Tải bản đầy đủ (.docx) (129 trang)

NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH NINH BÌNH (bản doc)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.25 MB, 129 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐỖ THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC: TS. TRẦN
ĐÌNH THAO

HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và
chưa từng được bảo vệ một học vị khoa học hoặc công bố trong bất


kỳ công trình nào khác
Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân
trọng chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu Hương

LỜI CẢM ƠN


Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi luôn nhận
được sự giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp quý báu của nhiều tập thể và
cá nhân. Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các tập thể và cá nhân
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS. Trần Đình
Thao - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Sau đại học,
quý thầy cô thuộc Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, bộ môn
Phân tích định lượng đã giúp tôi hoàn thành quá trình học tập và
thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Lãnh đạo các phòng ban của
Sở Nông nghiệp & PTNT, UBND các huyện Nho Quan, Yên Khánh
và Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã giúp đỡ mọi mặt, tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, cung cấp thông tin cần
thiết cho việc nghiên cứu đề tài.
Tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã
luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực
hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu Hương

MỤC LỤC


Lời cam đoan
i

4.3.6. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế:

4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính

109
sách xây dựng nông

thôn mới tại Ninh Bình

110

4.4.1. Ảnh hưởng của các chính sách

112

4.4.2. Ảnh hưởng của quá trình tổ chức thực hiện

114

4.4.3. Ảnh hưởng từ sự tham gia của người dân

119



Một số giải pháp để thực hiện có hiệu quả các chính sách thực hiện xây
dựng nông thôn mới phù hợp với điều kiện tỉnh Ninh Bình.

120

Cơ sở đưa ra các đề xuất:
120


Các đề xuất giải pháp cụ thể
121
• KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
130
• Kết luận
130
• Kiến nghị
132
TÀI LIỆU THAM KHẢO
133
PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ

Ban chỉ đạo

BQ

Bình quân

CN-TTCN

Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp

CSHT

Cơ sở hạ tầng


DĐ ĐT

Dồn điền đổi thửa

ĐVT

Đơn vị tính

ĐBSH

Đồng bằng sông Hồng


MTQG

Mục tiêu quốc gia

MTTQ

Mặt trận Tổ quốc

NTM

Nông thôn mới

NSNN

Ngân sách nhà nước

HĐND


Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã

KTXH

Kinh tế xã hội

PTNT

Phát triển nông thôn

SX

Sản xuất

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

UBND

Ủy ban nhân dân

DANH MỤC BẢNG
STT


Tên bảng

Trang

Bảng 2.1.

Một số văn bản chủ trương, chỉ đạo của tỉnh Ninh Bình ban hành

16

Bảng 2.2.

Tổng hợp các chính sách về phát triển CSHT nông thôn

19

Bảng 2.3.

Tổng hợp các chính sách chính của tỉnh Ninh Bình về hỗ trợ phát
triển sản xuất nông nghiệp

22

Bảng 3.1

Tình hình sử dụng đất đai giai đoạn 2001 - 2012

44

Bảng 3.2


Thực trạng lao động đang làm việc tại các ngành kinh tế giai
đoạn 2005 – 2012

47

Bảng 3.3.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Ninh Bình giai đoạn 2005- 2012

48

Bảng 3.5

So sánh cơ cấu kinh tế Ninh Bình với cả nước, đồng bằng sông
Hồng năm 2000 và năm 2010

50

Bảng 4.1.

Kết quả công tác tuyên truyền

62

Bảng 4.2.

Sự tham gia của người dân trong công tác tuyên truyền

62


Bảng 4.3.

Sự tham gia của người dân vào công tác kiểm tra giám sát

64

Bảng 4.4.

Một số nội dung trong họp bàn xây dựng NTM

66

Bảng 4.5.

Kết quả công tác quy hoạch

67

Bảng 4.6.

Sự tham gia của người dân trong công tác quy hoạch NTM

68


Bảng 4.7.

Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng tỉnh Ninh Bình


73

Bảng 4.8.

Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

76

Bảng 4.9.

