Tải bản đầy đủ (.doc) (72 trang)

Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH xây lắp và đầu tư thiết bị điện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (324.44 KB, 72 trang )

1

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến do có sự
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước. Trước sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế
thị trường và Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, mối quan
tâm lớn nhất và là hàng đầu của các Doanh nghiệp là lợi nhuận: Lợi nhuận quyết
định sự tồn tại hay không tồn tại của Doanh nghiệp. Thứ hai là tạo thương hiệu
cho sản phẩm của mình đẩy mạnh sự cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài. Từ tình hình thực tế, các Doanh nghiệp phải thường xuyên điều tra,
tính toán, cân nhắc để lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu sao cho với chi phí
bỏ ra ít nhất nhưng đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất với sản phẩm có chất lượng
cao. Để đạt được mục đích này đòi hỏi các Doanh nghiệp phải quan tâm tới mọi
yếu tố ảnh hưởng tới sản phẩm của mình. Hạch toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung và các doanh nghiệp kinh
doanh xây lắp nói riêng đã và đang là một vấn đề được nhiều nhà kinh doanh
quan tâm. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu quan trọng trong
bất kỳ doanh nghiệp nào, hai chỉ tiêu này luôn có mối quan hệ khăng khít và
không tách rời nhau. Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay thì vấn đề tiết kiệm
chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc
nâng cao lợi nhuận, tăng tích luỹ cho Doanh nghiệp, đây là tiền đề đảm bảo cho
sự tồn tại, củng cố chỗ đứng của doanh nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt của
nền kinh tế thị trường.
Để làm tốt công việc này, đòi hỏi các doanh nghiệp cần tổ chức công tác tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời,


2

đúng đối tượng, đúng chế độ quy định và đúng phương pháp để từ đó có những


biện pháp cụ thể tiết kiệm các khoản mục chi phí chi dùng cho sản xuất.
Vì những lý do trên nên em đã lựa chọn Chuyên đề: “Hoàn thiện hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” tại Công ty TNHH xây lắp và đầu tư
thiết bị điện.
Mục đích khi nghiên cứu Chuyên đề này là đưa ra các giải pháp phù hợp với
chuẩn mực kế toán Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hạch toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp xây lắp.
Ngoài hai phần lời nói đầu và lời kết đề án bao gồm:
Chương I: Tổng quan Công ty TNHH xây lắp và đầu tư thiết bị điện.
Chương II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH xây lắp và đầu tư thiết bị điện.
Chương III: Một số hoàn thiện chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH xây lắp và đầu tư thiết bị điện.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do kiến thức và kinh nghiệm còn những
hạn chế nên Chuyên đề này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận
được những nhận xét, góp ý của các thầy, cô và bạn bè giúp em hiểu sâu hơn về
vấn đề này. Qua đây em xin gửi lời cám ơn chân thành tới
Thạc sỹ Nguyễn Hồng Thúy người đã tận tình hướng dẫn em cũng như các
bác, chú, anh, chị trong công ty TNHH Xây lắp và đầu tư thiết bị điện đã giúp
em hoàn thành Chuyên đề này.
Hà Nội, ngày ..... tháng ..... năm 2007.


3

PHẦN I:
TỔNG QUAN VỂ CÔNG TY TNHH XÂY LẮP & ĐẦU TƯ TB ĐIỆN
1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và cấu trúc quản lý của Công ty
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH Xây lắp và đầu tư thiết bị Điện được thành lập theo quyết

định số 1397B ngày 5/9/1999 của UBND thành phố Hà Nội và giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh số 0102000214 ngày 23/03/2000 của Sở kế hoạch và đầu tư
thành phố Hà Nội, có trụ sở đầu tiên được đặt tại 219A Tôn Đức Thắng.
Bước đầu, Công ty còn non trẻ chưa có nhiều khách hàng cũng như bạn hàng
thân thiết, tin cậy. Công ty gặp nhiều khó khăn trong việc khẳng định vị thế của
mình trên thị trường. Các hợp đồng sản xuất và xây lắp còn ít, với qui mô nhỏ.
Năm 2001 đến năm 2004 Công ty ngày càng có những chính sách kinh tế phù
hợp, năng lực sản xuất được nâng cao. Chất lượng những hợp đồng kinh tế do
Công ty đảm nhận tạo được lòng tin của khách hàng và có vị trí trên thị
trường.Với việc làm quen thêm nhiều khách hàng mới Công ty đã đưa ra nhiều
chiến lược kinh tế mới nhằm mở rộng sản xuất….
Năm 2005 do tình hình mở rộng sản xuất, trụ sở chính không đủ diện tích cho
hoạt động sản xuất kinh doanh nên Công ty đã chuyển trụ sở chính về địa chỉ
105/22/5 Thụy Khuê – Tây Hồ - Hà Nội. Nhà máy sản xuất của Công ty được
đặt tại khu Công nghiệp Vĩnh Tuy, Thanh Trì, Hà Nội với diện tích đất sử dụng
là 1500m2. Đồng thời mở rộng vốn điều lệ lên 4.800.000.000 đồng để phù hợp
và thuận lợi hơn trong việc kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Thay đổi
thành viên góp vốn xuống còn 2 người chịu trách nhiệm chính và chủ yếu.
Năm 2006 và 2007 Công ty mở rộng sản xuất sang lĩnh vực gia công sản
phẩm ngành điện chuyên môn hoá về sơn tĩnh điện. Đào tạo và tuyển dụng thêm


4

đội ngũ công nhân có tay nghề cao từ trung cấp công nghiệp trở lên, đội ngũ kỹ
sư lành nghề, có kinh nghiệm lâu năm. Trang bị thêm nhiều máy móc, trang thiết
bị hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
Công ty đi vào hoạt với ngành nghề kinh doanh :
+ Chế tạo tủ điện, tủ bù, tủ điều khiển, trạm hợp bộ kiểu KIOS.

