Tải bản đầy đủ (.pdf) (89 trang)

Thao túng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 2016 (Luận văn thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 89 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THỰC TRẠNG THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2013-2016

Chun ngành: Tài chính – Ngân hàng

HỒNG HƯƠNG TRÀ

Hà Nội – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHỐN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2013-2016

Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201

Họ và tên: Hoàng Hương Trà
Người hướng dẫn Khoa học: PGS. TS. Lê Thị Thu Hà


Hà Nội – 2018


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Thao túng báo cáo tài chính của các cơng ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 - 2016” là cơng
trình do tơi tự nghiên cứu và hồn thành dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa
học.
Các số liệu và kết quả trình bày phản ánh trong bản Luận văn thạc sỹ này là
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn

Hoàng Hương Trà


ii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .............................................................................v
TÓM TẮT ĐỀ TÀI ................................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP .....................................................................................................8
1.1. Định nghĩa về thao túng báo cáo tài chính ...................................................8
1.2. Các phương pháp thao túng báo cáo tài chính phổ biến ..........................12

1.2.1. Khai khống hoặc ghi giảm doanh thu ............................................13
1.2.2. Ghi nhận sai niên độ .........................................................................14
1.2.3. Che giấu/Ghi tăng công nợ và chi phí .............................................14
1.2.4. Định giá sai tài sản ...........................................................................15
1.2.5. Khơng khai báo đầy đủ thông tin .....................................................16
1.3. Các yếu tố chi phối hành vi thao túng báo cáo tài chính ..........................17
1.3.1. Các yếu tố rủi ro liên quan đến Áp lực ............................................18
1.3.2. Các yếu tố rủi ro liên quan đến Cơ hội ............................................19
1.3.3. Các yếu tố rủi ro liên quan đến Thái độ/Tính cách ........................20
1.4. Hậu quả của thao túng báo cáo tài chính ...................................................21
1.5. Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc hạn chế thao túng
báo cáo tài chính ..................................................................................................23
1.5.1. Kinh nghiệm từ Hoa Kỳ ....................................................................23
1.5.2. Kinh nghiệm từ Trung Quốc ............................................................25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM .........................................................................................................................28
2.1. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam......................................28
2.1.1. Tổng quan về các công ty niêm yết...................................................28


iii

2.1.2. Nghĩa vụ cơng bố báo cáo tài chính của các công ty niêm yết .......29
2.2. Thực trạng thao túng báo cáo tài chính của các cơng ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2013 – 2016 .....................................30
2.2.1. Xét theo chỉ tiêu doanh thu...............................................................31
2.2.2. Xét theo chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế ................................................33
2.3. Đánh giá thực trạng thao túng báo cáo tài chính tại Việt Nam................48
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ THAO TÚNG BÁO CÁO

TÀI CHÍNH CỦA CÁC CƠNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ..............................................................................56
3.1 Tăng cường cơ chế giám sát thơng tin trên thị trường chứng khốn Việt
Nam .......................................................................................................................56
3.2 Các giải pháp nhằm hạn chế thao túng báo cáo tài chính của các cơng ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam .............................................58
3.2.1 Giải pháp đối với các công ty niêm yết ..............................................58
3.2.2 Giải pháp đối với các nhà đầu tư ......................................................62
3.2.3 Kiến nghị đối với các tổ chức tín dụng .............................................66
3.2.4 Kiến nghị đối với kiểm tốn viên và các tổ chức kiểm toán độc lập 67
3.2.5 Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước .......................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CTNY

Công ty niêm yết

BCTC

Báo cáo tài chính

HĐQT

Hội đồng quản trị


LNST

Lợi nhuận sau thuế

TTCK

Thị trường chứng khoán

UBCKNN

Ủy ban chứng khoán nhà nước


v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016 ...28
Bảng 2.2: Tỷ lệ các cơng ty có điều chỉnh tăng/giảm doanh thu sau kiểm toán 31
Bảng 2.3: Top DNNY tăng lãi và thoát lỗ sau kiểm toán 2014 ...........................38
Bảng 2.4: Top DNNY giảm lãi và tăng lỗ sau kiểm toán 2014 ............................40

Hình 1.1: Sơ đồ Cây Gian Lận (Fraud Tree) .......................................................11
Hình 1.2: Tỷ lệ số vụ gian lận theo từng hình thức giai đoạn 2012 – 2016 ........12
Hình 1.3: Mức độ thiệt hại trung bình từng loại gian lận gây ra cho nền kinh tế
giai đoạn 2012 – 2016 ..............................................................................................12
Hình 1.4: Tam giác gian lận ...................................................................................18
Hình 2.1: Tình hình phải điều chỉnh số liệu LNST sau kiểm toán của các cơng
ty niêm yết năm 2013 ..............................................................................................34
Hình 2.2: LNST trước và sau kiểm toán 2013 của một số doanh nghiệp niêm

yết giảm đáng chú ý.................................................................................................34
Hình 2.3: LNST trước và sau kiểm toán 2013 của một số doanh nghiệp chênh
lệch tăng đáng chú ý ................................................................................................36
Hình 2.4: Thống kê cơng ty niêm yết tuân thủ đúng và đầy đủ nghĩa vụ công bố
thông tin giai đoạn 2012-2016 ................................................................................50