Thống kê cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầngệu đồng

77

Bảng 4.10. Kết quả xây dựng và cải tạo hệ thống thủy lợi tại các điểm khảo sát

80

Bảng 4.11. Kết quả xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông tại các điểm khảo sát 84
Bảng 4.12. Đánh giá của người dân về CSHT tại các huyện điều tra

87

Bảng 4.13. Đánh giá về công tác xây dựng CSHT nông thôn

88

Bảng 4.14. Sự tham gia của người dân vào các lớp tập huấn tại các điểm
khảo sát
Bảng 4.15. Chi tiết cho các loại hình hỗ trợ phát triển sản xuất 2011-2013


95
96

Bảng 4.16. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới đến năm 2012

104

Bảng 4.17. Chất lượng đội ngũ cán bộ tại các điểm khảo sát

118

Bảng 4.18. Mức độ tham gia, đóng góp của người dân và cộng đồng tại các
điểm khảo sát
Bảng 4.19. Lý do không tham gia đóng góp xây dựng NTM

119
120

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1.

Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Bình

Đồ thị 4.1. Nguồn thông tin chủ yếu trong tuyên truyền

42
63

Đồ thị 4.2. Mức độ tham gia đóng góp của người dân trong xây dựng

NTM

65

Đồ thị 4.3. Đánh giá của người dân về công tác quy hoạch

69

Đồ thị 4.4. Cơ cấu vốn đầu tư cho phát triển CSHT

75

Đồ thị 4.5. Phân loại trang trại tại các điểm điều tra

93

Đồ thị 4.6. Cơ cấu vốn đầu tư cho phát triển sản xuất

95

Đồ thị 4.7. Ý kiến của người dân về công tác DĐ ĐT

100

Sơ đồ 01.

Bộ máy tổ chức xây dựng nông thôn mới tỉnh Ninh Bình

Sơ đồ 02:


Khung đề xuất hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn

58


mới của tỉnh Ninh Bình đến năm 2020:

• MỞ ĐẦU


Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí hết sức quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã
hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc
phòng; giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường sinh
thái đất nước. Xây dựng và phát triển nông thôn luôn được Đảng và
Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Cụ thể, tại Hội nghị lần thứ 7 Ban
Chấp hành Trung ương đảng Khoá X đã ban hành Nghị quyết số 26NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với
mục tiêu chính là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công
nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc;
môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao
theo định hướng XHCN...”. Đây cũng là Nghị quyết đầu tiên của
Đảng mang tính toàn diện về nông dân - nông thôn và đây cũng là
chương trình có nội dung toàn diện, tổng hợp của các chương trình

mục tiêu, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, liên quan
trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất, tinh thần của hơn 70% dân số
khu vực nông thôn toàn quốc nói riêng và trên 80% dân số sống ở
khu vực nông thôn tỉnh Ninh Bình nói riêng.
Từ năm 1986, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết
nhằm không ngừng xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển
ngành nông nghiệp. Trong thực tế những chính sách này đang khơi
dậy và phát huy cao độ các nguồn lực để phát triển kinh tế nông
nghiệp của đất nước. Thực hiện Nghị
quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông

111


thôn”, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg
ngày 16/4/2009 về “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” và
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 về “Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” nhằm thống nhất chỉ đạo việc
xây dựng nông thôn mới trên cả nước. Các Bộ, ngành Trung ương
cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết các nội dung thực hiện,
đặc biệt là chính sách để thực hiện xây dựng nông thôn mới. Nhiều
chính sách mang tính đặc thù đã được áp dụng và đưa vào triển khai
thực hiện trong thời gian qua.
Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, dân
số khoảng 91,6 vạn người, bình quân 665 người /km2, trong đó 80,1%
dân số vùng nông thôn; lao động nông nghiệp, nông thôn có 270
nghìn người, chiếm 47,5%; đất sản xuất nông nghiệp chiếm 69,5%
diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Ninh Bình có 3 vùng kinh tế: vùng đồng
bằng, vùng ven biển, vùng đồi núi địa hình không bằng phẳng. Quán

