Tải bản đầy đủ (.doc) (68 trang)

Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn nguyễn khắc đạt liên kết với tập đoàn đức hạnh BMG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 68 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

MÔNG THỊ DINH
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG,PHÒNG VÀ
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN
NGUYỄN KHẮC ĐẠT LIÊN KẾT VỚI TẬP ĐOÀN ĐỨC HẠNH BMG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:Chính quy
Chuyên ngành:Thú y
Khoa:Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 – 2017

THÁI NGUYÊN, NĂM 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

MÔNG THỊ DINH
Tên đề tài:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI NUÔI CON TẠI TRẠI LỢN
NGUYỄN KHẮC ĐẠT LIÊN KẾT VỚI TẬP ĐOÀN ĐỨC HẠNH BMG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Lớp: K45 – TY – N01
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS. Cù Thị Thúy Nga

THÁI NGUYÊN, NĂM 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên và sau 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã luôn nhận
được sự giúp đỡ tận tình của thầy, cô giáo và bạn bè. Đến nay em đã hoàn
thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
Thú y cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình
giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của cô giáo TS. Cù Thị
Thúy Nga người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực
tập, giúp em hoàn thành bản khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, công
nhân viên tại Tập đoàn Đức Hạnh BMGđã giúp đỡ em hoàn thành tốt thời
gian thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Khắc Đạt-Chủ trang trại chăn
nuôi lợn, xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã cho phép, tạo

điều kiện và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại trang trại.
Qua đây, em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, và giúp đỡ em trong suốt thời gian học
tập và thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

Sinh viên

Mông Thị Dinh

năm 2017


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng. Lịch sát trùng trại lợn nái...................................................................... 38
Bảng 4.1. Tình hình chăn nuôi của trại năm 2016 và năm 2017 .................... 47
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại .................................... 48
Bảng 4.3. Lịch tiêm phòng vắc xin trong trại ................................................. 49
Bảng 4.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn nái ...................... 50
Bảng 4.5. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con tại trại .......... 51
Bảng 4.6. Kết quả thực hiện một số biện pháp kỹ thuậttrên đàn lợn của
trại.........52
Bảng 4.7. Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn .......... 54



3

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs:

Cộng sự

Kg:

Kilogam

G:

Gam

Ml:

Mililit

Nxb:

Nhà xuất bản

STT:

Số thứ tự

TT:

Thể trọng


VAC:

Vườn - Ao - Chuồng


4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iii
Phần 1.MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1.1.Đặt vấnđề..................................................................................................... 1
1.2.Mục tiêu và yêu cầu của chuyênđề ............................................................. 2
1.2.1.Mục tiêu ....................................................................................................
2
1.2.2.Yêu cầu2
Phần 2.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .......................................................... 3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập............................................................................. 3
2.1.1. Tập đoàn Đức Hạnh BMG. ..................................................................... 3
2.1.2.Trại lợn Nguyễn Khắc Đạt – An Hòa – Vĩnh Bảo – Hải Phòng.............. 5
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyênđề ....................................................... 8
2.2.1.Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vậtnuôi ......................................
8
2.2.2.Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại cơsở........................... 12
2.2.3.Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợnnái.................................................... 20
2.2.4.Đặc điểm của lợn con giai đoạn theomẹ ................................................
24

2.2.5.Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn
nái nuôi con ................................................................................................... 29
2.3.Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoàinước ........................................
32
2.3.1.Các nghiên cứu trong nước .................................................................... 32
2.3.2.Tình hình nghiên cứu ngoàinước ........................................................... 34
Phần 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU....36
3.1.Đối tượng nghiên cứu................................................................................ 36
3.2.Địa điểm và thời gian tiếnhành ................................................................. 36
3.3.Nội dung thực hiện .................................................................................... 36
3.4.Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thựchiện........................................ 36


5

3.4.1.Các chỉ tiêu theodõi ................................................................................ 36
3.4.2.Phương pháp thựchiện............................................................................ 37
3.4.3. Quy trình xuất bán lợn .......................................................................... 46
Phần 4.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................... 47
4.1.Tình hình chăn nuôi tạitrại ........................................................................ 47
4.2.Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tạitrại ........................................ 47
4.3.Kết quả công tác chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợn tạitrại.............. 50
4.3.1.Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh trên đàn lợnnái .............................. 50
4.3.2.Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợncon .............................. 51
4.3.3.Kết quả thực hiện một số kỹ thuật trên đàn lợn tạitrại........................... 52
4.4.Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đànlợn .................. 53
Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .............................................................. 55
5.1.Kếtluận ...................................................................................................... 55
5.2.Đềnghị ....................................................................................................... 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 57
I.Tài liệu tiếngViệt........................................................................................... 57
II.Tài liệu tiếng nướcngoài .............................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấnđề
Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của
ngành nông nghiệp.Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không
thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Trong đó, chăn nuôi lợn
đang rất phổ biến và trở thành một nghề quan trọng để phát triển kinh tế hộ
gia đình nông nghiệp và các trang trại, đặc biệt là mô hình trang trại VAC.
Với mục đích đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành
mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nói chung.
Chính vì tầm quan trọng của ngành chăn nuôi, đồng thời để hoàn thành
chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với
hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ
sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và
hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo
cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn,
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất. Thực tập tại các trại chăn nuôi lợn
sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trởthành một
người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực

tiễn,gópphầnxứngđángvàosựnghiệppháttriểnđấtnước.
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý
của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập,
tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi
dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái nuôi con tại trại lợn Nguyễn
Khắc Đạt liên kết với tập đoàn Đức Hạnh BMG”.


1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyênđề
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Xác định được quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn
1.2.2. Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôicon
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôicon
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơsở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cánhân.


Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Tập đoàn Đức Hạnh BMG.
Tập đoàn Đức Hạnh BMG được thành lập tháng 12 năm 2002, hoạt
động kinh doanh chính trong các lĩnh vực: sản xuất vắc xin phòng bệnh, sản
xuất kinh doanh thuốc thú y, dược phẩm, thực phẩm chức năng, chế phẩm
sinh học, thức ăn chăn nuôi....
Nhận thức sâu sắc vấn đề tầm nhìn, sứ mệnh và tạo giá trị cốt lõi cho xã
hội, định hướng phát triển sản phẩm chất lượng cao, lựa chọn phân khúc

khách hàng chăn nuôi có kĩ thuật, chuyên nghiệp, theo hướng công nghiệp
quy mô lớn. Ngay từ những ngày đầu, hội đồng quản trị đã định hướng cần
phải đổi mới công nghệ, đổi mới dây chuyền máy móc thiết bị, nâng cao chất
lượng, lấy phương châm “Hiệu quả sử dụng của bạn là sức mạnh của
chúng tôi” là kim chỉ nam xuyên suốt mọi hoạt động và là tiền đề để tập đoàn
vươn lên phát triển trở thành một trong những tập đoàn hàng đầu Việt Nam
sản xuất vắc xin, thuốc thú y chất lượng cao, tiêu chuẩn quốc tế, hướng đến
xuất khẩu và cạnh tranh bền vững thời kỳ hội nhập. Sản phẩm của tập đoàn
Đức Hạnh BMG mang lại giá trị kinh tế và hiệu quả điều trị bệnh cao, hợp với
hình thức chăn nuôi trang trại công nghiệp quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại, đầu
năm 2010, Ban lãnh đạo tập đoàn đã đầu tư hơn 195 tỷ đồng xây dựng nhà
máy thuốc thú y đạt tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới GMP/WHO với 3
dây chuyền: Thuốc tiêm, thuốc dung dịch uống và thuốc bột, đưa vào sử dụng
từ cuối năm 2011. Đến nay, Tập đoàn tiếp tục đầu tư thêm trên 250 tỷ đồng
xây dựng nhà máy vắc xin với 3 dây chuyền sản xuất vắc xin vi khuẩn, dây
truyền vắc xin vi rút trên tế bào và dây chuyền sản xuất vắc xin vi rút trên


phôi trứng, cả 3 dây chuyền công nghệ Châu Âu đang đi vào hoạt động và
cho kết quả tốt.
Sau hơn 12 năm hoạt động, Tập đoàn Đức Hạnh BMG đã có những
bước phát triển vượt bậc cả về quy mô sản xuất kinh doanh, thị trường và số
lượng cán bộ chuyên nghiệp có chiều sâu, am hiểu sâu sắc tư duy quản trị.
Hiện tại, tập đoàn có 5 công ty thành viên và 12 chi nhánh tại các thành phố
lớn gồm: Công ty CP thuốc thú y Đức Hạnh Marphavet, Công ty cổ phần
Nanovet, Công ty cổ phần BMG, Công ty cổ phần Hoàng Đức Hiền, Công ty
cổ phần Aboss. Với tổng diện tích hơn 12,5 ha và 2 nhà máy đạt tiêu chuẩn
GMP/WHO trên cả 6 dây chuyền thuốc và vắc xin công nghệ cao. Trụ sở nhà
máy đặt tại Xã Trung Thành - Phổ Yên - Thái Nguyên và 12 chi nhánh khác
trên cả Nước như: Chi nhánh Cần Thơ, Chi nhánh Quận 9 - TPHCM, Chi