vi

TĨM TẮT ĐỀ TÀI

Thơng tin ln được xem là một nguồn “tài sản” vô cùng giá trị đối với bất
kỳ nhà đầu tư nào trên thị trường chứng khoán. Một trong những nguồn cung cấp
thông tin quan trọng và đáng tin cậy nhất về các công ty niêm yết là báo cáo tài
chính (BCTC) bới đây là một kênh thơng tin đã được chuẩn hóa với các chuẩn mực
chung được đặt ra cho tất cả các công ty đại chúng, và được lượng hóa bởi những
con số, chỉ tiêu tài chính cụ thể, như tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận hay
dòng tiền trong kỳ của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều vụ
bê bối liên quan đến thông tin và công bố thông tin của các công ty niêm yết đã gây
ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhà đầu tư cũng như tính ổn định của thị trường.
Luận văn đã tìm hiểu và phân tích các cơ sở lý luận về thao túng BCTC, những
phương pháp thao túng BCTC phổ biến, các yếu tố chi phối hành vi này và tác động
của thao túng tới các đối tượng có liên quan. Thêm vào đó, người viết cũng tìm hiểu
và chỉ ra những bài học kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Trung Quốc trong công cuộc
phòng ngừa và xử lý thao túng BCTC.
Tiếp đến, luận văn đi sâu phân tích thực trạng thao túng BCTC của các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2013 – 2016, từ đó đưa ra đánh giá khái
quát các vấn đề nổi cộm về tình hình minh bạch thông tin BCTC, những biện pháp
hạn chế thao túng BCTC mà các cơ quan chức năng đã sử dụng, hiệu quả cũng như
hạn chế của những biện pháp đó. Cuối nghiên cứu, người viết đưa ra các giải pháp

nhằm hạn chế tình hình thao thúng BCTC và nâng cao chất lượng BCTC của các
CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm xây dựng một TTCK Việt Nam
minh bạch, hiệu quả.


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chất lượng thơng tin của các công ty niêm yết luôn được xem là mối quan tâm
của nhiều chủ thể trên thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư. Việc nắm bắt được
thơng tin về doanh nghiệp một cách chính xác và nhanh chóng là yếu tố then chốt
giúp các nhà đầu tư đưa ra được những quyết định đúng đắn, và nhờ đó, các nguồn
lực trên thị trường được phân bổ một cách hợp lý.
Báo cáo tài chính (BCTC) được xem là một trong những nguồn cung cấp thông
tin quan trọng và đáng tin cậy nhất về các công ty niêm yết, bởi đây là một kênh
thông tin đã được chuẩn hóa với các chuẩn mực chung được đặt ra cho tất cả các
cơng ty đại chúng, và được lượng hóa bởi những con số, chỉ tiêu tài chính cụ thể,
như tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận hay dòng tiền trong kỳ của doanh
nghiệp. Chính vì thế, BCTC ln cần được đảm bảo tính minh bạch và phản ánh
đúng thực trạng của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong những năm gần đây, nhiều vụ
bê bối liên quan đến thông tin và công bố thông tin của các công ty niêm yết đã gây
ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhà đầu tư cũng như tính ổn định của thị trường.
Mặc dù các cơ quan quản lý đã ban hành những quy định chặt chẽ về việc công bố
thông tin của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khốn Việt Nam, nhưng
các cơng ty niêm yết vẫn ln tìm cách che giấu những thông tin bất lợi và “làm
đẹp” BCTC. Khi thao túng BCTC vượt quá giới hạn khuôn khổ pháp luật cho phép,
hành vi đó biến thành gian lận. Ngày càng có nhiều vụ gian lận BCTC bị phanh
phui ở nước ta, có thể kể đến những trường hợp của Công ty Cổ phần Bông Bạch
Tuyết (BBT), Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông (DVD), Công ty Cổ phần Tập

đoàn Đại Dương (OGC), hay gần đây là trường hợp của Cơng ty Cổ phần Tập đồn
Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF). Việc các doanh nghiệp cố tình che giấu tình hình
tài chính thực tế và chỉ đến khi báo cáo kiểm tốn được cơng bố, các nhà đầu tư
cũng như các bên liên quan khác mới vỡ lẽ đã gây nên những thiệt hại nặng nề cho
tất cả các bên liên quan: doanh nghiệp phá sản, giá cổ phiếu tụt dốc, thị trường bất
ổn định, nhà đầu tư mất tiền, các chủ nợ khơng địi được nợ.