+ Xà sắt.
+ Tiến hành thi công xây lắp điện hạ thế (dưới 1KV).
Do yêu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng với nhu cầu thị
trường Công ty thực hiện thêm:
+ Xây lắp các công trình điện dân dụng và công nghiệp đến 35KV.
+ Chuyển giao công nghệ các lĩnh vực chuyên ngành điện.
+ Sản xuất lắp ráp các sản phẩm cơ khí thiết bị điện.
+ Tư vấn xây dựng điện.
+ Buôn bán vật tư thiết bị điện, đại lý mua, đại lý bán ký gửi hàng hóa.
Với tình hình kinh tế phát triển như hiện nay, điện là một phần không thể
thiếu trong cuộc sống mà còn là nguồn năng lượng tất yếu của các ngành công
nghiệp. Hệ thống, công trình ngành điện cũng như các ngành xây dựng cơ bản
khác đều không tránh khỏi xuống cấp, do con người, do thiên tai và do yêu cầu
cấp thiết của sự phát triển của đất để bắt kịp thế giới. Công ty TNHH Xây lắp và
đầu tư thiết bị điện là Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây lắp của ngành điện
với đội ngũ kỹ sư chuyên ngành và đội ngũ công nhân có tay nghề cao. Bằng
những kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, cộng với những trang thiết bị, phương
tiện chuyên dùng ngày càng được đầu tư hoàn thiện với chất lượng cao. Công ty
đã thực hiện nhiều hợp đồng kinh tế có quy mô lớn, cung cấp sản phẩm đáp ứng


5

nhu cầu của nền kinh tế góp phần thực hiện nhiệm vụ của ngành điện tham gia
vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước..
1.1.3. Đặc điểm, tổ chức quá trình kinh doanh của Công ty
Sản phẩm tạo ra của Công ty mang tính đặc thù khác với các nhành sản xuất
khác như: Địa điểm sản xuất không cố định, thường là sản xuất ngoài trời nên
chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, sản phẩm là những công trình, hạng mục
công trình, hay khối lượng xây lắp khi hoàn thành đều có giá thành riêng, có kết

cấu kỹ thuật phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài phải lập dự
toán riêng cho từng công trình trước khi sản xuất. Nơi sản xuất cũng là nơi tiêu
thụ. Khi công trình hoàn thành Công ty có thu nhập để trang trải cho toàn bộ chi
phí đã bỏ ra và có tích lũy để mở rộng sản xuất kinh doanh. Số lượng khách hàng
ít, dễ xác định và được xác định khi bắt đầu quá trình xây lắp. Sản phẩm xây lắp
hoàn thành được bàn giao cho chủ đầu tư theo các hợp đồng xây lắp đã ký. Đối
với các hợp đồng xây lắp với chủ đầu tư, khi bàn giao công trình và thanh toán
bên chủ đầu tư được phép giữ lại tiền phí bảo hành công trình theo tỷ lệ %/ giá
trị công trình.
Mang đặc điểm của ngành xây lắp nói chung nên địa bàn hoạt động của Công
ty là trên toàn quốc với bạn hàng thân thuộc nhất là ở Hà Nội và Hưng Yên. Hiện
nay, để tạo thế đứng, mở rộng thị trường, niềm tin của khách hàng, Công ty cũng
gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy giám đốc Công ty đã quyết định hợp tác với các tổ
chức trong nước như Công ty CP thiết kế điện lực Hà Nội và Công ty 3A là 2
công ty có uy tín trên thị trường về cung cấp tủ điện và tư vấn thiết kế ngành
điện.


6

1.1.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
1.1.4.1. Đặc điểm quy trình công nghệ
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của Công ty: Phòng kế hoạch tìm hiểu nhu cầu
thị trường, phát hiện cơ hội dựa trên những thông tin cung cấp phòng kỹ thuật
lập hồ sơ dự thầu để tham gia đấu thầu. Để thực hiện công trình xây lắp nhanh
gọn, không mất nhiều thời gian, phòng kỹ thuật phải xác định rõ đặc điểm kinh
tế kỹ thuật, đặc điểm vị trí, khí hậu, địa hình nơi xây lắp, thời gian đầu tư vốn
của công trình đó tiến hành thiết kế, lập dự toán. Trên cơ sở dự toán phòng vật tư
xây dựng cơ bản mua các vật tư, thiết bị phục vụ công trình về nhập kho. Phó
giám đốc trực tiếp chỉ đạo các tổ, đội xây lắp hoàn thành công việc đúng thời

hạn, đúng thiết kế và kỹ thuật.
Sơ đồ 1
QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY LẮP CỦA CÔNG TY
Nhận
thầu
thi
công
với
bênA

Khảo
sát
địa
hình
địa
chất

Lập
dự án
thi
công

Thi công
1. Xử lý nền móng
2. Xây dựng phần thô
3. Lắp đặt thiết bị máy móc
4. Thử nghiệm
5. Hoàn thiện

