh giá doanh nghiệp.
Một số khách hàng có tư tưởng lợi dụng kẽ hở của pháp luật để tính toán lừa
đảo, sử dụng vốn sai mục đích, vay không có ý định trả nợ. Trong đó, có giám đốc
doanh nghiệp nhà nước còn có những hành vi phạm pháp như chi tiêu lãng phí,
tham ô hoặc có ý chuyển tài sản Nhà nước sang tài sản cá nhân, còn thất thoát, mất
mát vỡ nợ thì Nhà nước chịu.

1.3 Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM
1.3.1 Khái quát khách hàng doanh nghiệp
1.3.1.1 Khái niệm doanh nghiệp
Theo Luật doanh nghiệp 2005 “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [8].
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản,
có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự
chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi
Luật doanh nghiệp và các quy định của pháp luật.
Trong giao dịch với ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp có đặc điểm sau:
- Thứ nhất: Trong ngân hàng, khách hàng doanh nghiệp là đối tượng khách
hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn về
doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng có
thể tiết kiệm được chi phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch. Cụ thể khi
vay vốn khách hàng doanh nghiệp thường vay với những khoản vay có giá trị lớn,
quy mô của từng hợp đồng vay lớn do đó ngân hàng tiết kiệm được chi phí tổ chức
cho vay.


18

- Thứ hai: Thông tin tài chính của khách hàng doanh nghiệp rõ ràng, được
thể hiện qua báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
1.3.1.2 Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp
Ngoài những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng thì hiện nay nguyên nhân
đặc thù dẫn đến rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp xuất phát từ đặc điểm
cho vay doanh nghiệp như sau:
- Các Ngân hàng thương mại cho vay doanh nghiệp với số tiền lớn, nên khi
phát sinh nợ quá hạn thì thường nợ quá hạn với món lớn, điều này có thể ảnh hưởng

đến tình hình hoạt động của các Ngân hàng nếu số lượng món vay “xấu” gia tăng
mà không có biện pháp xử lý kịp thời.
- Các doanh nghiệp thường đưa ra những báo cáo tài chính không đúng,
không chuẩn mực và chưa được kiểm toán dẫn đến trong quá trình phân tích và thẩm
định tín dụng không kỹ lưỡng, từ đó cán bộ tín dụng đưa ra những sai lầm trong
quyết định cho vay.
- Mặt khác, cũng có thể quyết định cho vay đúng đắn nhưng do thiếu kiểm tra
kiểm soát sau khi cho vay dẫn đến khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích
nhưng ngân hàng vẫn không phát hiện để ngăn chặn kịp thời.
- Về phía ngân hàng, các ngân hàng chưa thật sự tin tưởng vào hoạt động
kinh doanh của một số doanh nghiệp dẫn đến ngân hàng thường hạn chế cho vay để
giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn chưa hiểu và nắm bắt rõ được
đặc trưng hoạt động kinh doanh, nhu cầu của đối tượng khách hàng này, chính vì
vậy việc đánh giá phương án, dự án của doanh nghiệp chưa phù hợp, hiệu quả phục
vụ chưa cao.
Với thực tế nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp ngày càng tăng do các
doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, phát triển, giữ một vị trí quan trọng trong sự
phát triển của nền kinh tế. Chính vì vậy việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay
doanh nghiệp là rất cần thiết đối với các ngân hàng thương mại.
1.3.2 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM
Qua các đặc điểm trình bày ở trên có thể thấy việc hạn chế rủi ro tín dụng
trong cho vay doanh nghiệp là rất cần thiết và là một trong những nhiệm vụ thường
xuyên và quan trọng của ngân hàng thương mại.


×