Tải bản đầy đủ (.pdf) (181 trang)

Luận án tiến sĩ kinh tế giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.92 MB, 181 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------

NGUYỄN NHƯ DƯƠNG

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà nội, 2018


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
------------------

NGUYỄN NHƯ DƯƠNG

GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG


TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS ĐINH XUÂN HẠNG

Hà nội, 2018


3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án tiến sĩ này là công trình nghiên cứu khoa
học độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

NCS NGUYỄN NHƯ DƯƠNG


4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt

Viết đầy đủ


AMA

Phương pháp đo lường hiện đại

CRO

Bộ phận quản lý rủi ro

RRTK

Rủi ro thanh khoản

QLRR

Quản lý rủi ro

IRB

Hệ thống đánh giá xếp hạng nội bộ

EAR

Thu nhập chịu rủi ro

ROE

Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu

ROA


Tỷ suất sinh lời tài sản

MIS

Hệ thống thông tin quản lý

FTP

Định giá điều chuyển vốn nội bộ

NIM

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

TPS

Hệ thống thông tin xử lý giao dịch

MCO

Báo cáo dòng tiền ra tối đa

VAR

Giá trị chịu rủi ro

GAP

Khe hở


RSA

Tài sản có nhạy cảm với lãi suất

RSL

Tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất

NII

Thu nhập lãi ròng

RRLS

Rủi ro lãi suất

RRTK

Rủi ro thanh khoản

NLP

Trạng thái thanh khoản ròng


5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu, có tác động mạnh mẽ
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng xảy ra còn tác

động đến khả năng tiếp cận vốn của các doanh nghiệp, từ đó tác động tiêu cực đến
tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Mặc dù vậy, ngân hàng thương mại không
thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể hạn chế ở mức độ nhất định.
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại, thay vì lựa chọn chiến lược
loại bỏ rủi ro, các ngân hàng thương mại chấp nhận rủi ro, đánh đổi rủi ro để có lợi
nhuận. Hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của một ngân hàng thực hiện sứ mệnh đảm
bảo cho ngân hàng luôn kiểm soát rủi ro ở mức độ hợp lý (mức rủi ro ngân hàng có
thể chấp nhận) phù hợp với qui mô và bản chất kinh doanh tín dụng của ngân hàng
và đạt được lợi nhuận cao nhất.
Rủi ro tín dụng xảy ra thường xuyên và gây tổn thất lớn nhất cho các
NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng tốt là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của
một NHTM.
Hoạt động tín dụng hiện nay đóng vai trò quan trọng đối với các ngân hàng
thương mại Việt Nam và mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên,
hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, đặc biệt là trong xu hướng hòa
nhập với thông lệ quốc tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ nhiều mặt
hạn chế. Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng hay tổ chức tài chính nào có thể
tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Việc xây dựng một hệ
thống quản trị nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn đối
với hoạt động ngân hàng.
Hiệp ước Basel 2 là thỏa thuận của các Ngân hàng Trung Ương của các
nước thành viên Ủy ban Basel về một cơ chế quản lý, điều hành, giám sát hoạt động
ngân hàng nhằm tăng cường hiệu quả quản trị rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Năm 2006, Hiệp ước có hiệu lực với các định chế tài chính tại các nước thành viên
Ủy ban Basel. Đến nay, theo khảo sát của Ủy ban Basel, Hiệp ước đã được áp dụng
rộng rãi tại các ngân hàng thương mại ở hơn 150 quốc gia, bao gồm cả các nước
không phải là thành viên Ủy ban Basel như một chuẩn mực quốc tế về quản trị rủi
ro, thanh tra, giám sát hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Tại Việt nam, ngày 20/3/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có chủ
trương chính thức về triển khai Basel 2 bằng Công văn 1601/NHNN-TTGSNH.

Theo công văn này, 10 ngân hàng thương mại Việt nam trong đó có Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam được chọn triển khai thí điểm theo lộ
trình, các ngân hàng thương mại khác triển khai sau giai đoạn thí điểm.


6
Xuất phát từ nhận thức quan trọng về lý luận và thực tiễn đó, tôi quyết định
chọn đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam” cho luận án tiến sỹ kinh tế là rất cần thiết, với mong
muốn hoàn thiện lý luận chuyên môn của bản thân, tiếp cận nghiên cứu thực trạng
quản trị rủi ro tín dụng và bước đầu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách
quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
góp phần đẩy mạnh sự phát triển hoạt động tín dụng trong điều kiện hội nhập
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt
nam
- "Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đức Tú (2012), Đại học
Kinh tế Quốc dân.
Luận án đã làm rõ cơ sở lí luận về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại,
sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng, nội dung quản lý rủi ro tín dụng bao gồm:
nhận biết, đo lường, ứng phó và kiểm soát rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó, tác giả cũng
tìm hiểu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng như: Ngân hàng
Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Nova Scotia - Canada, Ngân hàng Citibank của
Mỹ, Ngân hàng ING bank của Hà Lan và Ngân hàng KasiKom của Thái Lan. Qua
tìm hiểu công tác quản lí rủi ro của các ngân hàng trên, tác giả đúc rút các bài học
kinh nghiệm trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam
Trong phần tìm hiểu thực tiễn, tác giả đi vào tìm hiểu và đánh giá rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam và công tác quản trị

rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại. Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt
được như chất lượng nợ, cơ cấu nợ, hệ thống khuân khổ, cơ chế, hệ thống xếp hạng
tín dụng...Bên cạnh đó, tác giả đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý rủi ro
tín dụng của ngân hàng như chiến lược rủi ro tín dụng chưa phù hợp, quy trình cấp
tín dụng, hệ thống đo lường tín dụng…và những nguyên nhân của những hạn chế
trên. Trong luận án, tác giả cũng trình bày định hướng công tác quản lý rủi ro tín
dụng và các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, đồng
thời đề xuất các kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban giám sát
tài chính quốc gia.
2.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu cũng như các nhà lãnh đạo ngân hàng. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi
ro tín dụng nói riêng, cụ thể:


7
- "Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ
thống Ngân hàng thương mại Việt Nam", Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Lê Thị
Huyền Diệu (2010), Học viện Ngân hàng.
Luận án tập trung nghiên cứu về rủi ro tín dụng, các nguyên nhân, các
dấu hiệu, các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng trong HĐKD của ngân hàng thương
mại. Đồng thời, luận án cũng hệ thống hóa rõ nét nội dung cơ bản của quản trị rủi ro
tín dụng, trên cơ sở đó đưa ra các mô hình quản lý rủi ro và điều kiện áp dụng. Luận
án đúc kết lại những lý thuyết cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng, trong đó, đặc biệt
tác giả hệ thống nội dung quản lý rủi ro tín dụng ở các bước cơ bản: nhận biết rủi
ro, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ. Luận án nghiên cứu
thực trạng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trước năm
2000 và sau năm 2000, trong đó tác giả hệ thống hóa các cơ sở pháp lý, đặc điểm tín
dụng và thực trạng rủi ro tín dụng hai giai đoạn: Giai đoạn trước năm 2000, rủi ro

tín dụng thể hiện chủ yếu ở việc cho vay quá chú trọng vào nhóm doanh nghiệp nhà
nước, tỉ lệ cho vay trung dài hạn tăng cao và tỉ lệ nợ quá hạn qua các thời kỳ tăng
cao. Giai đoạn sau năm 2000, môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng trong giai
đoạn này đã trở nên hoàn thiện hơn và giảm bớt rủi ro. Luận án phân tích việc áp
dụng các mô hình quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam trên ba
nội dung: mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm
soát rủi ro. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất lựa chọn mô hình áp dụng thích hợp với
Việt Nam.
Trên thực tế, mỗi ngân hàng có đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức, quy mô vốn,
lĩnh vực ưu tiên hoạt động, hình thức sở hữu, trình độ công nghệ và nhân lực…do đó,
các giải pháp trong luận án có thể chưa phù hợp với một ngân hàng cụ thể.
- "Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội"
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Quang Hiện (2016), Học viện Tài chính
Trong luận án này, tác giá đã hệ thống hóa những cơ sở lí luận về rủi ro tín
dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại có bổ sung những thay đổi mới
khi các ngân hàng đang triển khai thực hiện các quy định trong Hiệp ước Basel II; Hệ
thống hóa các bài học kinh nghiệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân
hàng Thương mại trên thế giới từ đó đúc rút các bài học kinh nghiệm trong quản trị rủi
ro tín dụng đối với NHTM Việt Nam.
Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Quân đội giai đoạn 2011-2015 đưa ra nguyên nhân của những tồn tại trong
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân đội.
Đề xuất các giải pháp, các kiến nghị đối với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước,
Ủy ban giám sát Tài chính quốc gia nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Quân đội.


8
- "Quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 tại Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần

Thị Việt Thạch (2016), Học viện Tài chính
Luận án này đã hệ thống các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tiếp
cận theo chuẩn mực của Hiệp ước Basel 2 tại NHTM, làm rõ các lợi ích khi NHTM
thực hiện quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2 và các điều kiện để các NHTM triển
khai quản trị rủi ro tín dụng theo Basel 2. Đánh giá đúng thực trạng quản trị rủi ro
tín dụng để xác định mức độ đáp ứng chuẩn mực Basel 2 về quản trị rủi ro tín dụng
tại Agribank, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và các điều kiện thực hiện giải
pháp để triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2, mục tiêu Agribank
đạt chuẩn Basel 2 vào cuối năm 2020.
- "Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần
ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác
giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012), Đại học Kinh tế Quốc dân.
Trong nội dung luận án, tác giả đã làm rõ cơ sở lí luận về chất lượng
tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng và kinh nghiệm nâng cao chất
lượng tín dụng của các ngân hàng trên thế giới. Trong phần đánh giá thực tiễn tác
giả đã đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thương Việt Nam trong đó một trong những chỉ tiêu rất quan trọng đó là tỷ lệ
nợ xấu của ngân hàng. Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín
dụng trong đó có biện pháp quan trọng đó là quản lý nợ xấu và kiểm soát rủi ro tín
dụng
- "Quản trị rủi ro hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam
theo Hiệp ước Basel" Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2012),
Trường đại học Ngoại thương, Hà nội.
Nội dung luận án đề cập đến Hiệp ước Basel, rủi ro và quản trị rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước
Basel. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lí luận về Hiệp ước Basel, hoạt động kinh
doanh, rủi ro, quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương
mại và thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel đến 2011. Bên cạnh đó, tác giá đưa ra
các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong hoạt động kinh

doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel.
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Như vậy, thế nào là rủi ro tín dụng? thế nào là quản trị rủi ro tín dụng? nội
dung, ý nghĩa, mô hình và quy trình quản trị rủi ro tín dụng như thế nảo? thực trạng
quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam


9
ra sao và giải pháp nào để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt nam trong thời gian tới? Đây là những câu hỏi
nghiên cứu và câu hỏi quản lý cần phải có lời giải đáp?
2.3.2 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trên đây đã góp phần quan trọng đưa ra những lí luận cơ bản
về quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập
trên đây còn một số “khoảng trống” trong nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng mà
điển hình là quản trị rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt nam giai đoạn 2011 - 2017
Các “khoảng trống” trong nghiên cứu lí luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi
ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam:
- Cơ sở lí luận chưa có tính hệ thống và cập nhật về rủi ro tín dụng trong giai
đoạn hiện nay, khi mà việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực thi lộ trình
quản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II. Bên cạnh đó, Việt
Nam đã có sự phát triển và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với kinh tế
các quốc gia trong khu vực và quốc tế
- Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng hầu hết chỉ đưa ra các giải
pháp là “ngăn ngừa” rủi ro, “hạn chế” rủi ro tín dụng, “quản lý” rủi ro tín dụng hay
“kiểm soát” rủi ro tín dụng chứ không đi vào “quản trị” rủi ro, tức là coi rủi ro như
là một vấn đề mà ngân hàng phải “chấp nhận” hay nói cách khác coi rủi ro là vấn đề