Nghiệm

thu thanh
quyết
toán với
bên A

Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hành sản xuất liên tục từ khâu thăm dò điều
tra, khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình.
Ngoài hoạt động chính là tạo ra sản phẩm xây lắp Công ty còn tiến hành sản
xuất tủ điện, tủ bù, tủ điều khiển trạm hợp bộ kiểu KIOT, xà sắt, sản xuất lắp ráp
các sản phẩm cơ khí thiết bị điện…. Với mục tiêu tiếc kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm, chủ động trong các khâu hoàn thiện sản phẩm Công ty đã đầu tư thêm


7

trang thiết bị như hệ thống sơn tĩnh điện hiện đại của Đức. Quy trình sản xuất tủ
điện tủ bù của Công ty có thể khái quát theo sơ đồ sau:
Phòng kế hoạch tìm hiểu nhu cầu khách hàng, cung cấp tư liệu cho phòng kỹ
thuật để tiến hành thiết kế tủ. Vật tư được xuất ra như tôn, sơn tĩnh điện để sản
xuất vỏ tủ. Khi vỏ tủ được hoàn thành thì các vật tư, thiết bị, lắp đạt để tạo nên
thành phẩm. Thành phẩm này được nhập kho sử dụng cho các công trình hoặc
bán cho khách hàng.
Sơ đồ 2:
QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM TỦ ĐIỆN
Thiết
kế

Mua thiết bị
vật tư


Xuất tôn để sản
xuất vỏ tủ

Xuất thiết
bị, vật tư

Thành
phẩm

1.1.4.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Xuất phát từ tình hình, đặc điểm sản xuất kinh doanh, yêu cầu của thị trường
và để phù hợp với sự phát triển của mình Công ty đã không ngừng nâng cao,
hoàn thiện bộ máy quản lý của mình. Bộ máy quản lý của Công ty đảm bảo
thuận tiện cho hoạt động của một Công ty TNHH không nhiều thành viên. Bộ
máy quản lý được chia thành ba cấp: Đứng đầu là Giám đốc, giúp việc cho giám
đốc có Kế toán trưởng, phó giám đốc và các phòng ban nghiệp vụ.
Công ty chủ trương xây dựng bộ máy quản lý theo chế độ một thủ trưởng để
các quyết định tập trung và mang tính thống nhất, nhưng vẫn đảm bảo quyền làm
chủ của người lao động. Việc tổ chức bộ máy quản lý như trên đảm baorcho hoạt
động thông suốt, tiếc kiệm chi phí, tận dụng tốt năng lực từng người. Do vậy vẫn
tiếc kiệm được chi phí cần thiết đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn.


8

Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty như sau:
Sơ đồ 3:
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY TNHH XL & ĐT TB ĐIỆN
Giám Đốc


Phòng kế toán

Phòng kế
hoạch

Phó giám đốc

Phòng kỹ
thuật

Phòng tổ
chức HC

Xưởng
SX

Xây
lắp

Vật tư
XDCB

- Giám đốc: Là người đứng đầu, điều hành Công ty theo chế độ một thủ trưởng.
Giám đốc là người quản lý duy nhất của Công ty có trách nhiệm bảo toàn và phát
triển vốn. Với sơ đồ như trên, ngoài việc quản lý chung, giám đốc còn phụ trách
các phòng kế hoạch, phòng kỹ thuật, phòng tổ chức hành chính các phòng kế
toán. Cùng với nhân viên các phòng này, xây dựng kế hoạch kinh doanh, trực
tiếp tuyển trọn nguồn nhân lực chất lượng cao, cất nhắc vào các vị trí phù hợp để
đảm bảo về kỹ thuật công nghệ sản xuất và nắm bắt các công nghệ sản xuất tiên
tiến áp dụng nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ của Công ty cho khách

hàng.
- Phó giám đốc: Giúp quản lý sản xuất ở các xưởng và các công trình thi công
cũng như vật tư, cơ sở vật chất của Công ty. Tham mưu các vấn đề liên quan cho
giám đốc.
- Phòng kế toán: Sổ sách kế toán, hạch toán thu chi hàng ngày và cập nhập thông
tin liên quan các vấn đề tài chính.
- Phòng tổ chức hành chính: Tổ chức thực hiện các công tác văn phòng, quản
công văn giấy tờ liên quan đến tổ chức và hành chính, giúp giám đốc trong công


9

tác quản lý nhân sự. Chịu trách nhiệm giám sát các chế độ tiền lương, tiền
thưởng....
- Phòng kế hoạch: Tham mưu toàn bộ các vấn đề liên quan đến các hoạt động
kinh doanh của Công ty: Điều tra thị trương, khai thác các quy trình công nghệ
sản xuất, lắp đặt và chuyển giao công nghệ, xây dựng các kế hoạch và quyết
toán các kế hoạch.
- Phòng kỹ thuật: Nhiệm vụ của phòng kỹ thuật là đảm bảo kỹ thuật công trình,
giám sát tiến độ thi công, tham mưu cho giám đốc trong công tác có liên quan
đến vật tư, kỹ thuật, máy thi công, an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.
- Xưởng sản xuất: Sản xuất và chế tạo sản phẩm như: Tủ điện, hệ thống, trang
thiết bị điện ....
- Tổ xây lắp: Thi công các công trình, hạng mục công trình do Công ty giao hoặc
tự tìm kiếm công việc và thi công.
- Phòng vật tư xây dựng cơ bản: Cung ứng vật tư, quản lý tồn kho, xây dựng và
sửa chữa nhỏ.
1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty
Khi nền kinh tế đang trong thời kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp
hoạt động theo chỉ tiêu pháp lệnh, vật tư, tiền vốn do cấp trên cấp, giá thành là

