Tải bản đầy đủ (.doc) (67 trang)

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại trại tuấn hà, xã bình xuyên huyện bình giang tỉnh hải dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 67 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TẠ QUANG NAM
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRANG TRẠI TUẤN HÀ
XÃ BÌNH XUYÊN, HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



TẠ QUANG NAM
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN NUÔI TẠI TRANG TRẠI TUẤN HÀ
XÃ BÌNH XUYÊN, HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Lớp:

K45 - TY - N03

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Đỗ Thị Lan Phương


Thái Nguyên - 2017


i

LỜI NÓI ĐẦU

Để trở thành bác sỹ thú y trong tương lai, ngoài việc trang bị cho mình
một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn tiếp
cận với thực tế sản xuất. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan
trọng đối với tất cả các sinh viên các trường Đại học nói chung và sinh viên
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là thời gian cần thiết
để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào
thực tế.
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”. Thực tập tốt nghiệp cũng
là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác phong khoa học đúng đắn, tạo lập
tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình độ năng lực làm việc, góp phần vào
việc xây dựng và phát triển nông thôn mới nói riêng và đất nước nói chung.
Xuất phát từ thực tế, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban Chủ nhiệm
Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự
phân công của giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: “Thực hiện quy
trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản nuôi tại
trại Tuấn Hà, Xã Bình Xuyên, Huyện Bình Giang, Tỉnh Hải Dương”.
Được sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn TS. Đỗ Thị Lan Phương,
cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận này. Do thời
gian và kiến thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên
khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong nhận được
sự đóng góp quý báu của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để
khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn.



ii

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, tôi được chủ trại, cán bộ
kỹ thuật và công nhân trong trang trại chăn nuôi tạo điều kiện và giúp đỡ rất
nhiều để tôi hoàn thành tốt khoá luận của mình. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi - Thú y.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Đỗ
Thị Lan Phương đã tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành tốt khoá luận này.
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cấp ủy, chính
quyền xã Bình Xuyên - Bình Giang - Hải Dương , chủ trại chăn nuôi LÊ VĂN
TUẤN các cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam và
các anh chị công nhân dã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin được gửi tới các thầy giáo, cô giáo và các bạn bè
đồng nghiệp lời cảm ơn sâu sắc, lời chúc sức khoẻ cùng những điều tốt đẹp
nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2017

Sinh viên

TẠ QUANG NAM



3

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm gần đây ............................ 8
Bảng 3.1: Quy định khối lượng thức ăn chuồng lợn nái có chửa ................... 31
Bảng 3.2: Quy định khối lượng thức ăn chuồng đẻ ........................................ 32
Bảng 3.3: Lịch phòng bệnh áp dụng tại trại lợn nái........................................ 39
Bảng 3.4: Lịch sát trùng áp dụng tại trại lợn nái............................................. 43
Bảng 4.1: Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại .............. 44
Bảng 4.2: Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn ...................... 45
Bảng 4.3: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái ............................................ 46
Bảng 4.4: Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con ........................................... 47
Bảng 4.5: Kết quả một số công tác khác......................................................... 48


4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT:

Thể trọng

CP:

Cổ phần

Cs:


Cộng sự

Nxb:

Nhà xuất bản

AD:

Vắc xin giả dại

CSF:

Vắc xin dịch tả

FMD:

Vắc xin lở mồm long móng

PRRS:

Vắc xin tai xanh

Pavo:

vắc xin chống khô thai

PRRS (1): Tiêm nhắc lại vắc xin tai xanh
Pavo (1): Tiêm nhắc lại vắc xin chống khô thai



5


6

MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................... ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................
iii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................
iv

MỤC

LỤC

......................................................................................................... v Phần 1.
MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................ 2
1.2.1. Mục tiêu ............................................................................................ 2
1.2.2. Yêu cầu ............................................................................................. 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................
3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ......................................................................... 3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập ...................... 3
2.1.2. Cơ cấu đàn lợn của trại ..................................................................... 7
2.2. Cơ sở khoa học và pháp lí của đề tài ...................................................... 9
2.2.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái ............................................. 9

2.2.2. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái ................................. 13
2.2.3. Một số bệnh sinh sản thường gặp ở lợn nái .................................... 17
2.2.4. Một số bệnh thường gặp ở lợn con ................................................. 21
2.2.5. Một số thuốc phòng và điều trị bệnh thường dùng......................... 23
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước........................................... 24
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................... 24
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ................................................. 26
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ....
27
3.1. Đối tượng .............................................................................................. 27
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 27