luôn xảy ra trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, rủi ro luôn song hành và phụ
thuộc vào “khẩu vị” rủi ro của mỗi ngân hàng.
- Nhiều công trình nghiên cứu phân tích rủi ro mang tính chất định tính, chưa
chỉ ra được mô hình để quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, tổn thất ngân hàng phải gánh
chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra, chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của ngân
hàng, chưa chỉ ra được mục tiêu của chất lượng tín dụng và cách thức để xây dựng hệ
thống theo dõi cơ cấu và chất lượng tổng thể danh mục đầu tư tín dụng.
- Các đề tài chủ yếu xây dựng các giải pháp hạn chế hay ngăn ngừa rủi
ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam rất đa dạng về hình thức sở hữu, trình độ phát triển, nhân lực, năng
lực tài chính, công nghệ và hơn hết đó là cách hiểu cũng như “khẩu vị” chấp nhận
rủi ro đối với mỗi ngân hàng là khác nhau. Do vậy, sẽ không có mô hình quản trị rủi
ro chung cho tất cả các ngân hàng thương mại hay các giải pháp tăng cường quản trị
rủi ro tín dụng đúng và phù hợp cho tất cả các ngân hàng thương mại.
- Nhiều công trình nghiên cứu trước năm 2010 nên cả về cơ sở lí luận cũng
như thực tiễn hoạt động do vậy các giải pháp đưa ra cũng sẽ không còn phù hợp với
giai đoạn hiện nay trong quá trình phát triển và hội nhập ngày càng cao của các


10
ngân hàng thương mại. Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu về kinh tế và tài
chính thì hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bên cạnh việc tiếp nhận công
nghệ quản trị ngân hàng hiện đại thì cũng tiềm ẩn những rủi ro của hệ thống tài
chính quốc tế cũng như những áp lực về cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh
vực ngân hàng.
- Bên cạnh đó cũng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
toàn diện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt nam, đặc biệt trong giai đoạn 2011 - 2017 cũng như đưa ra đề xuất hệ thống
các giải pháp để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam

Vì vậy, đề tài “Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam” được phát triển nhằm bổ sung phần nghiên cứu về cơ
sở lí luận và từ cơ sở lí luận trên vận dụng trong điều kiện thực tiễn thực hiện quản trị
rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam trong thời
gian từ năm 2011 - 2017, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín
dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam đến năm 2030
3. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro
tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu, trên cơ sở yêu cầu và
với khả năng nghiên cứu, luận án lựa chọn đối tượng nghiên cứu chính là “rủi ro tín
dụng” và “Quản trị rủi ro tín dụng” tại Ngân hàng thương mại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
. Tín dụng bao gồm hai mặt hoạt động là huy động vốn và cấp tín dụng, luận
án chỉ nghiên cứu khâu cấp tín dụng cho khách hàng (doanh nghiệp và dân cư)
. Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng tiếp cận theo các
chuẩn mực của Basel 2 về quản trị rủi ro tín dụng: chiến lược và khẩu vị rủi ro tín
dụng, chính sách quản trị rủi ro tín dụng, tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng,
qui trình và nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank, trong đó hoạt động tín
dụng được tiếp cận theo Luật số 47/2010/QH12 “Luật các Tổ chức tín dụng”, có
hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 và thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân
hàng Nhà nước ngày 30/12/2016,
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu quản trị rủi ro tín dụng trong
hoạt động ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
(không bao gồm các công ty con, công ty liên doanh, liên kết).



11
- Về thời gian: Khảo sát, phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại
VietinBank giai đoạn 2011 - 2017. Giải pháp thực hiện theo lộ trình đến năm 2030.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
đảm bảo việc nhận thức về quản trị rủi ro tín dụng theo chuẩn mực quốc tế tại ngân
hàng thương mại nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt
nam nói riêng luôn đảm bảo tính logic giữa nhận thức trực quan đến tư duy và thực
tiễn, trong mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận trong cùng hệ thống, giữa hệ
thống với môi trường xung quanh và phù hợp với các qui luật vận động vốn có.
Trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
để có các phân tích, đánh giá, lập luận có căn cứ khoa học về đề tài nghiên cứu,
NCS sử dụng các phương pháp:
Các phương pháp tư duy khoa học: Qui nạp, diễn dịch, loại suy, phân tích,
tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các dữ liệu NCS đã thu
thập được để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng tại
ngân hàng thương mại và thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại VietinBank.
Phương pháp thống kê: Thu thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp liên quan đến quản
trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam theo
chuỗi thời gian từ các báo cáo nội bộ, báo cáo của các cơ quan quản lý Nhà nước và
xuống quan sát trực tiếp ở Sở giao dịch, một số chi nhánh để thu thập thông tin và
số liệu phục vụ cho nghiên cứu của luận án.
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia, các cán bộ
tín dụng và cán bộ quản lý tại một số chi nhánh của Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt nam (trực tiếp, qua thư điện tử) để có thêm các thông tin cần
thiết, hữu ích phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án.
Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Phát phiếu khảo sát thực trạng kiểm
soát rủi ro tín dụng tại các chi nhánh: Sở giao dịch, chi nhánh Hà nội, chi nhánh Đà
Nẵng, chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Hải Phòng, Hải Dương, Yên
Bái, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hà Tĩnh, Nghệ An để có thêm thông tin cho việc đánh giá

kiểm soát rủi ro tín dụng tại các chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Công
thương Việt nam. Các chi nhánh được NCS chọn khảo sát đảm bảo tính đại diện:
Có chi nhánh thành phố lớn, chi nhánh khu vực nông thôn, chi nhánh có tỷ lệ nợ
xấu cao, chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu thấp. Do các mô hình lượng hóa, các công thức
đo lường vốn, đo lường, đánh giá rủi ro tín dụng đã được đề cập và thừa nhận tính
chính xác và khoa học ở các công trình nghiên cứu liên quan trước đó. Vì vậy, khi
đề cập đến việc đo lường, đánh giá, lượng hóa rủi ro tín dụng, NCS không đi sâu
vào nghiên cứu các kỹ thuật tính toán mà sẽ kế thừa kết quả nghiên cứu các công
trình liên quan.