giá thành kế hoạch định sẵn. Vì vậy, công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm chỉ mang tính hình thức.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp được chủ
động hoạt động sản xuất kinh doanh theo phương hướng riêng và phải tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Để có thể cạnh tranh được trên thị
trường, thông tin là một trong những tài sản quan trọng doanh nghiệp, đặc biệt là
thông tin kế toán. Kế toán cũng là một công cụ để quản lý kinh tế. Vì vậy, công
tác tổ chức kế toán trong Công ty cũng như mọi doanh nghiệp khác đều rất được


10

coi trọng nhất là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là phần
không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp cũng như doanh nghiệp thuộc
ngành xây lắp. Tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm là tiền đề để xác định kết
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thăng tiến. Tổ
chức công tác kế toán là việc thiết kế, lựa chọn hình thức tổ chức hạch toán kế
toán phù hợp, bố trí các công việc, nhân sự trong bộ máy kế toán của công ty.
Sơ đồ 4
SƠ ĐỒ BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA
CÔNG TY TNHH XL & ĐT THIẾT BỊ ĐIỆN
Kế toán trưởng

Kế toán tổng hợp

Thủ quỹ, KT ngân
hàng, KT lương
tiền lương

KT NVL, vật

tư, TSCD

KT giá thành, tiêu thụ
thành phẩm, KT thuế

KT thanh toán, kế
toán nguồn vốn

Thủ
kho

KT các xưởng,
đội xây lắp

Với quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa như Công ty TNHH xây lắp và đầu tư
thiết bị điện, phòng kế toán bao gồm 10 thành viên. Xuất phát từ đặc điểm sản
xuất kinh doanh và đặc điểm bộ máy quản lý của Công ty đồng thời căn cứ vào
chức năng, nhiệm vụ kế toán và phù hợp với trình độ nhân viên kế toán nên bộ
máy kế toán của Công ty được tổ chức theo mô hình tập chung. Theo mô hình
này, toàn bộ công việc kế toán được thực hiện tập trung ở phòng kế toán.


11

- Kế toán trưởng: Là người chịu trách nhiệm trước thuế và giám đốc về các
thông tin, hoạt động tài chính của Công ty. Là người tổ chức toàn diện công tác
thống kê thông tin kinh tế và hệ thống thông tin kinh tế của Công ty, kiểm tra
việc hạch toán, việc chấp hành thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận kế toán.
- Kế toán tổng hợp: Tổng hợp số liệu của Công ty để lập bảng cân đối TK, cân
đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Xác định kết quả kinh doanh.

- Kiểm quỹ kiêm kế, toán ngân hàng, kế toán lương: Thu, chi tiền bán hàng,
vào sổ quỹ hàng ngày, theo dõi tiền gửi của Công ty trên tài khoản NH và theo
dõi các khoản mục chi phí theo đúng chế độ hiện hành của Bộ Tài Chính. Ngoài
ra còn có nhiệm vụ giao dịch với ngân hàng để huy động vốn, mở tài khoản tiền
gửi, tiền vay, tiến hành các nghiệp vụ thanh toán qua ngân hàng, tính lương và
các khoản trích theo lương cho người lao động, ghi chép kế toán tổng hợp tiền
lương theo chế độ hiện hành.
- Kế toán nguyên vật liệu, vật tư, TSCD: Có nhiệm vụ ghi chép kế toán tổng
hợp và kế toán chi tiết TSCD, nguyên vật liệu tồn kho. Đồng thời tính khấu hao
TSCD, phân bổ chi phí, tính giá vốn nguyên vật liệu xuất kho.... Lập các báo cáo
về tình hình tăng giảm TSCD, báo cáo nguyên vật liệu tồn kho. Kế toán vật tư và
TSCD còn theo dõi TSCD và công cụ dụng cụ đang sử dụng tại các tổ xây lắp.
- Kế toán giá thành, tiêu thụ thành phẩm và kế toán thuế: Có nhiệm vụ tổng
hợp chi phí sản xuất và xây lắp để tính giá thành sản phẩm. Xác định giá vốn
hàng bán, ghi chép theo dõi doanh thu để từ đó làm cơ sở để xác định kết quả
kinh doanh. Kê khai thuế hàng tháng, theo dõi thu nộp ngân sách và thực hiện
các công tác liên qua đến thuế.
- Kế toán thanh toán và nguồn vốn: Ghi chép, phản ánh số hiện có và tình hình
biến động của các khoản vốn bằng tiền. Theo dõi tình hình tăng giảm nguồn vốn
kinh doanh của Công ty. Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các báo cáo nội bộ về


12

công nợ. Theo dõi, tính toán và quyết toán các khoản công nợ cũng như hiệu quả
sử dụng vốn vay.
- Nhân viên kế toán các xưởng, đội: làm nhiệm vụ tập hợp và luân chuyển các
chứng từ ban đầu phản ánh các nghiệp vụ phát sinh tại xưởng, đội sản xuất. Cuối
mỗi quý, nhân viên kế toán xưởng, đội xây lắp phải tiến hành chuyển các chứng
từ về phòng kế toán để kiểm tra tính pháp lý, độ chính xác của chứng từ và phản