2

Do vậy, thao túng BCTC luôn là một chủ đề rất được quan tâm. Để hạn chế
thao túng báo cáo tài chính, việc minh bạch hóa các thơng tin kế tốn, tài chính trên
thị trường chứng khốn Việt Nam đang thực sự trở thành một yêu cầu cấp bách hơn
bao giờ hết, và q trình này cần thiết phải có sự nỗ lực chung tay của các cơ quan
quản lý cũng như tất cả các thành phần tham gia trên thị trường, từ đó góp phần xây
dựng một thị trường hiệu quả hơn trong bối cảnh nền kinh tế nước nhà đang hội
nhập hóa và ngày càng phát triển.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Thao túng báo cáo
tài chính của các cơng ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai
đoạn 2013 - 2016” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Nghiên
cứu này sẽ phần nào làm rõ về tình hình thao túng BCTC của các doanh nghiệp
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao khả năng hạn chế thao túng BCTC cũng như một số lưu ý
hữu ích cho các nhà đầu tư trước khi đưa ra các quyết định đầu tư quan trọng.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng thao túng BCTC của các cơng ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị phù hợp cho các đối tượng có liên
quan để hạn chế thao túng BCTC
Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn này sẽ thực hiện những nhiệm
vụ sau:
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về thao túng BCTC của doanh nghiệp.
Tìm hiểu thực trạng sai lệch giữa BCTC trước và sau kiểm tốn của các cơng ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2016.
Tìm hiểu những biện pháp Việt Nam đã thực hiện để hạn chế thao túng BCTC,
chỉ ra nguyên nhân về những vấn đề tôn đọng chưa được giải quyết.


3

Tìm hiểu kinh nghiệm hạn chế thao túng BCTC của Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ
đó làm cơ sở đưa ra các giải pháp cho Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Các biểu hiện thao túng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu
Mẫu số liệu được lấy từ các BCTC trước và sau kiểm toán của tất cả các công ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam (cả hai sàn HOSE và HNX) trong giai đoạn từ năm
2013 đến 2016, nguồn số liệu lấy từ cơ sở dữ liệu của StoxPlus và
VietstockFinance.
Khi đề xuất giải pháp hạn chế thao túng BCTC, luận văn kiến nghị những giải pháp
cho giai đoạn từ nay đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn bao gồm: phương pháp thu
thập, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp xử lý
thơng tin, phương pháp so sánh – đối chiếu và phương pháp hệ thống hóa.
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nhiều cơng trình nghiên cứu về thao túng BCTC trên nhiều góc độ khác nhau đã
được tiến hành trên thế giới nhằm giúp các nghề nghiệp có liên quan tìm được các

biện pháp ngăn ngừa, phát hiện thao túng, gian lận.
Là nghiên cứu tiên phong về xây dựng mơ hình dự đốn khả năng thao túng
BCTC, mơ hình M-score (M là viết tắt của “manipulation” – thao túng) (1999),
Beneish thiết lập một mơ hình dự đốn (gọi là tỷ số M-Score) để đánh giá có hay
khơng khả năng cơng ty gian lận BCTC dựa vào các kỹ thuật gian lận thường được
sử dụng. Kết quả đưa ra dựa trên mơ hình này giúp các nhà kiểm toán, nhà đầu tư,
cơ quan quản lý nhận diện một cơng ty có khả năng thao túng BCTC hay khơng với
xác suất dự đốn đúng 76%. Mơ hình Beneish đã giúp sinh viên trường đại học


4

Cornell phát hiện gian lận của công ty Enron trước một năm thời điểm công ty này
phá sản trong khi kiểm tốn khơng tìm thấy.
Được phát triển dựa trên M-score của Beneish, mơ hình F-score của Dechow và
các cộng sự (2011) có thế các biến số phi tài chính- các hoạt động ngoại bảng và dữ
liệu thị trường. Mơ hình dự báo được trình bày với ba mức độ và độ chính xác lần
lượt là: 65,9%; 65,7% và 63,36%.
Một trong những nghiên cứu có ý nghĩa vơ cùng quan trọng về gian lận đó là mơ
hình Tam giác gian lận (Fraud Triangle) do Donald R. Cressey đưa ra năm 1953.
Theo ông, có nhiều nguyên nhân để một người thực hiện hành vi gian lận; tuy
nhiên, tất cả các nguyên nhân đều được tổng hợp thành ba nhóm nhân tố chính: áp
lưc, cơ hội và thái độ, cá tính. Thực hiện khảo sát với khoảng 200 trường hợp tội
phạm kinh tế, ơng tập trung phân tích gian lận dưới góc độ tham ơ và biển thủ nhằm
tìm ra ngun nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật trên. Ngày nay, mơ hình
Tam giác gian lận của Cressey đã trở thành một trong những mơ hình chính thống
dùng trong nhiều nghề nghiệp khác nhau trong việc nghiên cứu gian lận, trong đó
có kiểm tốn.
Năm 1980, Romney và cộng sự đã đưa ra các dấu hiệu báo động đỏ (red flags)
để dự báo gian lận. Sau đó, Albrecht và Romney (1986) đã sử dụng 87 dấu hiệu này

để nghiên cứu gian lận. Các tác giả đã chỉ ra rằng, một phần ba trong số các dấu
hiệu trên có ý nghĩa trong tiên đoán gian lận và một số lượng lớn các biến khác rất
hữu ích trong dự đốn về tính chính trực của Ban Giám đốc. Dựa trên kết quả này,
Loebbecke và cơng sự (1989) đã tiếp tục phát triển mơ hình tiên đốn rủi ro có gian
lận và cung cấp bằng chứng rằng gian lận trên BCTC là hệ quả của các yếu tố như
động cơ và thái độ. Nhiều nghiên cứu sau này cũng cho thấy mơ hình của
Loebbecke và công sự (1989) khá hữu hiệu trong việc phát hiện gian lận (Bell và
Carcello, 2000; Nieschweitz và cộng sự, 2000; Wilks và Zimbelman, 2004). Tuy
nhiên, một số nghiên cứu khác lại chứng minh các dấu hiệu báo động đỏ không có
hoặc ít có khả năng dự báo gian lận (Asare và Wright, 2004; Cottrell và Albrecht,
1994; Pincus, 1989).