12
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp: Thông qua việc thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu các báo cáo thống kê của Ngân hàng thương mại
cổ phần Công thương Việt nam NCS đánh giá phân tích thực trạng rủi ro tín dụng và
quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam
giai đoạn 2011 - 2017
Phương pháp suy luận logic: Từ những vấn đề cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
đặc biệt những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt nam về quản trị rủi ro tín dụng, NCS suy luận logic để đề xuất các
giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt nam.
6. Đóng góp mới của luận án
- Đóng góp mới về lý luận cơ bản: Luận án đã trình bày khá đầy đủ, chuẩn
xác, khoa học hơn về các vấn đề lý luận cơ bản như mô hình đo lường rủi ro tín
dụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng, các mô hình quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến,
vận dụng sáng tạo những nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của hiệp ước Basel 2…
- Đóng góp mới về thực tiễn:
+ NCS đã sử dụng những kiến thức lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng:
nội dung, mô hình đo lường rủi ro tín dụng, mô hình quản trị rủi ro tín dụng và quản

trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel 2 để phân tích, đánh giá đầy đủ, toàn diện
thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt nam. Với phương pháp này NCS đã chỉ ra mức độ thành công, đưa ra những
kết quả nghiên cứu thực trạng đáng tin cậy, đây là phương pháp đánh giá thực trạng
có nhiều ưu điểm hơn so với các công trình có đề tài tương tự đã công bố
+ Đề xuất các giải pháp mới, nội dung tiên tiến, hiện đại nhằm tăng cường
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương
Việt nam đến năm 2030 như: Hoàn thiện mô hình quản trị rủi ro tín dụng, Ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản trị rủi ro tín dụng và xây dựng hệ thống cảnh báo
sớm, thiết lập mô hình đo lường rủi ro tín dụng …


13
7. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình công bố của tác giả, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương
mại
- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam
- Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Công thương Việt nam


14
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI

1.1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm
Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, do tính chất vận động của các nguồn vốn
hàng hóa, tiền tệ và sự độc lập tương đối của tiền tệ, nên tất yếu nảy sinh mâu thuẫn
tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn tiền tệ. Để giải quyết căn bản mâu thuẫn đó tín
dụng đã xuất hiện như là một hiện tượng tất yếu khách quan. Biểu hiện bên ngoài
của quan hệ tín dụng trước hết đó là sự chuyển giao quyền sử dụng vốn theo thời
hạn giữa chủ thể sở hữu chúng nhưng chưa có nhu cầu sử dụng với chủ thể đang có
nhu cầu sử dụng nhưng chưa có đủ khả năng tạo lập. Hay nói một cách cụ thể hơn
tín dụng được biểu hiện trước hết là sự vay, mượn tạm thời một số vốn tài sản hàng
hóa hay tiền tệ mà qua đó người đi vay có thể có được quyền sử dụng một lượng giá
trị nhất định theo cam kết giữa các bên. Như vậy quan hệ tín dụng là một quan hệ xã
hội biểu hiện thông qua các liên hệ về kinh tế, trong đó yếu tố lòng tin được xem
như đặc trưng cơ bản nhất.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự hoàn chỉnh của thị trường, từ
thấp tới cao quan hệ tín dụng cũng ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức đa
dạng và phong phú. Trong nền kinh tế thị trường đã và đang tồn tại nhiều hình thức
tín dụng như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, TDNH và
các hình thức tín dụng kết hợp khác... Tuy nhiên TDNH với các đặc trưng riêng vẫn
được coi là hình thức tín dụng cơ bản và giữ vai trò quan trọng nhất trong hệ thống
tín dụng.
Vậy có thể hiểu: Tín dụng NHTM là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát
sinh giữa các NHTM với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế theo nguyên tắc
hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định.
1.1.1.2 Phân loại
Trong nền kinh tế hiện đại, các NHTM phân loại tín dụng theo các tiêu thức
cơ bản sau:
* Theo mục đích sử dụng tiền vay: Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia
tín dụng ra thành hai loại:
- Tín dụng đối với sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp tín dụng cho

các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất lưu thông hàng hóa.


15
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như máy giặt, điều
hòa, tủ lạnh,…
* Theo thời hạn sử dụng tiền vay: Theo cách này TDNH phân làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ
sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp. Nó có thể được vay cho
những sinh hoạt cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1 - 5 năm. Loại tín dụng
này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật , mở rộng
và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại tín
dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các công
trình mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn.
Tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một
phần bổ sung cho vốn lưu động thường xuyên
*Theo hình thức đảm bảo tín dụng: Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng
được chia thành hai loại:
- Đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng được ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản đảm bảo như thế chấp, cầm cố, hoặc cần có bảo lãnh của người
thứ ba. Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng khi vay vốn đòi
hỏi phải có tài sản đảm bảo, sự đảm bảo này là căn cứ kinh tế để ngân hàng có thêm
một nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù
đắp lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có khả năng trả nợ.
- Đảm bảo không bằng tài sản: là loại tín dụng không cần tài sản thế chấp,
cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa vào uy

tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể
cấp tín dụng mà không cần đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung. Đây là căn cứ pháp lý
quan trọng trong việc truy đòi các khoản nợ có vấn đề phát sinh.
Ngoài ra tín dụng có thể phân theo: loại tiền, phạm vi quốc gia, cơ cấu vốn
tín dụng tham gia, đối tượng tạo lập của vốn vay.
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động tín dụng

- Trong hoạt động tín dụng, các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian:
Các NHTM đóng vai trò là tổ chức trung gian tức là các NHTM vừa đóng
vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay.


16
Khi huy động, các NHTM sử dụng các hình thức huy động khác nhau để thu
hút mọi nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để tạo lập nguồn vốn kinh doanh, lúc này
NHTM đóng vai trò là người đi vay lớn nhất trong nền kinh tế.
Khi cho vay, các ngân hàng lại dùng chính nguồn vốn đã huy động được để
cho vay lại đối với nền kinh tế, lúc này ngân hàng lại đóng vai trò là người cho vay
lớn nhất trong nền kinh tế.
- Huy động vốn và cho vay của NHTM đều chủ yếu thực hiện dưới hình
thức tiền tệ:
Trong quan hệ TDNH, các NHTM bằng cơ chế thích hợp, huy động các
nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo ra quỹ cho vay của ngân hàng.
Như vậy, tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng, đó là loại tiền tín dụng hay còn
gọi là công cụ lưu thông TDNH.
- Quá trình vận động và phát triển của TDNH độc lập tương đối với sự vận
động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội:
Vốn tín dụng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình vận động của mọi
hoạt động xã hội nói chung và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng. Tuy