ánh nghiệp vụ phát sinh trên sổ sách.
- Thủ kho: Bảo quản nguyên vật liệu, thành phẩm, ghi chép theo số lượng chính
xác, vảo thẻ kho từng lần nhập - xuất.
1.3. Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán tại Công ty
1.3.1. Các chế độ chính sách kế toán tại Công ty
Các chính sách kế toán của Công ty vận dụng dựa trên cơ sở đặc điểm của
quá trình sản xuất kinh doanh và chính sách kế toán do Bộ Tài Chính hiện hành.
+ Đơn vị hạch toán là VNĐ.
+ Niên độ kế toán năm tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm
dương lịch.
+ Hạch toán theo quyết định 48 – TC/QĐ/ CĐKT.
+ Kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.
+ Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
+ Hạch toán chi tiết hàng tồn kho theo phương pháp thẻ song song.
+ Phương pháp tính giá hàng tồn kho: Phương pháp tính theo giá đích danh.
+ Tổ chức sổ sách kế toán theo hình thức Nhật ký chung.
+ Các sổ cái tài khoản, mở cho từng tài khoản tổng hợp cho cả năm, chi tiết cho
từng tháng. + Sổ quỹ tiền mặt, các sổ chi tiết các TK 152, 156, 211, 242, 621,
622, 623, 627, 642, 635 ….. Công ty không sử dụng sổ Nhật ký đặc biệt.


13

+ Bảng tổng hợp nguyên vật liệu nhập, xuất, tồn kho….
+ Chứng từ tổng hợp, bảng kê phiếu thu, phiếu chi, phiếu kế toán ….
+ Nhật ký chung được thể hiện theo trình tự ghi sổ kế toán như sau:
Sơ đồ 5: Trình tự ghi sổ sách kế toán

Chứng từ gốc
Chứng từ tổng hợp

Nhật ký
đặc biệt

Sổ
chi tiết

Sổ
Nhật ký chung

Sổ cái

Bảng tổng hợp
chi tiết

Bảng cân đối số
phát sinh

Báo cáo kế toán

(1) từ chứng từ gốc hàng ngày vào nhật ký chung, nhật ký đặc biệt, sổ chi tiết.
(2) Từ chứng từ gốc định kỳ hoặc cuối kỳ lập chứng từ tổng hợp sau đó vào sổ
Nhật ký chung.
(4) Nhật ký chung hoặc nhật ký đặc biệt hàng ngày, đầu kỳ hoặc cuối kỳ vào sổ
Cái.


14

(5) Cuối kỳ từ các sổ chi tiết lập bảng tổng hợp chi tiết để (6) đối chiếu so sánh
với sổ cái.

(7) Từ sổ cái cuối kỳ lập bảng cân đối số phát sinh để kiểm tra số liệu.
(8) Từ bảng cân đối số phát sinh, bảng tổng hợp chi tiết, cuối kỳ lập báo cáo kế
toán doanh nghiệp có thể vận dụng hình thức nhật ký chung.
1.3.2. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản
Công ty sử dụng hầu hết các tài khoản trong hệ thống tài khoản doanh nghiệp,
trên cơ sở các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tần suất phát sinh, kế toán trưởng
Công ty đã thống nhất dùng tài khoản TK 152 để hạch toán nguyên vật liệu, và
không mở các tài khoản chi tiết cho từng nguyên vật liệu. Phản ảnh các nghiệp
vụ kinh tế liên quan đến nguyên vật liệu kế toán sử dụng các tài khoản: TK111,
TK133, TK131, TK331, TK333.1, TK511. Công ty không sử dụng tài khoản
TK141 để phản ánh tiền tạm ứng mua vật tư, như vậy không kiểm soát chặt chẽ
được lượng tiền dễ xẩy ra hiện tượng nhầm lẫn. Công ty sử dụng phương pháp
tính giá hàng tồn kho theo giá đích danh nên không lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho TK159.
Công ty sử dụng kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên chỉ sử dụng tài khoản 621, 622, 623, 627 và không sử dụng các TK 631,
tài khoản 616. Tài khoản 632 giá vốn hàng bán.
Tài khoản 515, 635 doanh thu và chi phí tài chính.
Tài khoản xác định kết quả kinh doanh 911.
1.3.3. Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ
Nhìn chung, hệ thống chứng từ kế toán Công ty sử dụng phù hợp với quy
định và hướng dẫn của Bộ Tài Chính và phù hợp với các nghiệp vụ kinh tế phát


15

sinh trong Công ty. Các chứng từ kế toán được tập hợp lại và được kiểm tra tính
trung thực, hợp lý, hợp lệ, hợp pháp bởi kế toán.
- Tính hợp lý thể hiện ở chỗ đơn giá vật tư mua vào phù hợp với giá cả vật tư
trên thị trường, thuế suất thuế GTGT đầu vào và thuế suất thuế GTGT đầu ra có