triệt Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị,
Ban Bí thư Trung ương, sự quan tâm giúp đỡ, hướng dẫn của các Bộ,
ban, ngành, đoàn thể Trung ương; sự lãnh đạo tập trung, thống nhất
của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Ninh Bình đã kịp thời ban hành một số chủ
trương, chính sách phù hợp với thực tiễn; cùng với sự nỗ lực phấn đấu
của các cấp, các ngành Chương trình xây dựng nông thôn mới của
Ninh Bình bước đầu đã đạt được một số kết quả: Các tiêu chí xây
dựng nông thôn mới được triển khai đồng bộ; công tác đào tạo, tập
huấn cho cán bộ các cấp được chú trọng, công tác tuyên truyền được
tăng cường; ứng dụng khoa học, công nghệ cao, công nghệ sạch
trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh; cơ sở hạ tầng nông
thôn được đầu tư, nâng cấp, cải thiện. Đến nay, toàn tỉnh có 08 xã
đạt từ 13-16 tiêu chí; 35 xã đạt từ 10 đến 12 tiêu chí; 71 xã đạt từ 0509 tiêu chí. Ninh Bình được xếp trong tốp 10 toàn quốc về triển khai
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Trong thời gian qua, việc áp dụng các chính sách trong phát triển nông
nghiệp nói chung và chính sách xây dựng nông thôn mới nói riêng
của tỉnh Ninh Bình đã đưa đến nhiều thành quả quan trọng. Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách thực hiện


chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Ninh Bình cũng còn
nhiều tồn tại hạn chế. Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới, thực hiện một cách có kết quả và hiệu quả
các chính sách trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh
Ninh Bình trong thời gian tới chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại tỉnh
Ninh Bình”.
• Mục tiêu nghiên cứu




Mục tiêu chung

Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách trong triển khai
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời gian qua.
Từ đó đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách có hiệu quả trong
công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Ninh Bình thời
gian tới.



Mục tiêu cụ thể

• Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính
sách xây dựng nông thôn mới.
• Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách xây dựng nông thôn
mới ở
tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2010-2012.
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
• Đề xuất giải pháp để thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2015, tầm
nhìn đến năm 2020.
• Câu hỏi nghiên cứu
• Việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn tỉnh Ninh Bình đang diễn ra như thế nào?
• Chính sách xây dựng nông thôn mới có được triển khai đúng tiến độ
không?
• Quy trình thực hiện các chính sách có phù hợp không?

• Việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trong thời gian
qua
gặp thuận lợi, khó khăn gì?
• Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình thực thi chính sách


nông thôn mới ở Ninh Bình?
• Cần làm gì để thực hiện tốt các chính sách xây dựng nông
thôn mới nhằm (NTM) phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Ninh
Bình thời gian tới?
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu
• Các chính sách về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới;
• Quá trình triển khai chính sách xây dựng nông thôn mới;
• Các sở, ban, ngành liên quan đến 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng
NTM;
• Các huyện, thị xã, các xã và 1 số ban cấp thôn xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh;
• Đại diện người dân được hưởng thụ trong công tác xây
dựng nông thôn mới.



Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi về nội dung

Tình hình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới đã và
đang được thực hiện trong công tác xây dựng nông thôn mới hiện
nay trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhằm phát triển nông nghiệp, nông

thôn.
• Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
• Phạm vi về thời gian:
+ Số liệu đánh giá tình hình thực hiện các chính sách xây
dựng nông thôn mới ở Ninh Bình được thu thập trong giai đoạn
2010-2012, các giải pháp đề xuất đến năm 2015 tầm nhìn đến năm
2020.
+ Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 8 năm
2013

• CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI




Cơ sở lý luận

Một số khái niệm có liên quan


• Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn, một môi
trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế,
văn hóa, xã hội mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn do
đó cũng có nhiều khái niệm khác nhau về nông thôn.
Khi nói về khái niệm nông thôn người ta thường so sánh nông

thôn với thành thị. Có quan điểm cho rằng khi xem xét nông thôn
dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn
so với thành thị.
Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ
sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát
triên bằng thành thị.
Nói tóm lại, có rất nhiều khái niệm về nông thôn nhưng có
khái niệm chỉ mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời
gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể hiểu: “Nông
thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông
dân. Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn
hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và
chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Giáo trình Phát triển nông
thôn, trường ĐHNN Hà Nội, trang 11, 2005).
• Khái niệm về phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông
thôn. Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước,
từng vùng, từng địa phương; theo quan điểm thông thường, bản chất
của phát triển là tăng trưởng
và hiện đại hóa mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ.
Có quan điểm lại cho rằng, phát triển nông thôn nhằm nâng
cao về vị thế kinh tế, xã hội cho người nông dân thông qua việc sử
dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân
lực, vật lực và tài lực.
Theo Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra định nghĩa: “Phát
triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống
kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng



nông thôn. Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân
sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”
(Giáo trình Phát triển nông thôn, Trường ĐHNN Hà Nội, trang 19,
2005).
Phát triển nông thôn có tác động theo nhiều khía cạnh khác
nhau. Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng
cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế
xã hội, văn hóa và môi trường, quá trình này trước hết là sự nỗ lực
từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính
phủ và các tổ chức.
Từ các quan điểm trên thì theo tôi: “Phát triển nông thôn là
một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, văn
hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ
chức khác” (Giáo trình Phát triển nông thôn, trường ĐHNN Hà Nội,
trang 20, 2005).
• Khái niệm về nông thôn mới
Nông thôn mới gần đây không còn là tên gọi mới đối với
nước ta, mô hình phát triển nông thôn đã góp phần quan trọng giúp
cho người nông dân thoát nghèo, được sống trong một cộng đồng xã
hội có văn hóa hơn, văn minh hơn, ở đó tình làng nghĩa xóm, sự
tương trợ lẫn nhau được vun đắp ngày càng nhiều hơn. Đặc biệt là
con người của nông thôn sẽ có trình độ hơn, năng động hơn, tha
thiết hơn khi tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng địa
phương. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất và tinh
thần ngày càng cao của người nông dân nông thôn, yêu cầu phát
triển nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa theo
tinh thần Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ban hành ngày 28 tháng 10
năm 2008 về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị

quyết hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hànhTtrung ương Đảng khoá
10 về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nội dung của Nghị quyết
này cụ thể hoá đuờng lối trên với 3 Chương trình mục tiêu quốc gia,
9 dự án quy hoạch, 36 đề án phát triển và các chính sách liên
quan…. đuợc xây dựng sát với tình trạng thực tế của nông thôn Việt


Nam. Nghị quyết về chương trình hành động của Chính phủ rất quy
mô và khá cụ thể trong phân công và thời gian thực hiện. Qua đây
chúng ta thấy Đảng và Chính phủ quan tâm rất đặc biệt đến vấn đề
nông dân, nông nghiệp và nông thôn với quyết tâm cao độ. Đây là
tư tuởng lớn và hành động đúng đắn của Đảng và Nhà nuớc ta đối
với nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nuớc. Ngày 02/02/2010 Thủ tuớng Chính phủ ban hành Quyết định
số 193/QĐTTg về phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây
dựng nông thôn mới. Theo đó, mục tiêu đến năm 2011 sẽ cơ bản phủ
kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước, làm cơ sở
để đầu tư xây dựng nông thôn mới, thực hiện mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Quyết định của Thủ
tuớng Chính phủ cũng nhấn mạnh với quan điểm là việc quy hoạch
xây dựng nông thôn mới phải có sự tham gia của nguời dân, cộng
đồng dân cư, từ ý tuởng quy hoạch đến huy động nguồn vốn, tổ chức
thực hiện và quản lý xây dựng.
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những
đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu
chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện
hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông
thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt” 1
Đây là quan điểm có tính khái quát và có tính mạch lạc về mô hình
phát

1 Phan Xuân

Sơn, Nguyễn Cảnh, năm 2008

triển nông thôn mới. Đặc điểm chung nhất của mô hình phát triển
nông thôn mới là gắn với nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
• Khái niệm về chính sách
Chính sách là sự thể hiện cụ thể của đường lối chính trị
chung. Dựa vào đường lối chính trị chung, cương lĩnh chính trị của
đảng cầm quyền mà người ta định ra chính sách.
Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói
cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách. Có thể
có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể
không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật


pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của
thực tiễn. Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật
ngoài chính sách. Theo nghĩa đó, chính sách chính là linh hồn, là nội
dung của pháp luật, còn pháp luật là hình thức, là phương tiện thể hiện
của chính sách khi nó được thừa nhận, được “nhào nặn” bởi “bàn tay
công quyền”, tức là được ban hành bởi Nhà nước theo một trình tự luật
định.
• Khái niệm về quá trình thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách là việc triển khai chính sách, bao gồm
việc cụ thể hóa chính sách hay chương trình thành một kế hoạch và
được hành động theo từng cấp, từng ngành và từng địa phương;
được tuyên truyền, phổ biến thông tin đến từng cấp cơ sở; phân cấp
các hoạt động; chuẩn bị các nguồn lực để triển khai thực hiện và tổ
chức thực hiện. Cùng với đó là sự kiểm tra, giám sát các hoạt động,

chuẩn bị các nguồn lực để đánh giá tình hình thực hiện cũng như kết
quả của việc thực hiện chính sách. Từ việc thực hiện chính sách, rút
ra những bài học kinh nghiệm cho những công việc và kế hoạch tiếp
theo, sửa đổi, điều chỉnh chính sách cho phù hợp.



Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới

Trong thời gian qua, nông nghiệp nông thôn tuy có nhiều
bước phát triển đáng kể nhưng những thành tựu đạt được chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các
vùng. Nông nghiệp phát triển còn
kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh
tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất;
nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn
nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới
cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là sản
xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt
hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm,
chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở
nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp và
nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội


còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực thích ứng,
đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh
thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là
vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo

giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều
vấn đề xã hội bức xúc. Theo thống kê và đánh giá:
• Về quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch:
• Thiếu quy hoạch sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ.
• Không có quy chế quản lý phát triển theo quy hoạch.
• Nông thôn xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê
pha tạp, lộn xộn, môi trường ô nhiễm, nhiều nét đẹp văn hoá truyền
thống bị huỷ hoại hoặc mai một.
• Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, không đáp
ứng yêu cầu phát triển lâu dài.
• Cả nước có 56% đường trục xã - thôn được cứng hoá,
trong đó trên 30% đạt chuẩn.
• 80% thôn có nhà văn hoá.
• 72% hệ thống điện nông thôn đạt chuẩn.
• Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức
thấp:
• Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu nhưng quy mô nhỏ (36% hộ có
dưới
0,2 ha); Nếu không chuyển dịch được cơ cấu lao động, không đưa
nhanh ngành nghề vào nông thôn thì dù có tăng năng suất, tổ chức lại
sản xuất, dồn điền đổi thửa cũng chưa đủ.
• Kinh tế trang trại (hình thức sản xuất hiệu quả nhất trong
nông nghiệp hiện nay) mới chiếm ~1% tổng số hộ.
• Trên 54% số HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu;
doanh nghiệp nông nghiệp không đáng kể; liên kết tổ chức sản xuất
hàng hoá yếu.
• Đời sống người dân nông thôn còn ở mức thấp.
• Các vấn đề văn hóa - xã hội - môi trường - y tế
• Giáo dục mầm non: 45,5% thôn không có lớp mẫu giáo,

84% không có nhà trẻ.
• Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.


• Tệ nạn xã hội tăng, hủ tục lạc hậu còn dai dẳng; hệ thống
an sinh xã hội chưa phát triển; môi trường sống ô nhiễm.
• Hệ thống chính trị cơ sở còn yếu, nhất là trình độ, năng
lực điều hành. Qua một số nội dung cơ bản trên, nông
thôn nổi bật 3 yếu tố chính:
• Thiếu tính toàn diện và đồng bộ đối với yêu cầu phát triển nông
thôn.
• Thiếu tính kết nối, lồng ghép nội dung.
• Phân tán vốn, quản lý khó, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Từ 5 lý do trên nên chương trình MTQG xây dựng nông thôn
mới đã hình thành trên cơ sở lồng ghép nhiều chương trình MTQG
vào một chương trình và triển khai đồng bộ tất cả các nội dung để
phát triển nông thôn một cách toàn diện, bền vững nhưng quan
trọng nhất là giữ được bản sắc văn hoá dân tộc của từng vùng, miền
khác nhau.



Những nội dung chủ yếu của chính sách xây dựng nông thôn
mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị
và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:
• Nhóm chính sách quy hoạch
• Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển

sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
và dịch vụ;
• Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường,
phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có
trên địa bàn.
• Nhóm chính sách phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
• Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã
và hệ thống giao thông trên địa bàn xã. Đến năm 2015 có 35% số xã
đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và
đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản
cứng hóa)
• Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện
phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số


xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
• Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt
động văn hóa thể thao trên địa bàn xã. Đến năm 2015 có 30% số xã
có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt
chuẩn.
• Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa
về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến
2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
• Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa
về giáo dục trên địa bàn xã. Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và
đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
• Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến năm
2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt
chuẩn.
• Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến năm

2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên kiên cố
hóa). Đến năm 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ
thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
• Nhóm chính sách chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu
nhập.
• Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo
hướng
phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế.
• Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp.
• Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong
sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
• Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương
châm “mỗi làng mỗi sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế
mạnh của địa phương.
• Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy
đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch
nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
• Nhóm chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội
• Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và


bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của
Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
• Tiếp tục triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo.
• Thực hiện các chương trình an sinh xã hội.
• Nhóm chính sách đổi mới và phát triển các hình thức tổ
chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
• Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã.

• Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn.
• Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa
các loại hình kinh tế ở nông thôn.
• Nhóm chính sách phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
• Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục

đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
• Nhóm chính sách phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông
thôn
• Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong
lĩnh vực y tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới.
• Nhóm chính sách văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
• Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn
hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
• Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu
cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
• Nhóm chính sách nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
• Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
• Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên
địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ
thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom,
xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây
dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các
công trình công cộng ...

Nhóm chính sách nâng cao chất lượng tổ chức Đảng,
chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội
• Tổ chức đào tạo các cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội



vụ,
đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
• Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được
đào tạo, đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ ở các vùng này.
• Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các
tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông
thôn mới.

Nhóm chính sách an ninh, trật tự xã hội nông thôn
• Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh;
phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
• Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách
tạo điều kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thiện
nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu
xây dựng nông thôn mới



Nguyên tắc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNN&PTNT-BKH&ĐT-

BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số
nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình mục
tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020” đã đề
ra 6 nguyên tắc như sau:

• Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông
thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/Q ĐTTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết
định số 342/Q Đ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng
Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông
thôn mới.
• Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương
là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí,
quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn
thực hiện. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn,


xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
• Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang
triển khai trên địa bàn nông thôn.
• Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải
gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy
hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông
thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng.
• Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực;
tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực
hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn
mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực
hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
và giám sát đánh giá.
• Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều
hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức

thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận
động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây
dựng nông thôn mới.



Vai trò của chính sách trong xây dựng nông thôn mới

• Định hướng cho sự phát triển nông nghiệp, hỗ trợ mạnh mẽ
cho quá trình tái sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng
nông thôn.
• Hình thành quy mô và phương thức tham gia của các thành
phần kinh tế trong khu vực nông thôn. Bên cạnh đó khai thác lợi thế so
sánh của nền kinh tế đầu tư và phát triển trong khu vực nông thôn,
phát triển các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đạt mức tối ưu, nâng cao
hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ
thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.



Quy trình thực hiện xây dựng nông thôn mới

Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNTBKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp
PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính quy định các bước thực


hiện chính sách xây dựng nông thôn mới như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện.
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương
trình xây dựng nông thôn mới.

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu
chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới.
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
. Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn
mới của xã. Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án.
Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương
trình.


Các nhóm chính sách thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới tỉnh Ninh Bình

Trong những năm qua xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chiến
lược,

đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung nỗ lực của cả hệ thống chính
trị, của Nhà nước và nhân dân, nhằm giải quyết những vấn đề cấp
bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo của quá
trình phát triển đất nước đặc biệt là nông nghiệp - nông dân - nông
thôn. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bên cạnh đó để

thực hiện nhất quán chủ trương chính sách của Đảng, tạo thuận lợi
cho việc thực hiện tốt công tác xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã căn cứ vào các văn bản chỉ
đạo từ cấp trên làm cơ sở, bên cạnh đó đề ra các văn bản mới để phù
hợp với điều kiện thực tế của tỉnh. Dưới đây là hệ thống văn bản chủ
trương, chỉ đạo tỉnh Ninh Bình đã ban hành để làm cơ sở cho các
cấp, các ngành tham mưu xây dựng các cơ chế, chính sách thực hiện
xây dựng nông thôn mới.


Bảng 2.1. Một số văn bản chủ trương, chỉ đạo của tỉnh Ninh Bình ban
hành
T
T

Tên văn bản

Ngày ban
hành

Cơ quan
ban hành


1

Chương trình hành động số 20/CTr-TU thực hiện
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của
Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn.

21/10/2008

Tỉnh ủy
Ninh Bình

2

Chương trình hành động số 01/CTHĐ-UBND
thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày

05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

12/3/2009

UBND
Tỉnh Ninh
Bình

Nghị quyết số 03-NQ/TU về xây dựng NTM tỉnh
Ninh Bình giai đoạn 2011-2015 định hướng đến
năm 2020

16/01/2012

Tỉnh ủy
Ninh Bình

4

Nghị quyết số 01/NQ-HĐND về việc xây dựng
NTM tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015, định
hướng đến năm 2020.