nhiên, do tính độc lập tương đối của tiền tệ trong mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ,
cho nên người ta thường quan niệm vốn TDNH có tính độc lập tương đối với quá
trình tái sản xuất xã hội. Bởi vì trong quá trình vận động, vốn TDNH có thể tham
gia vào bất cứ một giai đoạn nào của chu kỳ vận động, song dường như đều dễ nhìn
thấy đó là ở giai đoạn đầu (dưới hình thức các nhu cầu chi phí bằng tiền) và giai
đoạn kết thúc (dưới hình thức các khoản thu nhập bằng tiền của quá trình tái sản
xuất). Do đó khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng (cân đối hàng hóa - tiền tệ) nguồn
vốn tín dụng vận động theo sự vận động của các nguồn vốn của quá trình tái sản
xuất (T - H hoặc H - T). Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức nhất định tất
yếu nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình chu chuyển vốn là nhu cầu vốn bằng tiền
không tương thích với nhu cầu hàng hóa trong trao đổi. Khi đó với chức năng
"trung gian tín dụng" và với các công cụ huy động vốn, cho vay, thanh toán để góp
phần đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng theo các mục tiêu cơ bản của nền kinh
tế trong từng giai đoạn. Do đó, có thể khẳng định sự vận động và phát triển của
TDNH chịu sự tác động và phụ thuộc vào quá trình vận động của quá trình tái sản
xuất xã hội, nhưng có tính độc lập tương đối với quá trình đó. Cho nên trong thực tế
TDNH thường được coi là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy tăng trưởng, hoặc điều
chỉnh, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
- Phạm vi hoạt động của TDNH là toàn bộ nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường hầu như mọi quan hệ trao đổi đều có thể "tiền tệ
hóa ", do vậy với công cụ thực hiện chủ yếu là "quyền sử dụng tiền tệ" nên TDNH có
thể tham gia vào mọi quan hệ xã hội. Điều đó được biểu hiện ra bên ngoài là các


17
NHTM có thể thực hiện huy động vốn tiền tệ, cho vay vốn và cung ứng các dịch vụ
ngân hàng cho hầu hết mọi chủ thể trong xã hội. Có nghĩa là TDNH có thể thỏa mãn
nhu cầu sử dụng tiền cho mọi đối tượng, mọi phạm vi, mọi khoảng thời gian của toàn
xã hội. Tuy nhiên sự thỏa mãn đó phải nằm trong sự điều chỉnh chung của nhà nước
và sự ràng buộc của pháp luật trong từng giai đoạn, tình hình cụ thể của nền kinh tế.

- Doanh số hoạt động tín dụng lớn, các hình thức tín dụng đa dạng, nhiều
rủi ro:
Doanh số hoạt động tín dụng lớn vì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản
của ngân hàng thương mại. Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản
của ngân hàng thương mại và thu nhập từ tín dụng thường chiếm 50% - 70% tổng
thu nhập của Ngân hàng thương mại. Bên cạnh việc đem lại thu nhập chính cho
ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào
danh mục tín dụng với các hình thức tín dụng rất đa dạng. Chính vì vậy mà hoạt
động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các ngân hàng thương mại cũng
như thanh tra ngân hàng.
Độ rủi ro của hoạt động tín dụng là khá cao vì nó phụ thuộc khả năng tài
chính của khách hàng, đặc biệt khách hàng cá nhân thường thay đổi nhanh chóng
tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Ngoài ra, các thông tin tài chính
của khách hàng vay thường không chính xác và khó kiểm soát. Vì thế, ngân hàng
sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro nếu người vay mất khả năng thanh toán. Trên thực
tế, các khoản vay có tài sản đảm bảo hoặc có người thứ ba bảo lãnh sẽ làm tăng
mức độ tin cậy hơn, đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hơn so với các
khoản vay không có tài sản đảm bảo.
1.1.1.4 Vai trò của hoạt động tín dụng
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế nên có tác động nhất định đối với hoạt động
kinh tế. Tuy nhiên vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và vận dụng
quan hệ tín dụng vào xây dựng và quản lý kinh tế của con người.
TDNH ra đời xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong nền kinh tế luôn làm
phát sinh hiện tượng có những chủ thể tạm thời thừa vốn và những chủ thể khác tạm
thời thiếu vốn. TDNH đã giải quyết được mâu thuẫn giữa cung cầu về vốn, là sự
cần thiết khách quan phù hợp với sự vận động vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị
trường. Khối lượng TDNH chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế, ngày càng giữ
vị trí quan trọng đối với lĩnh vực sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng như lưu
thông tiền tệ. TDNH trong nền kinh tế thị trường được cụ thể hóa bằng các vai trò
sau đây.

Thứ nhất, đối với bản thân ngân hàng


18
- Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Thu nhập từ hoạt động tín dụng được hình thành chủ yếu bởi chênh lệch giữa lãi
cho vay với lãi suất huy động và một số các khoản phí khác theo quy định, khoản
thu nhập này là phần thu nhập đáng kể trong tổng thu nhập của các NHTM. Đặc
biệt ở các nước chưa có thị trường vốn phát triển thì hoạt động cho vay truyền thống
vẫn được coi như hoạt động bao trùm nhất trong kinh doanh của NHTM. Do đó thu
nhập từ cho vay có thể được xem như khoản thu nhập chính quyết định đến sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng, tuy nhiên hoạt động tín dụng lại là hoạt động tiềm
ẩn rủi ro lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng nên các NHTM thường rất coi trọng
và nâng cao chất lượng QTRRTD.
- Hoạt động tín dụng góp phần đa dạng hóa HĐKD của ngân hàng, giúp ngân
hàng mở rộng đối tượng và phạm vi đầu tư từ đó giảm thiểu rủi ro trong HĐKD của
ngân hàng.
Trước hết chúng ta thấy quan hệ tín dụng là quan hệ lớn nhất và quan trọng
nhất trong các quan hệ với khách hàng của ngân hàng. Mặt khác thông qua hoạt
động tín dụng các ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích cung ứng
cho chính bản thân họ. Thông qua hoạt động huy động vốn (nhất là hoạt động tiền
gửi) ngân hàng có thể tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ tiền tệ như: dịch vụ thanh toán,
dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ két sắt,… và các
dịch vụ tiền tệ khác có liên quan. Thông qua hoạt động cho vay ngân hàng có thể
tạo ra các dịch vụ liên quan như: dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh
doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ,… Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị
trường phát triển thì hầu hết các NHTM đều xây dựng chiến lược phát triển các dịch
vụ ngân hàng hiện đại để lần lượt thay thế cho các sản phẩm kinh doanh truyền
thống, và coi đây là chiến lược kinh doanh chủ yếu nhất trên thị trường.
Thứ hai, đối với khách hàng