đúng quy định của luật thuế không.
- Tính hợp pháp được thể hiện qua những nguyên tắc ghi chứng từ như con dấu,
chữ ký, mã số thuế.
- Tính hợp lệ thể hiện sự đầy đủ các yếu tố quy định theo mẫu của Bộ Tài chính.
- Kế toán nguyên vật liệu: Khi nghiệp vụ kinh tế bán nguyên vật liệu kế toán
tiêu thụ thành phẩm viết hóa đơn GTGT, thủ kho viết phiếu xuất kho theo số liệu
thực xuất. Hóa đơn GTGT là cơ sở cho thủ quỹ viết phiếu thu, phiếu thu dùng để
ghi vào sổ Nhật ký chung. Trường hợp bán nguyên vật liệu chưa thu tiền, kế toán
tiêu thụ thành phẩm lập phiếu kế toán để làm cơ sở ghi sổ. Chứng từ sau khi
được sử dụng để ghi sổ sẽ được lưu tại phòng kế toán.
- Kiểm quỹ kiêm kế, toán ngân hàng, kế toán lương chứng từ bao gồm:
+ Phiếu thu, phiếu chi
+ Chứng từ thanh toán qua ngân hàng: Ủy nhiệm chi, giấy nộp tiền, giấy báo
nợ, giấy báo có, sổ phụ ngân hàng.
+ Bảng chấm công.
+ Bảng thanh toán tiền lương và các bảng thanh toán phụ cấp khác mà công
nhân viên được hưởng.
- Kế toán giá thành, tiêu thụ thành phẩm và kế toán thuế sử dụng các chứng
từ sau:
+ Chứng từ về khấu hao TSCĐ, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ.
+ Chứng từ hóa đơn GTGT về chi phí dịch vụ mua ngoài, phiếu chi.
+ Chứng từ vật tư nhập kho, xuất kho phục vụ sản xuất.


16

+ Chứng từ phiếu kế toán kết chuyển chi phí trả trước trong kỳ
+ Bảng chi tiết phân bổ chi phí tiền lương.
Việc tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán có sự giám sát kiểm tra của kế toán
trưởng nên đã đảm bảo được tính kịp thời của thông tin, các nghiệp vụ kinh tế

được phản ánh một cách trung thực và phù hợp với quy định của Bộ Tài chính.
1.3.4. Tổ chức hệ thống báo Báo cáo tài chính
Công ty sử dụng Hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho doanh nghiệp nhỏ
và vừa bao gồm:
a. Báo cáo bắt buộc
- Bảng Cân đối kế toán:

Mẫu số B01 – DNN

- Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh:

Mẫu số B02 – DNN

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính:

Mẫu số B09 – DNN

Báo cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm phụ biểu sau:
- Bảng cân đối tài khoản:

Mẫu số F01 – DNN

b. Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập:
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Mẫu số B03 – DNN

Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý, chỉ đạo điều hành hoạt động sản xuất, kinh
doanh, các doanh nghiệp có thể lập thêm các báo cáo tài chính chi tiết khác.
Báo cáo tài chính quy định cho các hợp tác xã

- Bảng cân đối tài khoản:

Mẫu số B01 – DNN/HTX

- Báo cáo Kết quả kinh doanh:

Mẫu số B02 – DNN

- Bảng Thuyết minh báo cáo tài chính:

Mẫu số B09 – DNN/HTX

Nội dung, phương pháp tính toán, hình thức trình bầy các chỉ tiêu trong từng báo
cáo quy định trong chế độ này được áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa thuộc đối tượng áp dụng hệ thống báo cáo tài chính này.


17

Trong quá trình áp dụng, nếu thấy cần thiết, các doanh nghiệp có thể bổ sung,
các chỉ tiêu cho phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động và yêu cầu quản lý của
doanh nghiệp; Trường hợp có sửa đổi thì phải được Bộ Tài chính chấp nhận bằng
văn bản trước khi thực hiện.


18

PHẦN II:
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH XÂY LẮP VÀ

ĐẦU TƯ THIẾT BỊ ĐIỆN
2.1. Đặc điểm sản phẩm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất tính giá thành.
Sản phẩm tạo ra của Công ty mang tính đặc thù khác với các ngành sản xuất
khác như:
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc... có quy mô
lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp
lâu dài dài phải lập dự toán riêng cho từng công trình trước khi sản xuất...Do đó,
việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán
thiết kế, dự toán thi công). Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán,
lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo hiểm cho
công trình xây lắp.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy,
thiết bị thi công, người lao động...) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm.
Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất
phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát hư
hỏng...
Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn
giao đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp
về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai
đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc
thường diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường như


19

nắng, mưa, lũ lụt...Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặt chẽ
sao cho bảo đảm chất lượng công trình đúng như thiết kế, dự toán.
Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn đến kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp. Công tác kế toán vừa
phải đáp ứng yêu cầu chung về chức năng, nhiệm vụ kế toán của một doanh

nghiệp sản xuất vừa phải đảm bảo phù hợp với đặc thù của loại hình doanh
nghiệp xây lắp.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ
đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể
hiện rõ.
Sản phẩm xây lắp hoàn thành được bàn giao cho chủ đầu tư theo các hợp
đồng xây lắp đã ký. Đối với các hợp đồng xây lắp với chủ đầu tư, khi bàn giao
công trình và thanh toán bên chủ đầu tư được phép giữ lại tiền phí bảo hành công
trình theo tỷ lệ %/ giá trị công trình.
Khi công trình hoàn thành Công ty có thu nhập để trang trải cho toàn bộ chi
phí đã bỏ ra và có tích lũy để mở rộng sản xuất kinh doanh. Số lượng khách hàng
ít, dễ xác định và được xác định khi bắt đầu quá trình xây lắp.
Các sản phẩm tủ điện, tủ bù, tủ điều khiển trạm hợp bộ kiểu KIOT, xà sắt…
của Công ty được sản xuất để phục vụ luôn cho các hợp đồng xây lắp và theo
yêu cầu của đối tác thông qua hợp đồng kinh tế.
2.2. Đặc điểm quá trình sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến đối tượng tập
hợp chi phí giá thành.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của Công ty: Phòng kế hoạch tìm hiểu nhu cầu
thị trường, phát hiện cơ hội dựa trên những thông tin cung cấp phòng kỹ thuật
lập hồ sơ dự thầu để tham gia đấu thầu. Để thực hiện công trình xây lắp nhanh