17/4/2012

HĐND
tỉnh

5


Nghị quyết của BCH Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần
thứ XX về mục tiêu xây dựng nông thôn mới của
tỉnh: Phấn đấu đến năm 2015 có trên 20% số xã
(khoảng 25/120 xã trong toàn tỉnh) đạt tiêu chuẩn
nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia.

16/12/2010

3

Đảng bộ
Tỉnh Ninh
Bình

Tuy các văn bản được ban hành bởi các cơ quan khác nhau
vào các thời điểm khác nhau song nội dung của các văn bản trên
đều tập trung vào việc hoàn thiện xây dựng nông thôn mới với các
nhóm nội dung chính sau:



Nhóm chính sách về quy hoạch nông thôn

- Bên cạnh các chính sách, văn bản hướng dẫn của Trung
ương về công tác lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng
nông thôn mới cho cấp xã như: Thông tư 13/TTLT-BXDBNNPTNT-BTN&MT ngày 28 tháng 10 năm 2011 Quy định việc
lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ
Nông nghiệp & PTNT hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất

nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng
quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy
hoạch xây dựng xã nông thôn mới. UBND tỉnh Ninh Bình đã chỉ


đạo các Sở, ngành chuyên môn căn cứ chức năng nhiệm vụ của
đơn vị hướng dẫn cho các xã về công tác quy hoạch xây dựng nông

thôn mới, cụ thể:
Sở Xây dựng ban hành văn bản số 5275/CV-SXD ngày
25/10/2011 V/v tập trung thực hiện, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đồ
án quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh.
Văn bản đã hướng dẫn và ban hành các mẫu kế hoạch, tờ trình xin
thẩm định và quyết định phê duyệt nhiệm vụ và đồ án quy hoạch
chung xây dựng nông thôn mới cho cấp xã.
Sở Nông nghiệp & PTT đã ban hành văn bản số 588/HDSNN ngày 09/8/2012 hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt quy
hoạch phát triển sản xuất cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Bình theo
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Sở Tài nguyên & Môi trường đã ban hành văn bản số 37/HDSTNMT
ngày 13/01/2012 hướng dẫn lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch sử
dụng đất cấp xã trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Các sở Tài chính và sở Kế hoạch & Đầu tư đã có văn bản
hướng dẫn cơ chế nghiệm thu, thanh quyết toán kinh phí lập quy
hoạch cấp xã.
- Về kinh phí thực hiện quy hoạch: Từ năm 2011-2013 Ủy
ban nhân dân tỉnh Ninh Bình đã bố trí 38,39 tỷ đồng để lập quy
hoạch chung và một số quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới
cấp xã. Trong đó: Mỗi xã 250 triệu đồng lập quy hoạch và đề án
nông thôn mới cấp xã; mỗi xã 130 triệu đồng lập quy hoạch phát

triển sản xuất nông nghiệp; mỗi xã trung bình từ 115-150 triệu đồng
để lập quy hoạch hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn hoặc quy
hoạch không gian kiến trúc hạ tầng kỹ thuật khu trung tâm hoặc quy
hoạch sử dụng đất;



Nhóm chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Cùng với việc ban hành các chính sách nhằm hỗ trợ phát triển
nông nghiệp và tạo thuận lợi cho các bước của quá trình xây dựng
nông thôn mới thì nhóm chính sách về xây dựng cơ sở hạ tầng luôn


được quan tâm và đầu tư đúng hướng.

Cơ sở hạ tầng nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế nhanh của khu vực nông thôn, tạo điều
kiện cạnh tranh lành mạnh, tăng sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài
và sức huy động nguồn vốn trong nước vào thị trường nông nghiệp,
nông thôn. Những vùng có cơ sở hạ tầng đảm bảo, đặc biệt là mạng
lưới giao thông sẽ là nhân tố thu hút nguồn lao động, hạ giá thành
trong sản xuất và mở rộng thị trường nông thôn.
Cơ sở hạ tầng sản xuất, hạ tầng nông thôn tốt, đồng bộ sẽ giúp
giảm giá thành sản xuất, giảm rủi ro, thúc đẩy lưu thông hàng hóa
trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp và các ngành liên quan trực
tiếp đến nông nghiệp - khu vực sản xuất phụ thuộc nhiều vào tự
nhiên.
Cơ sở hạ tầng giao thông ở nông thôn tốt sẽ tăng khả năng giao
lưu hàng hoá, thị trường nông thôn được mở rộng, kích thích kinh tế