5

Gần đây, khi đánh giá sự hữu hiệu của tam giác gian lận, Skousen và cộng sự
(2009) đã xác định được 5 yếu tố Động cơ/Áp lực và 2 yếu tố cơ hội có mối quan hệ
có ý nghĩa thống kê với khả năng xảy ra gian lận trên BCTC với các biến đại diện
cho các yếu tố này bao gồm: tốc độ tăng trưởng nhanh của tài sản, sự tăng lên của
nhu cầu tiền mặt và nhu cầu huy động vốn từ bên ngoài, việc nắm giữ cổ phiếu của
cổ đơng bên trong và bên ngồi doanh nghiệp, và đặc điểm của HĐQT, số lượng
thành viên độc lập trong Ủy ban kiểm toán. Tương tự, Lou và Wang (2011) cũng
nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố của tam giác gian lận và khả năng BCTC
có gian lận. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hành vi gian lận có mối quan hệ có ý
nghĩa thống kê với các biến đại diện cho các yếu tố của tam giác gian lận như địn
bẩy tài chính, tỷ lệ doanh thu cho các bên liên quan, số lần điều chỉnh BCTC, số lần
thay đổi kiểm toán viên, tỷ lệ cổ phiếu của Ban Giám đốc và HĐQT bị cầm cố, sai
sót trong dự báo của chun gia phân tích tài chính. Các mơ hình nghiên cứu của
Skousen và cơng sự (2009) và Lou và Wang (2011) đều có khả năng dự báo gian
lận.

Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu của các cá nhân, ở Hoa Kỳ, có một tổ chức
chuyên nghiên cứu về gian lận và thường xuyên đưa ra các báo cáo về nghiên cứu
và điều tra gian lận trên tồn thế giới, đó là Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa
Kỳ (The Association of Certified Fraud Examiners - ACFE). Được thành lập vào
năm 1993, kể từ đó đến nay, ACFE liên tục xuất bản các báo cáo định kỳ. Trong
báo cáo năm 2016, tổ chức này đã tiến hành nghiên cứu và phân tích 2.410 vụ gian
lận nghề nghiệp được phát hiện và điều tra tại 114 quốc gia khác nhau trên thế giới.
Tại Việt Nam, gần đây cũng có những cơng trình nghiên cứu về phát hiện gian
lận báo cáo tài chính. Đáng kể nhất phải nhắc đến nghiên cứu về “Đánh giá rủi ro
gian lận BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam” của Trần Thị Giang Tân và
cộng sự (2014), sử dụng phân tích hồi quy Logit để xem xét mối quan hệ giữa các
yếu tố của tam giác gian lận và khả năng xảy ra gian lận trên BCTC. Kết quả cho
thấy khả năng xảy ra gian lận có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với 3 yếu tố về
động cơ/áp lực, với 1 yếu tố về cơ hội và 2 yếu tố về thái độ. Mơ hình sử dụng các


6

biến trên có khả năng dự báo đúng 83,33% các công ty thuộc mẫu nghiên cứu và dự
báo đúng 80% các cơng ty ngồi mẫu nghiên cứu.
Bên cạnh đó, có thể kể đến nghiên cứu “Mơ hình Beneish dự đốn sai sót trong
yếu trong Báo cáo tài chính” của Nguyễn Cơng Phương và Nguyễn Trần Ngun
Trân, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Số 206, tháng 08/2014. Để phù hợp với ngữ
cảnh ở Việt Nam, một số lưu ý được đưa ra nhằm tính tốn một số biến của mơ
hình. Sử dụng hàm Excel để tính tốn biến và các chỉ số M-score của mơ hình với
30 cơng ty có sai sót trọng yếu trong BCTC năm 2012 do kiểm tốn phát hiện và
cơng bố. Kết quả kiểm chứng cho thấy mơ hình dự đốn đúng xác suất tới 53,33%.
Vậy nên, đóng góp lứn nhất của nghiên cứu là mở đường cho việc cây dựng Mscore ở Việt Nam.
6. Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thao túng báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng thao túng báo cáo tài chính của các cơng ty niêm yết trên
thị trường chứng khốn Việt Nam giai đoạn 2013-2016
Chương 3: Các giải pháp nhằm hạn chế thao túng báo cáo tài chính của các cơng
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam


7

Do hạn chế về mặt thời gian và nguồn tài liệu tham khảo nên luận văn này
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp, đánh giá của các thầy cơ để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cám ơn PGS. TS. Lê Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện bài luận văn này.