- TDNH đáp ứng nhu cầu vốn để quá trình sản xuất được liên tục: Trong nền
kinh tế, có nhiều chủ thể kinh tế hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, mỗi chủ
thể, mỗi ngành kinh tế lại có chu kỳ sản xuất khác nhau, trong khi đó, quá trình tái sản
xuất xã hội lại diễn ra liên tục trên cơ sở phân công lao động và hợp tác trong toàn bộ
nền kinh tế. Vì vậy, tất yếu xảy ra tình trạng nơi tạm thời thừa vốn, nơi tạm thời thiếu
vốn. Với tư cách là trung gian tài chính, các ngân hàng tập trung các nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, và cho vay đối với các thành phần đang tạm thời thiếu
vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục. Điều này có nghĩa là
TDNH là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh tốc
độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động theo phương châm "đi
vay để cho vay", TDNH không những đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra
bình thường, mà còn đẩy nhanh quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, mở rộng sản


19
xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ sản xuất mới, nâng cao chất lượng sản
phẩm dịch vụ.
- TDNH góp phần thúc đẩy phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh
thêm năng động và có hiệu quả hơn: Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt
đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng vận động để phù hợp với những biến
động của thị trường. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm đáp ứng nhu cầu
vốn của mình doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng và phải hoàn trả cả gốc và lãi sau
một thời gian nhất định, do đó doanh nghiệp cần tìm hiểu và đầu tư vốn vào những
ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận cao, qua đó vừa duy trì được hoạt động của mình,
vừa hoàn trả được vốn vay ngân hàng. Bên cạnh đó, TDNH cũng tạo điều kiện
thuận lợi cho việc di chuyển vốn, góp phần thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh.
TDNH thực sự là công cụ kinh tế quan trọng góp phần tạo ra các nguồn vốn hỗ trợ
hữu hiệu, và các sản phẩm dịch vụ tiện ích phục vụ đắc lực cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh, đồng thời nó cũng là công cụ điều tiết có hiệu quả của nhà nước để
tác động vào mọi HĐKD theo các mục tiêu chung của nền kinh tế, từ đó làm cho

các hoạt động kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở nên năng động và
linh hoạt hơn.
Thứ ba, đối với nền kinh tế
Quá trình hình thành và phát triển của tín dụng cho thấy vai trò quan trọng của
hoạt động tín dụng trong nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế hiện nay. Hoạt động tín
dụng tồn tại khách quan với tư cách là người mở đường, người tham gia quyết định
mọi quá trình sản xuất, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi ngoài lưu thông dưới dạng tiết
kiệm đem lại đầu tư để phục vụ phát triển kinh tế.
- Hoạt động TDNH là công cụ tài trợ có hiệu quả cho nền kinh tế: Là trung
gian điều hòa cung cầu về vốn cho nền kinh tế, hoạt động tín dụng là cầu nối giữa
các dòng vốn tạm thời thừa với các nhu cầu vốn tạm thời thiếu. Qua thực tế chúng
ta có thể nhận thấy khi các quan hệ hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát triển thì các
quan hệ về tín dụng cũng ngày càng phát triển, ngược lại các quan hệ tín dụng phát
triển ngày càng đa dạng và phong phú là điều kiện hỗ trợ và kích thích các quan hệ
hàng hóa - tiền tệ cũng phát triển hơn.
Các doanh nghiệp HĐKD không thể chỉ dựa vào nguồn vốn tự có. Bởi lẽ
trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể thừa vốn ở giai đoạn
này nhưng lại thiếu vốn ở giai đoạn khác. Trong quá trình chu chuyển vốn đó tình
trạng tạm thời thừa và thiếu vốn có thể xuất hiện trong nhiều khoảng thời gian dài,
ngắn khác nhau. Song xu thế chung cho ta thấy tình trạng thiếu vốn trong ngắn hạn
và cả trong dài hạn ở các doanh nghiệp là mang tính phổ biến.
Bởi hoạt động TDNH có tính bao trùm cả xã hội do đó các NHTM có thể
"mua về" và "bán ra" với một khối lượng vốn lớn tương đương với cả tổng nguồn


20
vốn đầu tư trong xã hội theo quan hệ cung - cầu vốn tín dụng. Qua đó NHTM có thể
tiếp nhận được hầu hết mọi nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong xã hội và lại dùng
chính nguồn vốn đó để thỏa mãn các nhu cầu vốn tạm thời thiếu cho chính các chủ
thể đó, khi có quan hệ vay vốn với ngân hàng, vì vậy khả năng thỏa mãn các nhu