nhánh Đồng Nai, Chi nhánh Đắc Lắc, Chi nhánh Nha Trang, Chi nhánh Đà
Nẵng, Chi nhánh Huế, Chi nhánh Hải Phòng và Chi nhánh Mỹ Đình - Hà Nội.
Sản phẩm của tập đoàn phủ khắp 63 tỉnh thành trong cả nước và xuất khẩu
sang trên 10 nước trên Thế giới. Hệ thống nhà phân phối và đại lý với số
lượng hơn 8.000 đại lý. Tập đoàn có đội ngũ nhân sự chuyên môn trình độ
cao với hơn 1.000 CBNV bao gồm 2 Giáo sư, 5 Phó Giáo sư, 8 Tiến sỹ, 29
Thạc sỹ, trên 500 Bác sĩ thú y và Kĩ sư chăn nuôi, 15 Dược sĩ nhân y, 12 Cử
nhân Công nghệ sinh học có nhiều kinh nghiệm thực tế trong ngành, hơn 250
Cử nhân kinh tế, Kế toán, Luật, Nhân văn, Quản trị kinh doanh, Marketing,
Cơ khí chế tạo máy, Điện lạnh…có trình độ chuyên môn thường xuyên được
tập huấn ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo, đội ngũ
công nhân thâm niên lành nghề, môi trường làm việc thân thiện, chuyên
nghiệp, nhiều cơ hội thăng tiến. Ngoài ra tập đoàn đang hợp tác tốt với các
Bộ, Vụ, Cục, Viện, Liên hiệp, Hội, Trung tâm và các trường đại học trong và
ngoài nước.


Trong quá trình xây dựng và phát triển, Ban lãnh đạo tập đoàn luôn đề
cao nhân tố con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt
động. Chính sự lãnh đạo sáng suốt của Ban Lãnh đạo tập đoàn cộng với tinh
thần ham học hỏi, giao lưu, chia sẻ, không ngừng nâng cao kiến thức, trình
độ, kinh nghiệm của CBCNV đã tạo nên sức mạnh tổng lực giúp vươn lên và
khẳng định thương hiệu cũng như đứng vững trên thị trường trong nước và
quốc tế.
2.1.2. Trại lợn Nguyễn Khắc Đạt – An Hòa – Vĩnh Bảo – Hải Phòng
2.1.2.1. Vị trí địa lý
Trại lợn Nguyễn Khắc Đạt được xây dựng năm 2013, là trại tư với quy
mô 300 nái. Trại được xây dựng tại xã An Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố
Hải Phòng.
An Hòa là một xã thuộc huyện Vĩnh Bảo, với diện tích tự nhiên 6,27

2

km , cách trung tâm huyện Vĩnh Bảo trên 5 km, cách trung tâm thành phố Hải
Phòng 42 km. Phía nam giáp với đường quốc lộ 10, phía đông giáp với xã
Hùng Tiến, phía bắc giáp với xã Hiệp Hòa, phía Tây giáp với dòng sông Hóa.
Điều kiện địa lý của xã rất thuận lợi cho việc giao thông, vận chuyển thức ăn
cũng như việc buôn bán, vận chuyển hàng hóa của trại.
2.1.2.2. Điều kiện khíhậu
Huyện Vĩnh Bảo nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh
hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó, trại lợn Nguyễn Khắc Đạtcũng
chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng, nhiệt độ thay đổi theo mùa rõ rệt.
Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 8), mùa đông lạnh, khô (từ
o

tháng 10 đến tháng 2 năm sau). Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,4 C. Ở
o

o

vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,7 C; Nhiệt độ tối cao lên tới 42 C. Ở
o

độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,6 C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt
o

o

độ chỉ còn 16 C. Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,2 C. Nhiệt độ cao
o


tuyệt đối 33,1 C.


Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập
trung nhiều vào tháng 7, tháng 8. Độ ẩm không khí 86,1%. Vùng thấp thường
khô hanh vào tháng 12, tháng 1. Từ độ cao 400m trở lên không có mùakhô.
Mùa Đông có gió Bắc, mùa Hạ có gió Đông Nam. Với điều kiện khí hậu như
vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển.
2.1.2.3.Cơ cấu tổ chức củatrại
Trại gồm có 06 người, trong đó có:
+ 01 quản lý
+ 01 kỹ thuật trại
+ 02 công nhân
+ 01 cấp dưỡng
+ 01 sinh viên thực tập
2.1.2.4.Cơ sở vật chất củatrại
Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được
quan tâm và chú trọng.
* Về cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng
đầu tư:
Trại được xây dựng trên vùng đất khoảng 2ha với 2 dãy chuồng lớn
chạy dài lợp mái tôn. Mỗi dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồngnhỏ.
Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng bầu) và sàn nằm
(đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theodãy.
Cóhệthốngquạtgió,dànmát,điệnsáng,vòiuốngnướctựđộngcholợ
n. Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùađông.
Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện
cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mấtđiện.
- Về cơ sở hạtầng:
+ Trại xây dựng gồm 2 khu tách biệt: Khu nhà ở và sinh hoạt của công