8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THAO TÚNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.1. Định nghĩa về thao túng báo cáo tài chính
Thao túng BCTC bao gồm các hành vi làm sai lệch BCTC trên khía cạnh
trọng yếu, là nguyên nhân chính dẫn đến thơng tin bất cân xứng trên TTCK.
Dưới góc độ quản trị trong doanh nghiệp, thao túng BCTC được xuất phát từ
khái niệm quản trị lợi nhuận (earnings management). Nếu như các thủ thuật BCTC
vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và các chuẩn mực kế toán cho phép thì chất
lượng thơng tin cơng bố ra cơng chúng không bị ảnh hưởng quá nhiều. Tuy nhiên,
khi hành vi này vượt quá giới hạn cho phép, nó sẽ được coi là hành vi gian lận.
Theo chuẩn mực kiểm toán số 240 về Trách nhiệm của kiểm toán viên liên
quan đến gian lận trong q trình kiểm tốn BCTC (Ban hành kèm theo Thông tư số

214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính): “Các sai sót
trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn. Để phân biệt giữa gian lận
và nhầm lẫn, cần phải xem xét hành vi dẫn đến sai sót trong BCTC là cố ý hay
không cố ý.”
Như vậy, nhầm lẫn là hành vi khơng có chủ ý, có thể do năng lực hạn chế
hoặc do sao nhãng, thiếu thận trọng trong cơng việc, ngược lại gian lận là hành vi
cố tình, có chủ ý gây ra sai sót nhằm mục đích trục lợi. Gian lận có thể mang lại lợi
ích cho cá nhân hay cho tổ chức. Khi cá nhân thực hiện gian lận, lợi ích có thể là
trực tiếp (như nhận tiền hay tài sản), hoặc gián tiếp (như thăng chức, tăng quyền
lực). Khi tổ chức (thường là nhân viên hành động trên tư cách tổ chức) thực hiện
gian lận thì lợi ích thu được thường là trực tiếp dưới hình thức thu nhập của cơng ty
tăng lên.
Gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban
Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu
lợi bất chính hoặc bất hợp pháp. Việc thao túng BCTC dẫn tới gian lận có liên quan
đến các sai sót cố ý, như cố ý bỏ sót số liệu hoặc thông tin thuyết minh của BCTC
để lừa dối người sử dụng báo cáo tài chính. Sai sót cố ý có thể xuất phát từ chủ định


9

của Ban Giám đốc nhằm điều chỉnh kết quả kinh doanh, làm người sử dụng BCTC
hiểu sai về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán.
Theo nghiên cứu của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ - AFCE,
gian lận trên BCTC là loại gian lận mà các thông tin trên BCTC bị bóp méo, phản
ánh khơng trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lừa gạt người sử dụng
thơng tin. Ví dụ như khai khống doanh thu, giảm nợ phải trả hay chi phí.
Theo Chuẩn mực kế toán số 320 - Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
(Mức trọng yếu trong lập kế hoạch và thực hiện kiểm tốn): Nhìn chung, mức trọng
yếu được hiểu như sau:

-

Những sai sót, bao gồm cả việc bỏ sót, được coi là trọng yếu nếu những
sai sót này, khi xét riêng lẻ hoặc tổng hợp lại, được xem xét ở mức độ
hợp lý, có thể gây ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng
BCTC;

-

Những xét đoán về mức trọng yếu được thực hiện trong từng trường hợp
cụ thể và bị ảnh hưởng bởi quy mô hay bản chất của sai sót, hoặc được
tổng hợp của cả hai yếu tố trên;

-

Những xét đoán về các vấn đề trọng yếu đối với người sử dụng BCTC
phải dựa trên việc xem xét các nhu cầu chung về thông tin tài chính của
nhóm người sử dụng, như các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ. Những ảnh
hưởng có thể có của các sai sót đến một số ít người sử dụng thơng tin trên
BCTC mà nhu cầu của họ có nhiều khác biệt so với phần lớn những
người sử dụng thông tin trên BCTC sẽ không được xét đến.

Như vậy, các sai sót mang tính trọng yếu trong BCTC sẽ ảnh hưởng đến các
quyết định kinh tế của những người sử dụng BCTC, bao gồm: các nhà đầu tư, các
chủ nợ, ngân hàng, các đối tác và ngay cả Ban lãnh đạo của cơng ty.
Theo Chuẩn mực kế tốn số 240 - Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
(Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong q trình kiểm tốn
BCTC): Có hai loại sai sót do cố ý mà kiểm toán viên cần quan tâm, là sai sót phát
sinh từ gian lận BCTC và sai sót do biển thủ tài sản.



10

Sai sót trọng yếu phát sinh từ gian lận BCTC là việc cố tình cung cấp sai
lệch hoặc thiếu sót các khoản tiền hoặc thuyết minh trong BCTC nhằm mục đích
đánh lừa người sử dụng BCTC, dẫn tới việc BCTC khơng được trình bày phù hợp
với các ngun tắc kế tốn trên mọi khía cạnh trọng yếu. Gian lận BCTC có thể
được thực hiện bằng các cách sau đây:
-

Xuyên tạc, giả mạo hoặc thay đổi các bút toán kế toán hoặc các tài liệu,
giấy tờ được dùng làm cơ sở để lập BCTC.

-

Khai báo sai hoặc thiếu một cách có chủ ý các sự kiện, giao dịch hoặc các
thông tin quan trọng khác trong BCTC.

-

Cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến các số liệu, sự
phân loại, cách trình bày hoặc thuyết minh.