cầu vốn qua kênh tín dụng lớn hơn nhiều so với các kênh phân phối khác. Mặt khác
thông qua sự vận dụng lãi suất linh hoạt (cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay) và
các công cụ khác, TDNH còn góp phần định hướng đầu tư, xác định hiệu quả kinh
doanh một cách cụ thể, giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, và có
thể lượng hóa rõ hơn các rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời cũng có thể thông qua TDNH, nhà nước có thể vận dụng nhiều
biện pháp ưu đãi cho doanh nghiệp (hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh, cho vay chỉ định,…)
để giải quyết các khó khăn về tài chính trong điều kiện nền kinh tế có những biến
động lớn.
TDNH tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thị trường vốn ngắn hạn.
Thông qua việc huy động vốn và cho vay tín dụng đã góp phần đẩy nhanh tốc độ
chu chuyển vốn xã hội thông qua việc điều tiết các vốn chậm sang chỗ có vòng chu
chuyển vốn nhanh hơn. Đồng thời thông qua hoạt động TDNH có thể tạo ra nhiều
công cụ lưu thông (như kỳ phiếu ngân hàng) và nhiều dịch vụ tiện ích (chiết khấu,
bao thanh toán, bảo lãnh,…) phục vụ đắc lực cho quá trình vận động vốn của mọi
chủ thể trên thị trường. Đây là tiền đề quan trọng để phát triển mở rộng thị trường
vốn ngắn hạn.
- Hoạt động TDNH góp phần điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, đáp
ứng các nhu cầu trao đổi:
Ngân hàng trung ương (NHTW) thông qua quan hệ tín dụng để điều tiết
khối lượng cho vay tại các tổ chức tín dụng (TCTD). Với vai trò là người cho vay
cuối cùng, việc mở rộng hay thu hẹp cửa sổ chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến quy mô tín
dụng, từ đó sẽ tác động đến khối lượng cho vay của các TCTD. Thông qua hoạt
động tín dụng, NHTW có thể sử dụng NHTM như là chiếc "cầu nối" giữa nhà nước
với thị trường thông việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để từ đó có thể
điều tiết được khối lượng tiền cung ứng. Đồng thời thông qua hoạt động của
NHTM, NHTW có thể thu nhận các dấu hiệu, các thông tin thị trường để từ đó có
biện pháp điều chỉnh kịp thời và phù hợp với thực tế về cung - cầu tiền tệ trong nền
kinh tế. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong nền kinh tế đang có lạm phát hay bất ổn
định. Như vậy, NHNN thông qua cửa sổ chiết khấu đã tác động tới khối lượng cho

vay của các TCTD, từ đó quản lý được lượng tiền mặt trong lưu thông nhằm đạt
được các mục tiêu như mong muốn.
Hoạt động điều tiết được thực hiện bởi việc thực thi chính sách tiền tệ thông qua
các công cụ như lãi suất, tái chiếu khấu, hoạt động thị trường mở, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,


21
dự trữ thanh toán… Chính phủ có thể kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, kiềm
chế lạm phát và ổn định sức mua của đồng tiền.
- TDNH là góp phần thúc đẩy việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để có thể đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị và khoa học công
nghệ thì cần phải có vốn. Việc đầu tư này ngoài nguồn vốn của ngân sách nhà nước
(NSNN) thì cũng có một phần vốn đóng góp không nhỏ của các TCTD. Thực tế cho
thấy ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam thì
TDNH là một công cụ tài trợ đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- TDNH là công cụ thực hiện chính sách xã hội:
Các chính sách xã hội có thể được tài trợ bởi phương thức tài trợ không hoàn
lại NSNN. Tuy nhiên, phương thức này thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu
quả và gây lãng phí nguồn lực. Vì thế hiện nay phương thức tài trợ không hoàn lại
đã bị thay thế dần bởi phương thức tài trợ có hoàn lại. Thông qua phương thức này,
các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và có hiệu quả hơn. Mặt
khác thông qua việc sử dụng các công cụ tín dụng như lãi suất, thời hạn, hạn mức
tín dụng,… đã tác động mạnh vào các đối tượng chính sách được tài trợ buộc phải
quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng
lao động của họ cũng được cải thiện từng bước. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho
sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể
tồn tại độc lập với các nguồn tài trợ.
- Hoạt động TDNH thúc đẩy phát triển và mở rộng kinh tế đối ngoại: Khi

nền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động sản xuất hàng hóa càng đa dạng và
phong phú. Các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp quan hệ kinh doanh trong phạm vi
một quốc gia mà đã mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài. Nhờ có
hoạt động tín dụng mà cụ thể hơn là bảo lãnh ngân hàng đã tạo cơ hội cho sự phát
triển của các doanh nghiệp, nâng cao vị thế của các doanh nghiệp trên thị trường
quốc tế, từ đó mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đa số các NHTM hiện nay đều
mở các ngân hàng đại lý bên nước ngoài để phục vụ khách hàng quốc tế trong hoạt
động thanh toán thẻ, cho vay cá nhân và các tổ chức nước ngoài.
TDNH đã trở thành một trong những phương tiện để nối liền kinh tế của các
nước với nhau. Đặc biệt với các nước đang phát triển, TDNH đóng vai trò quan
trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa đồng thời nhờ nguồn vốn tín dụng bên
ngoài để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển TDNH luôn được
coi là một trong các biện pháp cơ bản để điều hòa các dòng vốn trong xã hội và đáp
ứng các yêu cầu trong sử dụng vốn của nền kinh tế. Thực tế cho chúng ta thấy


22
TDNH thực sự là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa tiêu dùng và sản xuất, giữa
trong nước và quốc tế,… Do vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng nói chung, chất
lượng TDNH nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm của các NHTM mà thực sự là
vấn đề lớn của cả nền kinh tế trong điều kiện hiện nay.
1.1.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
RRTD gắn liền với hoạt động tín dụng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng và
đem lại nguồn thu chủ yếu của ngân hàng hiện nay, có thể gây tổn thất về tài chính,
về kinh tế mà tác động trực tiếp là làm giảm lãi, giảm giá trị thị trường về vốn, trong
trường hợp nghiêm trọng hơn có thể làm HĐKD của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí
là phá sản ngân hàng. Có nhiều khái niệm về RRTD được ghi nhận trong các tài liệu
nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước, có thể dẫn ra như sau:

Theo Joel Bessis đưa ra khái niệm về RRTD trong cuốn Quản trị rủi ro trong
ngân hàng: “RRTD là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác
sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo các quy định, RRTD chia thành một vài thành
phần RRTD: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơ nguy cơ, tức là sự bất
trắc về giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết;
thua lỗ do vỡ nợ thường ít hơn lượng tiền phải trả bởi vì sự hồi phục nhờ đảm bảo
hay thế chấp của bên thứ ba; rủi ro đối tác là hình thức RRTD cụ thể xuất phát từ
phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác” [62, tr.42-43].
Quan điểm của A.Saunder và H.Langge thì: “RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi
ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng luồng thu nhập dự
tính mang lại từ khoản cho vay của ngan hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số
lượng và thời gian” [58].
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel thuộc Ngân hàng Thanh toán Quốc tế:
“RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các
nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận”.
Quan điểm của Timmothy W.Koch: “RRTD là sự thay đổi tiềm ẩn của thu
nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hay
thanh toán trễ hạn”
Theo [24], RRTD được định nghĩa như sau: “RRTD trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện được hoặc không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau để nhìn nhận thì RRTD có thể được
diễn đạt dưới các hình thức khác nhau, song các khái niệm, các quan điểm đều tựu
chung về bản chất của RRTD đó là: RRTD là khả năng xảy ra tổn thất, thiệt hại về kinh


23
tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
nợ gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúng hạn.