20

gọn, không mất nhiều thời gian, phòng kỹ thuật phải xác định rõ đặc điểm kinh
tế kỹ thuật, đặc điểm vị trí, khí hậu, địa hình nơi xây lắp, thời gian đầu tư vốn
của công trình đó tiến hành thiết kế, lập dự toán. Trên cơ sở dự toán phòng vật tư
xây dựng cơ bản mua các vật tư, thiết bị phục vụ công trình về nhập kho. Phó
giám đốc trực tiếp chỉ đạo các tổ, đội xây lắp hoàn thành công việc đúng thời
hạn, đúng thiết kế và kỹ thuật.

Sơ đồ 6
QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM XÂY LẮP CỦA CÔNG TY
Nhận
thầu
thi
công
với
bênA

Khảo
sát
địa
hình
địa
chất

Lập
dự án
thi
công

Thi công
1. Xử lý nền móng
2. Xây dựng phần thô
3. Lắp đặt thiết bị máy móc
4. Thử nghiệm
5. Hoàn thiện

Nghiệm
thu thanh

quyết
toán với
bên A

Sản phẩm xây lắp cũng được tiến hành sản xuất liên tục từ khâu thăm dò điều
tra, khảo sát đến thiết kế thi công và quyết toán công trình.
Ngoài hoạt động chính là tạo ra sản phẩm xây lắp Công ty còn tiến hành sản
xuất tủ điện, tủ bù, tủ điều khiển trạm hợp bộ kiểu KIOT, xà sắt, sản xuất lắp ráp
các sản phẩm cơ khí thiết bị điện…. Với mục tiêu tiếc kiệm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm, chủ động trong các khâu hoàn thiện sản phẩm Công ty đã đầu tư thêm
trang thiết bị như hệ thống sơn tĩnh điện hiện đại của Đức. Quy trình sản xuất tủ
điện tủ bù của Công ty có thể khái quát theo sơ đồ sau: Phòng kế hoạch tìm hiểu
nhu cầu khách hàng, cung cấp tư liệu cho phòng kỹ thuật để tiến hành thiết kế tủ.
Vật tư được xuất ra như tôn, sơn tĩnh điện để sản xuất vỏ tủ. Khi vỏ tủ được hoàn
thành thì các vật tư, thiết bị, lắp đạt để tạo nên thành phẩm. Thành phẩm này
được nhập kho sử dụng cho các công trình hoặc bán cho khách hàng.


21

Sơ đồ 7:
QUY TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM TỦ ĐIỆN
Thiết
kế

Mua thiết bị
vật tư

Xuất tôn để sản
xuất vỏ tủ


Xuất thiết
bị, vật tư

Thành
phẩm

Phòng kế hoạch là nơi tìm hiểu nhu cầu khách hàng, cung cấp tài liệu cho
phòng kỹ thuật để tiến hành thiết kế tủ. Bắt đầu quy trình sản xuất là xuất tôn
cùng các loại sơn tĩnh điện … để sản xuất vỏ tủ. Sau khi vỏ tủ hoàn thành thì các
loại vật tư thiết bị sẽ được lắp đặt để tạo nên thành phẩm. Tủ này được nhập kho
để sử dụng cho công trình hoặc bán cho khách hàng. Về mặt hàng tủ này có thể
bán cho khách hàng kèm với các loại nguyên vật liệu khác như: Aptomat, đầu cốt
đồng, ty sứ ….
Sau gần 7 năm hoạt động với rất nhiều khó, thiếu thốn đến nay Công ty đã
từng bước khẳng định được vị thế của mình, mở rộng và phát triển ngành nghề
hoạt động đồng thời tạo thêm việc làm cho người lao động.
2.3. Tập hợp chi phí sản xuất tại Công ty TNHH Xây lắp và Đầu tư thiết bị
điện.
Hiện nay, Công ty TNHH Xây lắp và Đầu tư thiết bị điện có hai loại sản
phẩm chính là thi công công trình xây lắp và sản xuất tủ điện. Do thời gian thực
tập và khả năng của em có hạn, nên em chọn tính chi phí, giá thành sản phẩm
cho thi công công trình xây lắp trong Đề án của mình.
Để phục vụ cho công tác xác định chi phí để tính giá thành sản phẩm, kế toán
phân loại chi phí sản xuất theo chi phí trực tiếp bao gồm chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và chi phí sản xuất
chung.