Sai sót trọng yếu phát sinh từ biển thủ tài sản liên quan đến các hành vi trộm
cắp tài sản của một doanh nghiệp, dẫn đến việc BCTC khơng được trình bày phù
hợp với các ngun tắc kế tốn trên mọi khía cạnh trọng yếu. Biển thủ tài sản có thể
đi kèm với việc giả mạo chứng từ, tài liệu nhằm che giấu sự thật là các tài sản đó đã
bị mất hoặc đã được thế chấp mà không được phép. Hành vi biển thủ tài sản có thể
được biểu hiện theo nhiều dạng khác nhau như:
-


Biển thủ các khoản thu (ví dụ biển thủ các khoản phải thu đã thu được
tiền hoặc chuyển các khoản phải thu đã bị xử lý xóa sổ sang tài khoản cá
nhân tại ngân hàng);

-

Lấy cắp tài sản vật chất hoặc tài sản trí tuệ (ví dụ lấy cắp hàng tồn kho,
phế liệu, bán các tài liệu kỹ thuật cho đối thủ cạnh tranh);

-

Làm cho đơn vị phải thanh tốn tiền cho hàng hóa và dịch vụ mà đơn vị
khơng nhận được (ví dụ thanh tốn cho những người bán khơng có thực,
thanh tốn cho người bán với mức cao hơn giá trị thật để cá nhân được
hưởng hoa hồng do chênh lệch giá, thanh toán cho các nhân viên khơng
có thực);

-

Dùng tài sản của đơn vị để đem lại lợi ích cho cá nhân (ví dụ dùng tài sản
của đơn vị làm tài sản thế chấp cho khoản vay cá nhân hoặc khoản vay
cho một bên liên quan).


11

Theo nghiên cứu của ACFE, hành vi gian lận trong doanh nghiệp được chia
thành 3 loại, bao gồm: biển thủ tài sản, tham nhũng và gian lận BCTC. Từ 3 hình
thức này, gian lận lại được chia nhỏ ra các trường hợp nhỏ hơn, tất cả đều được hệ

thống hóa bằng sơ đồ Cây Gian Lận (Fraud Tree).

Hình 1.1: Sơ đồ Cây Gian Lận (Fraud Tree)
Nguồn: Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)

Cũng theo Báo cáo quốc gia về Gian lận và lạm dụng trong Nghề nghiệp
năm 2016 mà ACFE đưa ra, biển thủ tài sản là hình thức gian lận chiếm tỷ trọng cao
nhất, 83,5% tổng số vụ, tuy nhiên nó lại gây ra cho nền kinh tế mức thiệt hại thấp
nhất (trung bình USD 125.000/ vụ). Trong khi đó, gian lận trên BCTC tuy chiếm tỷ
trọng thấp nhất (9,6%) nhưng lại gây ra mức thiệt hại cao nhất cho nền kinh tế với
con số USD 975.000/ vụ. Tham nhũng chiếm 35.4% số vụ và gây ra thiệt hại trung
bình là USD 200.000/ vụ.


12

Có thể thấy rằng, tình trạng này khơng chỉ đúng với năm 2016 mà còn là thực trạng
chung của các năm trước đó với mức độ dao động khơng đáng kể.

Hình 1.2: Tỷ lệ số vụ gian lận theo từng hình thức giai đoạn 2012 – 2016
Nguồn: Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)

Hình 1.3: Mức độ thiệt hại trung bình từng loại gian lận gây ra cho nền kinh
tế giai đoạn 2012 – 2016
Nguồn: Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE)
1.2. Các phương pháp thao túng báo cáo tài chính phổ biến
Có 5 phương pháp thao túng BCTC phổ biến, bao gồm:
-

Khai khống hoặc ghi giảm doanh thu


-

Ghi nhận sai niên độ


13

-

Che giấu/Ghi tăng cơng nợ và chi phí

-

Định giá sai tài sản

-

Không khai báo đầy đủ thông tin.

1.2.1. Khai khống hoặc ghi giảm doanh thu
Khai khống doanh thu là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng
hoặc cung cấp dịch vụ không diễn ra trong thực tế. Kỹ thuật thường được các doanh
nghiệp sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo, lập chứng từ giả mạo, cố ý ghi
tăng các nhân tố trên hóa đơn như số lượng, giá bán hoặc ghi nhận doanh thu khi
các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, quyền sở hữu và trách nhiệm về rủi ro đối
với hàng hóa – dịch vụ chưa được chuyển qua bên mua.
Một hình thức thao túng khác là lợi dụng giao dịch với các bên liên quan, ví
dụ như các cơng ty mẹ thành lập cơng ty con với mục đích đặc biệt như chuyển lỗ,
giấu chi phí phục vụ cho cơng ty mẹ. Mục đích của việc khai khống doanh thu là

nhằm làm đẹp BCTC của doanh nghiệp.
Ngược lại, người lập BCTC cũng có thể ghi giảm doanh thu để trốn thuế thu
nhập doanh nghiệp. Ví dụ, doanh nghiệp bán hàng nhưng lại cố tình khơng xuất hóa
đơn, hoặc khi khách hàng u cầu xuất hóa đơn thì lại trì hỗn làm cho khách hàng
không đủ kiên nhẫn và bỏ qua việc lấy hóa đơn. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ giảm
được một phần thu nhập chịu thuế.
Một số ví dụ về kỹ thuật này bao gồm:
 Xuất hóa đơn nhưng khơng giao hàng (bill-and-hold);
 Người cho thuê ghi nhận khoản thuê vào doanh thu, nhất là khi người
đi thuê coi giao dịch này là một loại thuê hoạt động (Sales-type lease);
 Ghi nhận doanh thu tại thời điểm ký hợp đồng nhưng trước khi giao
hàng/thực hiện dịch vụ;
 Ghi nhận doanh thu trước khi hoàn thành hết các điều khoản của hợp
đồng;
 Sử dụng swap hoặc trao đổi hàng hóa để tạo doanh thu.