nhân, sinh viên và khu chuồng nuôi.
+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi.
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn
chung (buổi tối).
+ Khu nhà bếp rộng rãi và sạch sẽ.
+ Trại có một nhà kho là nơi chứa thức ăn cho lợn và một kho thuốc là
nơi cất giữ và bảo quản các loại thuốc, vắc xin, dụng cụ kỹ thuật để phục vụ
công tác chăm sóc, điều trị cho đàn lợn của trại.
-Hệ thống chuồngnuôi:
Khu vực chuồng nuôi của trại được xây dựng trên một khu vực cao, dễ
thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt chung của công nhân,
gồm: 1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ đực. Chuồng được xây dựng theo hướng
Đông - Nam.Trong đó có 2 dãy chuồng đẻ, mỗi dãy được tách ra làm 2
chuồng nhỏ với 58 ô chuồng sàn. Chuồng lợn bầu kiểu chuồng cũi sắt. Các
chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống
nước tự động ở mỗi ô chuồng. Mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt thông
gió và dàn mát. Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồngngoại.
*Về cơ sở vật chất phục vụ cán bộ công nhân trong trại:
-Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh
viên sinh hoạt hàng ngày như: Máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh,quạt...
-Những vật dụng cá nhân như: Kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội
đầu cũng được trại chuẩn bị.
2.1.2.5. Thuận lợi và khó khăn củatrại
- Thuận lợi:
+ Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến
người dân xung quanh.
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực,



năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc.
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay.
- Khó khăn:
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến
phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn. Năm 2013, khi trại
vừa bắt đầu vào hoạt động ổn định thì dịch bệnh tai xanh bùng phát làm trại
thiệt hại khá lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của trại.
2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyênđề
2.2.1. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vậtnuôi
2.2.1.1. Phòngbệnh
Như ta đã biết“ Phòng bệnh hơn chữa bệnh”‚ nên khâu phòng bệnh
được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn
chặn được bệnh xảy ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên
hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ. Do vậy,
việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [19], bệnh xuất hiện trong một đàn
lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc
không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã
được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn
lợn. Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các
tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đànlợn.
Theo Lê Văn Tạo và cs, 1993 [20], vi khuẩn E.coligây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá củavật chủ. Khi môi trường
quá ô nhiễm do vê sinh chuồng trại kém, nước uống thứ c ăn bi nhiễm vi
khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sứ c đề kháng dễ bi cảm
nhiễm E.coli,



bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vê sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong
phòng bệnh. Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúngquytrình kỹ thuật là điều rất
cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những giasúckhoẻ mạnh, có khả
năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại. Ô chuồng lợn nái phải được vê sinh
0

tiêu độc trước khi vào đẻ. Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 27 - 30 C
đối
0

với lợn sơ sinh và 28 - 30 C với lợn cai sữa. Chuồng phải luôn khô ráo,
không
thấm ướt. Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu
xuân. Nên dùng các thi ết bị sưởi điệnhoặc đèn hồng ngoại trong những ngày
thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao
trong chăn nuôi.
Theo Trần Văn Phùng và cs, 2004 [18] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô
chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin
5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái
trước khi đẻ.
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng
mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.
Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15
ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản. Với những
chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các
dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa. Các chất thải rắn
trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học, chất thải lỏng, nước rửa
chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường. Cần phun


10

sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30
ngày. Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa
vào kho bảo quản. Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồngnuôi.
- Phòng bệnh bằng vắcxin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu
quảnhất.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [9] vắc xin là một
chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một
bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố
hay vật liệu di truyền như ARN, AND…) đã được làm giảm độc lực hay vô
độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học
phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen). Lúc đó chúng không
còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể
động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch
chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tươngứng.
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh
ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.
2.2.1.2.
bệnh

Điều


trị

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [9] nguyên tắc để
điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,
dùng thuốc.
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn
chế lây lan.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ
thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị


11

tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể
chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém
vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì
không nên chữa.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012 [9] các biện pháp
chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ
sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh). Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,
phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối
phó. Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất củabệnh.
+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy
thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa bệnh
bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,

có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng
độctố).
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng,
một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm
bệnh. Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi
khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và
tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau. Khi cần, có thể phối
hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị,vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn.
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng
ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên sử dụng
kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm


12

giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây
nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng
sinh.Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ
chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khókhăn.
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác
định. Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liềulượng.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian
để phát huy tác dụng của khángsinh.
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và
độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác
dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn khángthuốc.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,

dùng thêm vitamin, tiêm nước sinhlý…
2.2.2. Những hiểu biết về một số bệnh thường mắc tại
cơsở
2.2.2.1. Bệnh viêm tửcung
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn
nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc
bệnh, phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng. Khi gia súc sinh đẻ
nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm
mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương,vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây
viêm. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó
thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung (Đỗ Quốc Tuấn, 2005 [26])
* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [7], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia


13

súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.
Theo các tác giả

NguyễnXuânBình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và

cs,2002 [14], bệnh viêm tử cung ở lơn nái thường do các nguyên nhânsau:
- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử
cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật

hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm
đạo truyền sang con lợn khỏe.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm
mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kếphát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến
viêm tửcung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: Sảy thai truyền nhiễm,
Phó thương hàn, bệnh Lao… gây viêm tửcung.
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gâyviêm.
Theo Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài, 2002 [6], nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tu cầu vàng (Staphylococcus aureus), Liên cầu dung
huyết (streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.
coli….
Lê Văn Năm, 1999 [16] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại
cảnh gây bệnh như: Do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng
dụng cụhaythuốcsản khoasai kỹthuâtdân đên chất nhàytrong cơ quan sinh dục
bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và
thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều


14

kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng
3 tuần sau đẻ). Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây
bệnh. Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây ra trong
thời gian động đực ( vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kĩ thuật.
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần
thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử

cung. Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây hiện tượng đẻ khó, viêm tử
cung do xây xát. Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.
* Triệu chứng:
Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt
tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang
vàng hay trắng và trong. Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu
đục, mùi tanh rất khó chịu.
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:
o

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 - 42 C trong vài ngày đầu âm môn sưng
tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ lờ.
+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch
nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy
ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần. Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả
hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo
tử cung lan sang làm chết thai.
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan
sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều
ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát
triển của lợncon.
Theo Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [7], Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn
nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:


15

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảythai.
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co
thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung.
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2αgây phân huỷ thể vàng ở
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi
đến thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm
lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử
cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảythai.
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai
chếtlưu.
Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển. Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu.
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong
giai đoạn theo mẹ thường bị tiêuchảy.
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E. coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn
sữa. Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị
tiêu chảy, còi cọc.
- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở
lại. Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2αgiảm, do đó
thể


16

vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone.

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự
phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở
lại được và không thải trứng được.
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau
khi sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ
sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong
các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi
sống thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh
hưởng tới hoạt động của buồngtrứng.
* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu
hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở
nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài. Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml
cho tới 200 ml hoặc hơn nữa. Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung
dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu
máu cá. Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp
tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa. Hiện tượng
chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tửcung.
Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có
những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết
tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra. Các chất đọng ở âm hộ lợn
nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gâyra.
Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ
chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang. Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì
có thể bị nhầm lẫn.
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối.


17


Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ
nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục. Mặt
khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho
chính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái. Để hạn chế tối thiểu
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấpnhất.
2.2.2.2.
viêmvú

Bệnh

* Nguyên nhân gây bệnh viêmvú:
Trần Minh Châu (1996) [3] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú. Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm
khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra
quá nhiều gây tắc sữa. Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là
môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm.
- Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ,
viêm bàng quang… Khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về
tuyến vú cư trú tại đây và gâybệnh.
- Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một
hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa. Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn
con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương
Lăng, 2000)[12].
- Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ

bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu


18

vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đếnviêm.
* Triệu chứng:
Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 7 ngày có khi đến một tháng. Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vú
thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú. Vú
có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có
o

phảnứngđau. Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42 C
kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp
đầu vú xuống sàn, ít cho con bú. Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh
lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê
Hồng Mận, 2002) [15]. Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa
có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng,
xanh lợn cợn, đôi khi cómáu.
* Hậu quả của bệnh viêmvú:
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ.
- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004 [14], bệnh viêm tử
cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn
nái nuôicon.
- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1]: Mất sữa sau khi đẻ là do kế
phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú. Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao
liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến
quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường
tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa

sẽ bị hạn chế, thường xảy ra ở lứa đẻ tiếptheo.
Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có
nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con


×