22


+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp được tập hợp cho từng
công trình theo bản dự toán của công trình đó.
+ Chi phí sản xuất chung phát sinh trong tháng được tập hợp và phân bổ cho
từng công trình hoàn thành trong tháng theo nguyên vật liệu chính.
+ Tập hợp chi phí sản xuất được phản ánh theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 8: Quy trình hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất
     TK152

TK621    TK154    TK155
(1)

    TK 334,338

(7)
   TK622

(2) TK627

(8)
(10)

TK152

TK627
(3)

TK214

(9)

(4)

TK242
(5)
TK111,112,336
(6)
Tk336.57


23

(1) Chi phí NVLTT dung cho sản xuất
(2) Trích lương và các khoản Bảo hiểm cho CNSX và PVSX
(3) Chi phí vật tư kỹ thuật, vật tư phục vụ sản xuất
(4) Chi phí khấu hao tài sả
(5) n cố định
(6) Chi phí trả trước dài hạn
(7) Chi phí điện ,nước, sửa chữa máy móc ….
(8) (9) ….Cuối kỳ kết chuyển CP NVLTT, NCTT,SXC .
(10) Giá thành sản phẩm hoàn thành nhập kho .
Toàn bộ các khoản CPSX, CP NVLTT, CP NCTT, CP SXC, cuối kỳ kế toán vào
sổ cái TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
2.3.1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp hạch toán chi phí của Công ty đối với các sản phẩm, xây lắp và
tủ điện là hạch toán theo đơn đặt hàng, các chi phí phát sinh liên quan đến đơn
đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng
hoàn thành, tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến
khi hoàn thành là giá thực tế của đơn đặt hàng đó.
Nguyên vật liệu chính: Là những loại nguyên liệu, nhiên liệu tham gia vào
trực tiếp quá trình sản xuất để cấu tạo nên thực thể vật chất sản phẩm như: Gạch,

đá, cát, sỏi, xi măng, sắt thép .... Trong nguyên vật liệu chính bao gồm cả bán
thành phẩm mua ngoài. Đó là chi tiết, bộ phận sản phẩm mà Công ty mua của
các đơn vị khác đển tiếp tục sản xuất chế biến thành phẩm hàng hóa của Công ty.
- Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không
cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó có thể kết hợp với nguyên liệu, vật
liệu chính là thay đổi màu sắc, hình dáng bên ngoài của sản phẩm tạo điều kiện
trong quá trình chế tạo sản phẩm được thực hiện bình thường. Vật liệu phụ được


24

sử dụng nâng cao chất lượng, tính năng, tác dụng của sản phẩm và bảo quản các
tư liệu lao động, phục vụ cho công việc lao động của công nhân.
- Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Trong tổng chi phí sản phẩm thì chi phí nguyên vật liệu chính chiếm một tỷ
trọng lớn. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chi phí của những loại nguyên vật
liệu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định một cách
tách biệt rõ ràng cụ thể cho từng sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về nguyên vật liệu chính,
đối với Công ty chủ yếu là tôn các loại, sắt các loại; Vật liệu phụ bao gồm sơn,
đồng và các linh kiện trong tủ điện. Chi phí nguyên vật liệu được tính theo giá
thực tế khi xuất dùng, còn có cả chi phí thu mua, vận chuyển từ nơi mua về nơi
nhập kho sản xuất.
Dựa vào bảng dự toán nguyên vật liệu, vật tư mà giám đốc đã ký duyệt, chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp được mua nhập kho và xuất dùng cho từng công
trình cụ thể. Xuất, nhập, tồn vật tư, nguyên vật liệu thể hiện trên sổ kế toán chi
tiết tài khoản 152, bảng tổng hợp nhập xuất tồn, kế toán ghi phiếu xuất kho vật
tư, thủ kho xuất nguyên vật liệu dựa vào phiếu xuất kho đó.
Sổ chi tiết tài khoản nguyên vật liệu trực tiếp (TK621) được mở chi tiết cho
từng khách hàng (hay từng công trình).



25

Biểu số 01: Phiếu nhập kho
Mẫu số: 01-VT
Đơn vị: CT TNHH Xây lắp và đầu tư thiết bị điện
Địa chỉ : 105/22/5 Tây Hồ - Thụy Khê - Hà Nội.

(Ban hành theo QĐ số
48/2006/QĐ-BTC ngày
14/9/2006 của Bộ trưởng
BTC)

PHIẾU NHẬP KHO
Ngày 14/07/2007
Nợ: TK 152, 133

Số: 105

Có: TK 111
Họ và tên người giao hàng : Nguyễn Phú Lợi
Theo HĐ GTGT số

: 0083875

Ngày 20 tháng 7 năm 2007 của Công ty Thiết bị đo Điện
Nhập kho tại : Kho Công ty
S
T

T

Tên, nhãn hiệu, quy
cách, phẩm chất vật tư


số

Đơn
vị
tính

Số lượng
Theo Thực
xuất
CT

Đơn giá

Thành tiền

Sứ 35KV
Quả
80
96,400
7,712,000
Cáp đồng bọc Cu/PVC
2.
M
13

52,000
676,000
0.6/1KV1x95
A Áptomat 800A
Cái
01
3,690,000
3,690,000
400
105,000
42,000,000
4. Sứ PS70 (Sứ chuỗi)
Quả
Cộng
54.078.000
Cộng thành tiền
Năm mươi bốn triệu không trăm bẩy tám nghìn đồng
Xuất ngày 14 tháng 07 năm 2007
Người lập phiếu Người nhận
Thủ kho
Kế toán trưởng
Giám đốc
hàng
(Hoặc bộ phận có nhu
cầu nhập)
(Ký, họ tên)
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
(Ký, họ tên)
(Ký, họ tên)
1.



×