3.3. Nội dung tiến hành ................................................................................ 27
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi................................................... 27
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ....................................................................... 27
3.4.2. Phương pháp thực hiện ................................................................... 28
3.4.3. Một số công thức tính toán các chỉ tiêu .......................................... 43
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 44
4.1. Kết quả thực hiện .................................................................................. 44
4.1.1. Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng
tại trại ........................................................................................................ 44
4.1.2. Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn....................... 45
4.1.3. Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái ............................................ 46
4.1.4. Kết quả điều trị bệnh cho lợn con................................................... 47
4.1.5. Kết quả thực hiện một số công tác khác ......................................... 48
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 49
5.1. Kết luận ................................................................................................. 49
5.1.1. Kết quả áp dụng công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh.. 49
5.2. Kiến nghị ............................................................................................... 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 51
I. Tài liệu Tiếng Việt................................................................................. 51
II. Tài liệu Tiếng Anh .............................................................................. 52
III. Tài liệu Internet................................................................................... 53
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP


1


2

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội theo hướng giao lưu, hội nhập
khu vực và quốc tế, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói
riêng chiếm vị trí hết sức quan trọng. Chăn nuôi lợn cung cấp thực phẩm với
tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất
lớn cho ngành trồng trọt.
Chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng trong ngành
chăn nuôi lợn, góp phần quyết định thành công của ngành chăn nuôi lợn, đặc
biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc. Mặt
khác đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh số lượng đàn lợn
cả về số lượng lẫn chất lượng.
Tuy nhiên, dù chăn nuôi nhỏ lẻ hay chăn nuôi công nghiệp với quy mô
lớn, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp cũng có thể gây nên thiệt hại đáng
kể. Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy
môn chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn.
Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng

các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn
nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao
đàn lợn cả về lượng và chất.
Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành
chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh
cho lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại Tuấn Hà, Xã Bình Xuyên, Huyện
Bình Giang, Tỉnh Hải Dương”.


1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1. Mục tiêu
- Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái tại trại Tuấn HàBình Xuyên-Bình Giang-Hải Dương
- Áp dụng thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái
nuôi tại trại.
- Theo dõi những bệnh thường gặp ở đàn lợn nái nuôi tại trại.
- Điều trị bệnh ở lơn nái
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Tuấn Hà-Bình XuyênBình
Giang–Hải Dương
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
đạt hiệu quả cao.
- Tìm được nguyên nhân gây ra những bệnh thường gặp trên đàn lợn
nái từ đó đưa ra biện pháp phòng và trị.


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
- Vị trí địa lý:

Bình Giang là một trong 10 huyện thuộc tỉnh Hải Dương.
Huyện nằm ở phía Tây Nam thành phố Hải Dương, với diện tích tự
2

nhiên là 104,7 km . Phía Bắc giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện
Thanh Miện, phía Đông giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ân Thi và
Mỹ Hào của tỉnh Hưng Yên
Bốn mặt huyện Bình Giang đều có sông: sông Kẻ Sặt ở phía Bắc, sông
Đình Hào ở phía Đông, sông Cửu An ở phía Tây, sông Cầu Lâm, Cầu Cốc ở
phía Nam. Trong đó sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cổng Xuân Quan,
qua cầu Lực Điền, cầu của đường 39A, nối quốc lộ 5A với thành phố Hưng
Yên, tiếp cận với huyện Bình Giang tại vị trí sát làng Tranh Ngoài, xã Thúc
Kháng. Đến đây sông có nhánh chạy dọc theo phía Tây huyện, gọi là sông
Cửu An; một nhánh chạy dọc phía Bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt, thông với
sông Thái Bình, qua Âu Thuyền, thành phố Hải Dương.
- Kinh tế:
Bình Giang là một huyện chủ yếu là công nghiệp, đang phát triển mạnh
dịch vụ, thương mại.
Năm 2016 tổng GDP huyện đạt 1200 tỷ đồng, trong đó: nông nghiệp
(8,06%), công nghiệp (60,88%), tiểu thủ công nghiệp, xây dựng; thương mại
dịch vụ (31,06%).
Bình Giang đang được phát triển thành một đô thị phía tây tỉnh Hải
Dương.
- Quá trình thành lập:


Trang trại lợn nái sinh sản Tuấn Hà nằm trên địa bàn của thôn Dinh
Như, xã Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Trang trại là trại
lợn gia công của Công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen
Pokphand Việt Nam). Hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở

vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán
bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Lê Văn Tuấn làm chủ trại, cán bộ kỹ
thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi
hoạt động của trang trại.
- Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 01 chủ trại, 01 quản lý trại.
+ Nhóm cán bộ kỹ thuật, tài chính: 1 kỹ sư, 2 kỹ thuật điện.
+ Nhóm nhân viên: 10 công nhân, 5 sinh viên thực tập.
- Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại nằm trên khu vực thôn Dinh Như, đường giao thông đã được
nâng cấp bê tông hóa, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Trại lợn cách
khu dân cư khoảng hơn 1km. Trại có diện tích đất rộng trong đó có:
- Đất trồng cây ăn quả:

1 ha

- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá:

2 ha

- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải:

2 ha

- Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn,
các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại: 4 ha
Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào.
Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi
công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn

đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản bao gồm: 3


chuồng đẻ (mỗi chuồng có 58 ô), 1 chuồng nái chửa (chuồng có 560 ô), 1
chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: kho
thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc, kho cám...
Trại gồm 4 khu chính: khu nhà ăn, ở cho công nhân, khu nhà để cám và
kho thuốc, khu để dụng cụ chăn nuôi, khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ
bao quanh trại. Trại có quy mô đàn là trên 600 đầu nái, 7 lợn đực và 45 lợn
hậu bị để thay thế đàn và được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại
lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau. Khu
chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai,
khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi
mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn
hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải.
Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và
là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những
lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác
nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần
khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng
lợn nái có chửa nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra và lên giống. Một góc
chuồng nái chửa là khu kiểm tra lợn động dục, khu phối, khu lấy tinh, cạnh
khu lấy tinh có phòng nhỏ để kiểm tra tinh được gọi là phòng tinh. Phòng tinh
được trang bị khá đầy đủ: kính hiển vi, tủ lạnh, nồi hấp dụng cụ, máy ép túi
tinh, nhiệt kế,… Chuồng được xây dựng đạt tiêu chuẩn của một chuồng kín
với kết cấu tất cả sàn chuồng đều được làm bằng bê tông, sàn cao hơn hẳn
nền chuồng giúp công việc vệ sinh, khử trùng được thuận tiện. Đầu chuồng
nái chửa có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt thông gió với 8
quạt hoạt động nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng, ngoài ra bên trong

chuồng còn được trang bị đầy đủ


hệ thống vòi nước tự động, máng ăn cho từng ô lợn nái nhằm đảm bảo việc
chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai đạt hiệu quả nhất.
Khu chuồng đẻ gồm 3 chuồng gần kề nhau được sắp xếp thành chuồng
đẻ 1, chuồng đẻ 2, chuồng đẻ 3. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối
chuồng có 3 quạt thông gió. Mỗi chuồng đẻ gồm 2 ngăn, mỗi ngăn gồm 2 dãy
và có một công nhân phụ trách. Trong chuồng đẻ sàn chuồng lợn mẹ làm
bằng bê tông còn sàn chuồng dành cho lợn con làm bằng nhựa cứng. Mỗi một
ô chuồng đẻ đều có vòi nước tự động dành cho lợn mẹ và dành cho lợn con.
Phần chuồng cho lợn con khá rộng rãi, một góc để lồng úm, lồng úm được
làm bằng khung sắt và đan bao tải cám đã được ngâm sát trùng. Mỗi lồng úm
được trang bị một bóng đèn sưởi ấm, trong mỗi ô chuồng để một máng ăn nhỏ
cho lợn con tập ăn. Mỗi chuồng cũng có hệ thống giàn mát và 6 quạt thông
gió và nhiệt kế đo nhiệt độ chuồng. Tại khu chuồng đẻ mỗi lần xuất lợn con
và đuổi lợn mẹ về khu vực chờ phối thì chuồng được cọ rửa và phun vôi để
trống chuồng 1 tuần trước khi đuổi lợn bầu sắp đẻ lên.
Khu chuồng cách ly là khu chuồng nuôi lợn hậu bị mới nhập về để thay
thế đàn và lợn nái loại thải. Vị trí chuồng nằm gần chuồng bầu thuận tiện cho
việc vận chuyển lợn lên chuồng bầu khi đã đủ điều kiện phối giống. Khu
chuồng cách ly được xây dựng với bên trong là các ô nuôi lợn tập trung gồm
6 ô lớn được trang bị khá đầy đủ với hệ thống nước uống và máng ăn tự động
bên trong các ô, khu bên trên đầu chuồng là hệ thống giàn mát và khu cuối
chuồng có 4 quạt thông gió nhằm tạo sự thông thoáng cho chuồng nuôi.
Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh
chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và
nước thải.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc
xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho



xuống chuồng, xe trở phân, xe trở lợn con, xe trở tấm đan, máy nén khí phun
sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi.
Nhìn chung cơ sở vật chất của trại là khá hoàn chỉnh và đạt yêu cầu so
với một chuồng nuôi kín hiện nay tuy nhiên việc cho ăn trong các chuồng lại
hoàn toàn làm theo phương thức thủ công với mỗi chuồng đều có hệ thống
máng ăn, mỗi con có một máng ăn riêng và khi cho ăn thì công nhân phụ
trách chuồng phải đổ cám vào từng máng ăn đó lật cho lợn nái ăn theo khung
giờ quy định hằng ngày.
Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi tại trại được lọc qua bể lọc và
dẫn trực tiếp đến từng ô chuồng bằng vòi uống tự động, trước khi được đưa
đến các vòi tự động nước được xử lý qua clorin. Trang trại lợn nái Tuấn Hà
là một trại quy mô công nghiệp nên hàng ngày sử dụng một khối lượng nước
rất lớn để phục vụ chăn nuôi, vệ sinh chuồng trại, đặc biệt về mùa nóng cần
một lượng nước rất lớn để vận hành hoạt động của giàn mát. Nước dùng cho
chăn nuôi được bơm từ lòng đất qua hệ thống bể lọc, đưa lên các bồn chứa
nước ở độ cao, áp lực đủ mạnh tới các vòi nước tự động ở từng ô chuồng. Bên
cạnh đó, hệ thống bạt che, giàn mát, quạt thông gió được trang bị rất đầy đủ.
Nguồn nước thải được thải ra các ao quanh trại, phân trong các khu chuồng thì
được công nhân hót vào bao cuối mỗi buổi sáng và chiều trong ngày đổ ra khu
nhà chứa phân để bán và một phần nhỏ để vun trồng vào các gốc cây. Trước
cửa vào mỗi chuồng đều có một chậu nước sát trùng để nhúng ủng của công
nhân trước khi đi vào chuồng làm việc.
2.1.2. Cơ cấu đàn lợn của trại
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp 2 giống lợn là
Landrace và Yorkshir.


Bảng 2.1: Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm gần đây

S
T
T
1
2
3


ạ V
lợ T
N C
á o
N C
ái o
L C
ợ o
TC
o

2 2 2
0 0 0
6
1
7

6
8

Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy tổng số lợn của trại tăng lên đáng kể.
Năm 2015 tổng số lợn là 680 con, năm 2016 tăng thêm 11 con so với năm

2015, năm 2017 giảm đi 12 con so với năm 2016 .
Số lượng nái sinh sản tại trang trại năm 2015 là 610 con, năm 2016 là
600 giảm 10 con so với năm 2015 (do lợn nái đã già và khả năng sinh sản
kém nên đã loại thải) năm 2017 giữ nguyên là 600 lợn nái sinh sản.
Năm 2015 có 60 con lợn nái hậu bị, năm 2016 có 60 lợn nái hậu bị,
năm 2017 có 70 lợn nái hậu bị.
Lợn đực giống của trại năm 2015 là 10 con, năm 2016 nhập thêm 1 con
lợn đực giống nữa là 11 con, đến năm 2017 giảm xuống còn 9 con (vì loại
thải do già yếu, chất lượng tinh trùng kém).
Tổng số lợn của trại tăng lên như vậy là do: Trang trại đã dần ổn định
đi vào sản xuất chăn nuôi, mặt khác với sự lãnh đạo quan tâm, sát sao của ban
quản lý trại do đó mà công tác phòng bệnh và trị bệnh của trại ngày càng tốt
hơn, chú trọng hơn nên dịch bệnh tại trại hầu như không xảy ra.


2.2. Cơ sở khoa học và pháp lí của đề tài
2.2.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
* Sự thành thục về tính
- Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ
thể phát triển căn bản đã hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố
(các phản xạ về sinh dục). Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng.
- Ở lợn nái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như:
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới
tuổi động dục. Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền
với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Những con được chăn thả
tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14
ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu). Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong
ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi
thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng
nhân tạo 112 giờ mỗi ngày.