14

1.2.2. Ghi nhận sai niên độ
Theo Chuẩn mực kế toán số 01 Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (2012)
về Chuẩn mực chung: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng
có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.”
Tuy nhiên, kế tốn có thể ghi nhận các khoản doanh thu hay chi phí khơng
đúng với kỳ phát sinh để thao túng thu nhập theo mong muốn. Chẳng hạn, doanh
thu của kỳ kế toán sau hoặc trước được dịch chuyển về năm niêm yết, và chi phí của
năm niêm yết được đẩy dồn vào chi phí các năm sau hoặc năm trước.
Một cách khác để thao túng BCTC là lợi dụng các phương pháp ghi nhận
doanh thu. Đối với các hợp đồng cung cấp sản phẩm, dịch vụ dài hạn, doanh thu có

thể được ghi nhận theo hai phương pháp: phương pháp phần trăm ghi nhận theo
phần trăm hoàn thành và ghi nhận doanh thu khi hợp đồng đã hoàn thành. Trong
trường hợp ghi nhận doanh thu theo phần trăm hồn thành, doanh nghiệp có thể
thao túng bằng cách tăng ước lượng phần trăm hồn thành cơng việc để ghi nhận
phần doanh thu cao hơn vào một kỳ nào đó tùy theo ý muốn của nhà quản lý nhằm
đạt được chỉ tiêu lợi nhuận của kỳ đó. Do tổng doanh thu không đổi nên doanh thu
của các kỳ khác sẽ thấp hơn. Trong trường hợp ghi nhận doanh thu khi hợp đồng
hoàn thành, doanh thu của doanh nghiệp sẽ tăng vọt vào những kỳ cuối của hợp
đồng dài hạn. Doanh nghiệp lựa chọn phương pháp này khi không thể ước lượng
chi phí một cách hợp lý đồng thời có thể giảm lợi nhuận dẫn đến giảm thuế trong
các kỳ đầu. Tuy nhiên, phương pháp này không thể hiện đúng bản chất của tiến độ
kinh doanh của giao dịch.
1.2.3. Che giấu/Ghi tăng cơng nợ và chi phí
Người lập BCTC có thể ghi tăng chi phí để làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp,
từ đó giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Ngược lại, người lập BCTC cũng
có thể bỏ qua hoặc ghi giảm chi phí nhằm mục đích khai khống lợi nhuận, khi đó,
lợi nhuận sẽ tăng đúng bằng chi phí hay khoản cơng nợ bị che giấu đó, BCTC sẽ trở
nên “đẹp” hơn.


15

Một cách che giấu nợ là trì hỗn việc ghi nhận khoản nợ trong tháng 12 của năm tài
khóa (khi chi phí của năm hiện hành khơng lớn) và khoản nợ này sẽ được ghi nhận
trong tháng 1 của năm tài khóa tiếp theo. Đây là một biện pháp dễ thực hiện và khó
phát hiện vì khơng để lại dấu vết.
Các biện pháp che giấu cơng nợ và chi phí bao gồm:
 Khơng ghi nhận cơng nợ và chi phí: bỏ qua không ghi nhận một số loại nghĩa
vụ tạo ra cơng nợ của doanh nghiệp như mua hàng hóa, phải trả công nhân
viên, vay nợ, nhận ký cược, ký quỹ; bỏ qua việc ghi nhận khoản phải trả; ghi

nhận khoản phải trả về kỳ sau; giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lạị.
 Không ghi nhận đầy đủ chi phí trả, chi phí dồn tích, khơng trích lập dự
phòng khoản phải trả
 Thay đổi thời gian phân bổ chi phí trả trước (chẳng hạn tăng thời gian phân
bổ nhằm giảm chi phí trong năm tài khóa, dẫn tới tăng lợi nhuận)
 Vốn hóa chi phí đi vay khi chưa đủ điều kiện: doanh nghiệp hạch toán các
khoản chi phí phát sinh vào giá trị tài sản mặc dù các khoản chi phí này chưa
đủ điều kiện được vốn hóa được quy định trong Chuẩn mực kế tốn số 16 –
Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (2012) về Chi phí đi vay.
1.2.4. Định giá sai tài sản
Doanh nghiệp có khả năng áp dụng sai phương pháp định giá các tài sản như
hàng tồn kho, các khoản dự phòng khoản phải thu, khoản phải trả, các tài sản mua
qua hợp nhất kinh doanh, khấu hao tài sản cố định, khơng vốn hóa đầy đủ các chi
phí vơ hình, phân loại không đúng tài sản.
Lý do là bởi những khoản mục này trong BCTC khó có thể xác định được một
cách đáng tin cậy mà chỉ có thể ước tính. Ước tính kế tốn được đưa ra dựa trên các
nhận định mang tính chủ quan của người lập BCTC, nên khó có thể có một tiêu
chuẩn đánh giá các ước tính này một cách hợp lý. Vì vậy, doanh nghiệp có thể lợi
dụng các ước tính kế tốn này để tác động tới lợi nhuận.
Hành vi thao túng bằng định giá sai tài sản có thể được thực hiện thơng qua
các hình thức sau:


16

 Không ghi giảm giá trị hàng tồn kho đã hư hỏng, khơng cịn sử dụng được
 Ước tính thời gian khấu hao không hợp lý
 Không lập hoặc lập khơng chính xác (tăng/giảm) các khoản dự phịng giảm
giá hàng tồn kho, dự phịng khoản phải thu khó địi, dự phịng giảm giá đầu
tư tài chính

 Vốn hóa các chi phí khi chưa đủ điều kiện
 Thơng đồng với bên thứ 3 ghi tăng giá mua
1.2.5. Không khai báo đầy đủ thông tin
Một trong những nguyên tắc của thao túng là ln ln che giấu hành vi của
mình. Các doanh nghiệp có hành vi thao túng ln tìm các che giấu vi phạm trong
sổ kế toán và trong BCTC. Một hình thức để che giấu vi phạm chính là khơng công
bố các thông tin quan trọng trong BCTC hoặc công bố thơng tin nhưng khơng thích
hợp, khơng đầy đủ. Theo khảo sát của Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ,
các thông tin thường không được doanh nghiệp công bố đầy đủ là: nợ tiềm tàng,
những thay đổi về chính sách kế tốn, giao dịch với bên có liên quan (như nhà đầu
tư, công ty cùng hệ thống), tăng giảm vốn chủ sở hữu, các sự kiện phát sinh doanh
thu hoặc chi phí sau ngày khóa sổ kế toán.
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều áp dụng các phần mềm kế toán và
đồng bộ hệ thống máy tính nên việc hồn thiện BCTC khơng mất nhiều thời gian
nếu như các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong kỳ đều được xử lý kịp thời. Do đó,
việc chậm nộp BCTC hoặc BCTC kiểm tốn rất có thể là một dấu hiệu cho thấy
doanh nghiệp đang gặp vấn đề trong việc cân nhắc, chỉnh sửa BCTC, hoặc đơn vị
kiểm toán mất nhiều thời gian để kiểm toán BCTC của doanh nghiệp.
Sự tồn tại của các dấu hiệu rủi ro và các tín hiệu báo động về kế tốn này
khơng đồng nghĩa với việc chắc chắn cơng ty đang có gian lận về kế tốn. Tuy
nhiên, những nhà phân tích cũng như các kiểm toán viên nên thận trọng khi tiến
hành rà sốt đặc biệt đối với các cơng ty có nhiều dấu hiệu rủi ro để có thể xác định
chính xác xem có sai phạm nào tồn tại hay không.


17

1.3. Các yếu tố chi phối hành vi thao túng báo cáo tài chính
Các nhà quản lý quyết định thực hiện các hành vi thao túng BCTC khi có
một động cơ hay gặp phải một áp lực nào đó khiến họ buộc phải thực hiện hành vi

gian lận; hoặc có một cơ hội rõ ràng xuất hiện thúc đẩy họ thực hiện điều đó, và thái
độ, tính cách của họ hợp lý hóa cho hành vi của chính mình.
Động cơ/áp lực phải thực hiện hành vi thao túng BCTC có thể tồn tại khi
Ban Giám đốc phải chịu áp lực từ bên ngoài hoặc bên trong đơn vị, phải đạt được
một mục tiêu về lợi nhuận hoặc kết quả tài chính như dự kiến (và có thể là phi thực
tế), nhất là trong trường hợp nếu Ban Giám đốc không đạt được các mục tiêu tài
chính thì sẽ chịu hậu quả rất lớn;
Cơ hội rõ ràng để thực hiện thao túng có thể tồn tại khi một cá nhân cho rằng
có thể khống chế kiểm sốt nội bộ, ví dụ vì cá nhân đó có một vị trí đáng tin cậy
hoặc biết rõ các khiếm khuyết cụ thể của kiểm sốt nội bộ;
Các cá nhân có thể biện minh cho việc thực hiện hành vi thao túng. Một số
cá nhân có thái độ, tính cách hoặc hệ thống các giá trị đạo đức cho phép họ thực
hiện một hành vi gian lận một cách cố ý. Tuy nhiên, ngay cả khi khơng có các điều
kiện như vậy thì những cá nhân trung thực cũng có thể thực hiện hành vi gian lận
khi ở mơi trường có áp lực mạnh.
 Tam giác gian lận
Tam giác gian lận là mơ hình được đưa ra trong cơng trình nghiên cứu của
Donald R. Cressey (1953) dưới góc độ tham ơ và biển thủ. Cressey đã giải thích
rằng hành vi gian lận thường xuất hiện khi có sự hiện diện của ba yếu tố (cấu thành
nên tam giác gian lận), đó là: cơ hội (opportunity), áp lực (incentive/pressure) và
thái độ, cá tính (attitudes/rationalization)


×