hộ nông dân tăng gia sản xuất, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thu
nhập của các hộ nông dân tăng, đời sống nông dân được nâng lên,
thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn. Tạo điều kiện
nâng cao đời sống xã hội trên địa bàn, tạo một cuộc sống tốt hơn cho
nông dân, nhờ đó giảm được dòng di dân tự do từ nông thôn ra thành
thị, giảm bớt gánh nặng cho thành thị …
Chính vì vậy, bên cạnh việc thực hiện các văn bản, chính sách
của Trung ương ban hành về đầu tư CSHT cho khu vực nông thôn
về các lĩnh vực như: Y tế, giáo dục, giao thông, kiên cố hóa kênh
mương, nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn, điện, chợ,….
Trong những năm qua tỉnh Ninh Bình đã chú trọng xây dựng các
chính sách và đầu tư, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng nông thôn tập trung
vào một số lĩnh vực chính và then chốt như: Nâng cấp, sửa chữa hệ
thống đê điều, thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương, hạ tầng giao thông
nông thôn, hệ thống điện nông thôn, hệ thống thương mại, dịch vụ,
cơ sở vật chất xã hội phục vụ người dân; nâng cấp xây dựng mới trụ
sở cấp xã, nhà văn hóa thôn; xây dựng hệ thống cấp nước sạch; xây
dựng hạ tầng chợ, xây dựng trạm y tế xã…

Bảng 2.2. Tổng hợp các chính sách về phát triển CSHT nông thôn


hành
02/ĐA-TTHĐ

7/2009

ề án tiếp tục hỗ trợ hộ nghèo, hộ
chính sách


Đ
15/7/2009 ề án về tiếp tục hỗ trợ hộ nghèo, hộ
chính sách

06/ĐA-UBND
07/KH-UBND
Số

Đ

17/7/2009 Kế
phát triển
lịch tỉnh
Bình
đếnhoạch
năm 2020,
địnhdu
hướng
đến Ninh
năm 2030
Ngày ban

ký hiệu

Trích yếu

xây, sửa nhà ở.
xây, sửa nhà ở của UBND tỉnh Ninh Bình
Đ
09/ A-UBND


Đ
18/11/2010 ề ánđoạn
Chương
trình nước
sạch nông
2011-2015
của UBND
tỉnhthôn
Ninhgiai
Bình

25/KH-UBND


22/9/2011 Kế
hoạch
khai
thựcthôn
hiệntrên
chiến
triển
giaotriển
thông
nông
địalược
bànphát
tỉnh
Ninh



S ký hi u

Ngày ban

06/ĐA-UBND

04/4/2012

hành

Trong đó:
- Đường giao thông thôn, xóm

Trích yếu
Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Đề án xây dựng nông thôn
mới tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020

Xây dựng mới

180 tấn xi măng/km


Cải tạo, nâng cấp

120 tấn xi măng/km

• Kênh mương nội đồng do cấp xã quản lý
• Nhà văn hoá thôn



100 tấn xi măng/km
Xây dựng mới
Cải tạo, nâng cấp
• Công trình thể thao thôn
Xây dựng mới
Cải tạo, nâng cấp

50 triệu/công trình
30 triệu/công trình
50 triệu/công trình
30 triệu/công trình

• Công trình cung cấp nước sinh hoạt tập trung hợp vệ sinh
• Môi trường
Hệ thống thoát nước, thu gom nước thải cấp thôn
Xe vận chuyển thu gom rác thải.
90% tổng dự toán công trình
30% tổng dự toán công trình/ thôn 3 triệu đồng/xe/1 thôn

Bãi tập kết rác thải sinh hoạt. 100 triệu đồng/1công trình
đ
13/8/2012 Kế hoạch về phát triển văn hóa ến năm
tầm nhìn đến năm 2030
Kế hoạch triển khai xây dựng các
xã, phường, 2017/KH-BCĐ 05/11/2012 thị trấn tỉnh Ninh Bình đạt
tiêu chí quốc gia về
y tế xã giai đoạn 2011-2020

40/KH-UBND

2020,

28/2012/QĐ- UBND
đ
đ
23/11/2012 Quyết
ịnhtrợban
hành
quyđịaịnh
vềtỉnh
chính
sách
ưu
đãi và hỗ
đầu
tư trên
bàn
Ninh
Bình

Trong những năm qua hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng, các mức


×