+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong
suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Nhưng cần tránh nuôi cái
hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển. Kết quả nghiên cứu của (Hughes
và James 1996 [20]) cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ
làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm. Bên
cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị. Nếu lợn nái hậu bị thường xuyên
tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn nái hậu bị không tiếp xúc
với lợn đực giống. Lợn nái hậu bị ngoài 90 kg thể trọng ở 165 ngày tuổi cho
tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83 % lợn
cái hậu bị động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander. T. 2010 [26]).


10

+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của
lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ. Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động
dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005 [4]).
- Trứng chín: Dưới ảnh hưởng của thùy trước tuyến yên, trứng phát
triển rất nhanh, lớp tế bào hạt phát triển thành nhiều lớp, hình thành thể vàng,
tiết dịch nang trứng làm cho kích thước nang trứng tăng nhanh, nổi lên mặt
buồng trứng như những bóng nước. Tế bào trứng nằm trong nang trứng tiến
hành phân chia giảm nhiễm lần thứ nhất cho ra noãn tử để phát triển thành tế
bào trứng chín.
- Hiện tượng rụng trứng: Noãn bào dần dần lớn lên. Nổi rõ trên bề mặt
của buồng trứng. Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất. Noãn bào
vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin. Hiện tượng
giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau.
- Sự hình thành thể vàng: Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra.
Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng. Tạo nên

những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào
trứng. Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra. Dịch và
máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng. Các nếp nhăn gồm nhiều lớp
nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này
tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh. Trong các tế
bào hạt có chứa lipoit và sắc tố màu vàng. Như vậy, trong tế bào trứng đã
chứa đầy tế bào hạt (gọi là tế bào lutein). Như vậy, do sự phát triển của tế bào
hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng. Đây chính là nơi đã tạo ra
hormone progesterone. Trong thời gian vài ngày thể vàng sẽ đầy xoang của tế
bào trứng, nó tiếp tục phát triển. Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh
chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần.Thời gian tồn tại của thể vàng từ
3 - 15 ngày. Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến
ngày gia súc gần đẻ.


11

- Niêm dịch: Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy
ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng. Do sự thay đổi hàm
lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra
niêm dịch. Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra.
- Tính dục: Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen
tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình
thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá
chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh. Gặp con đực không
kháng cự, tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng.
- Tính hưng phấn: Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có
một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực,
kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao
phối. Cao độ nhất là lúc tế bào trứng rụng. Khi đã rụng tế bào trứng thì tính

hưng phấn giảm đi rõ rệt
* Chu kỳ động dục:
Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [16] cho biết: Chu kỳ động dục
của gia súc chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn
bình thường. Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số
lượng lông nhung tăng lên. Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử
cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều. Giai đoạn này tính hưng phấn
chưa cao.
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp
mạnh, cổ tử cung mở hoàn toàn. Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều
lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục.


12

- Giai đoạn động dục:
Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt
những biến đổi sinh lý. Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung
huyết.Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều con vật biểu hiện tính hưng
phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu giống, phá chuồng,
nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực. Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi
buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại. Gia súc cái
trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện.
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình
thường. Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển
sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn.
- Giai đoạn nghỉ ngơi:

Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này
yên tĩnh hoàn toàn. Thời kỳ này cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt
động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát
dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý.
*Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn
hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử
cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai. Sự biến đổi nội tiết tố
trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày
đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi nó hơi giảm
xuống một chút ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa
để an thai, ức chế động dục 1 - 2 ngày trước khi đẻ Progesterone giảm đột
ngột. Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời
kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất.


13

Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S. và cs.,
2013 [22]).
2.2.2. Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Bộ phận sinh dục bên ngoài:
Là bộ phận ta có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được, bao gồm: âm
hộ, âm vật, tiền đình.
Âm hộ (vulvae):đây là đoạn sau cùng của bộ máy sinh dục cái. Âm hộ
nằm dưới hậu môn và được thông ra ngoài bởi một khe thẳng đứng gọi là âm
môn. Trong âm hộ còn có lỗ thông với bóng đái, tuyến tiền đình (bartholin)
và khí quan cương cứng gọi là âm vật (clitoris).
Âm vật (clitoris):
Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn. Là tổ chức cương cứng,

có nhiều dây thần kinh nên tính cảm giác tập trung ở đây cao, tương tự như
bao quy đầu dương vật.
Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như con đực. Trên âm vật có
nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới. Trong thực tế sau
khidẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật
kích thích con cái hưng phấn để tử cung trởlại co thắt vào vận động bình
thường.
Tiền đình(vestibulum):
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo, nghĩa là qua tiền đình
mới vào âm đạo. Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong màng trinh
là âm đạo, phía sau màng trinh có lỗ niệu đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn
hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp thành một nếp. Tiền đình có một số
tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật, chúng có
chức năng tiết dịch nhầy
Bộ phận sinh dục bên trong:
- Buồng trứng (ovanrium) còn gọi là noãn bào, gồm một đôi nằm dưới


14

hông, trước cửa vào xoang chậu và được giữ bởi dây chằng rộng, trên bề mặt
buồng trứng sần sùi.
Khác với dịch hoàn, buồng trứng của động vật có vú lưu lại trongxoang
bụng, phát triển thành một cặp. Nó thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết là
sản sinh ra tế bào trứng và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) có ảnh
hưởng tới giới tính, tới chức năng tử cung (đặc tính thứ cấp của con cái).
+ Cấu tạo buồng trứng được bao bọc ở ngoài một lớp màng liên kết sợi
chắc tựa như màng bọc của dịch hoàn. Bên trong được chia thành hai phần, cả
hai phần đều phát triển một thứ mô liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm.
+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá

trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng. Miền vỏ bao gồm ba
phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào bào hình hạt.
+ Miền tủy chứa nhiều mạnh máu và bạch huyết.
Ở lợn buồng trứng nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt
sốnghông 3-4. Bề mặt buồng trứng có nhiều u nổi lên. Buồng trứng dài 1,5 2cm, khối lượng 3 - 5gam.
- Ống dẫn trứng (oviductus): ống dẫn trứng ở lợn dài 15 - 20cm uốn
khúc nằm cạnh dây chằng rộng, ống dẫn trứng bắt đầu ở bên cạnh buồng
trứng đến đầu tử cung được chia làm 2 phần.
Phần trước tự do có hình phễu loe ra gọi là loa vòi (loa kèn) có tác
dụng hứng tế bao trứng chín rụng, đầu này mở ra trong xoang phúc mạc.
Phần sau thon nhỏ có đường kính dài 0,2 - 0,3cm nối với sừng tử
cung.
Tử cung(dạ con) (uterus):
+ Cấu tạo giải phẫu tử cung:
Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái, là nơi
làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của bào thai đồng thời là
cơ quan đẩy bào thai lọt ra ngoài khi sinh đẻ.


15

Tử cung gồm có hai sừng tử cung, một thân và một cổ tử cung. Ở lợn tử
cung thuộc loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quăn lại và có độ dài hơn 1m
trong khi thân tử cung lại ngắn. Độ dài này phù hợp cho việc mang nhiều thai.
+ Cổ tử cung:
Cổ tử cung tổ chức sợi mô liên kết chiếm ưu thế kết hợp với sự gópmặt
của một ít cơ trơn.
Ở lợn cổ tử cung không có nếp gấp hình hoa nở mà là những cột thịt
xen kẽ cài răng lược với nhau.
+ Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp

nhăn nheo theo chiều dọc.
+ Sừng tử cung dài ngoằn ngoèo như ruột non dài chừng 30 - 50cm dây
chằng ruộng và rất dài.
Thai của lợn được làm tổ ở sừng tử cung.
Âm đạo (vagina):
Âm đạo là đoạn nối tiếp sau cổ tử cung, trước âm hộ. Đây là nơi
tiếpnhận dương vật khi giao phối, phía trên là trực tràng, phía dưới là bóng
đái, nó được ngăn cách với âm hộ bởi màng trinh.
Âm đạo có khả năng co giãn rất lớn và là đường đi ra của thai. Chiều
dài của âm đạo của lợn: 10 - 12cm.
Ở lợn biểu mô âm đạo tăng lên về độ cao tối đa vào lúc động dục và
giảm xuống điểm thấp nhất ở các ngày 12 - 16, các lớp bề mặt của biểu mô
âm đạo bong ra ở các ngày 4 và 14.
Khả năng co rút ở âm đạo đóng vai trò chính trong việc đáp ứng tâm lý
tính dục và cho sự vận chuyển của tinh trùng. Sự co rút của âm đạo, dạ con và
ống dẫn trứng được kích thích bởi dịch thể bài tiết vào trong âm đạo trong quá
trình kích thích trước lúc giao phối.


×