1.1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Có nhiều cách phân loại và tiếp cận RRTD khác nhau, sau đây là một số cách
phân loại phổ biến:
- Căn cứ vào nguồn gốc của RRTD có thể chia RRTD làm 2 nhóm: rủi ro
đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch;
+ Rủi ro đạo đức: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc
giao dịch diễn ra. Vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin không
tin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủ
các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hưởng
đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay.
+ Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch: là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo
ra trước khi cuộc giao dịch diễn ra. Bên cho vay tin tưởng vào năng lực của người
vay mà cho vay trong khi người đi vay với mục đích để vay được vốn đã cung cấp
thông tin không trung thực cho bên cho vay.
- Căn cứ vào mức độ tổn thất, có thể chia RRTD ra làm 2 loại là rủi ro mất
vốn và rủi ro đọng vốn;
+ Rủi ro mất vốn: Rủi ro mất vốn là rủi ro khi người vay không có khả năng
trả được nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc hoặc lãi vay, ngân hàng chỉ trông chờ
vào giá trị thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Rủi ro mất vốn sẽ làm (i) tăng chi phí
do nợ khó đòi tăng, chi phí quản trị, chi phí giám sát (ii) giảm lợi nhuận do các
khoản dự phòng gia tăng cho những khoản vốn mất đi.
+ Rủi ro đọng vốn: Rủi ro đọng vốn là rủi ro xảy ra trong trường hợp đến hạn
mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi vốn vay, dẫn đến các khoản vốn bị đông cứng và
ảnh hưởng đến ngân hàng trên hai phương diện: (i) ảnh hưởng đến kế hoạch sử
dụng vốn của ngân hàng, (ii) gặp khó khăn cho việc thanh toán cho khách hàng.
- Căn cứ theo đối tượng sử dụng, có thể chia làm ba nhóm:
+ Rủi ro khách hàng cá thể: RRTD xảy ra đối với đối tượng khách hàng là cá
nhân.
+ Rủi ro công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính: RRTD xảy ra đối với
khách hàng là công ty, tổ chức kinh tế, định chế tài chính.

+ Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý: RRTD xảy ra đối với từng quốc gia đối
với hoạt động vay nợ, viện trợ.
- Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro
hệ thống. Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại RRTD theo phạm vi
rủi ro sẽ giúp cho ngân hàng đưa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu
hiệu nhất.


24
+ RRTD cá biệt: là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng
cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể. RRTD cá biệt xảy ra do một số nguyên nhân:
(i) Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng: (ii) Tình hình tài chính của
khách hàng, (iii) Khả năng quản trị của khách hàng, (iv) Đạo đức khách hàng, (v)
Các nguyên nhân khác... Tóm lại, việc nghiên cứu rủi ro cá biệt sẽ giúp ngân hàng đa
dạng hóa hoạt động tín dụng để giảm thiểu rủi ro, đem lại hiệu quả cho ngân hàng.
+ RRTD hệ thống: là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà
mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. Nguyên nhân của rủi
ro hệ thống bao gồm: sự thay đổi chính sách thể hiện ở chính sách tài chính tiền tệ,
chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu; các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh
hưởng đến rủi ro hệ thống bao gồm: tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số
chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư và các yếu tố bất
khả kháng. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân
hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, các tác động
của lạm phát, thất nghiệp, các chính sách sắp đến của Chính phủ và chủ động đưa ra
các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp.
- Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm: Rủi ro trước khi
cho vay, rủi ro trong khi cho vay và rủi ro sau khi cho vay.
+ Rủi ro trước khi cho vay: Rủi ro xảy ra khi ngân hàng phân tích đánh giá
sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả
năng trả nợ trong tương lai.

+ Rủi ro trong khi cho vay: Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) việc giải ngân không đúng tiến độ
(ii) không cập nhật thông tin khách hàng thường xuyên và (iii) không dự báo được
rủi ro tiềm năng. Khách hàng cố tình không trả nợ vay hoặc cung cấp thông tin
không trung thực về khả năng trả nợ.
+ Rủi ro sau khi cho vay: Rủi ro này xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm
được tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài chính tương lai của khách hàng.
- Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động của ngân hàng,
RRTD được chia thành rủi ro khoản vay và rủi ro danh mục.
+ Rủi ro khoản vay: Là rủi ro được đánh giá đối với mỗi khoản vay, mức độ
rủi ro khoản vay được đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hưởng thường được giới hạn
do quy mô khoản vay.
+ Rủi ro danh mục: Là rủi ro được đánh giá đối với một danh mục các khoản
vay có tính chất tương đồng (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chất
khoản vay…). Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh
hưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn.
1.1.2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng


25
Các nguyên nhân khách quan:
 Nguyên nhân từ môi trường chính trị và pháp lý
Môi trường chính trị có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tình hình chính trị xã hội không ổn định thì không chỉ riêng các khách hàng sản xuất
mà cả các ngân hàng cũng khó có thể yên tâm tập trung vào đầu tư, mở rộng kinh
doanh, đặc biệt là mở rộng tín dụng. Hơn nữa, sự bất ổn về chính trị xã hội sẽ dẫn đến
sự mất lòng tin của dân chúng như các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ảnh hưởng đến
hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Môi trường pháp lý cũng có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình QTRRTD
của ngân hàng. Xác lập một khuôn khổ pháp luật đồng bộ, nhất quán điều chỉnh các

hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường được xem như là điều kiện tiên quyết
đảm bảo thị trường hoạt động có hiệu quả. Chính vì vậy, nhân tố pháp lý có vị trí rất
quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Các quy định phù hợp sẽ tạo
điều kiện phát triển hoạt động của các ngân hàng an toàn nhưng nếu các quy định
không phù hợp sẽ dẫn đến sự kìm hãm phát triển, trong đó bao gồm cả việc ảnh
hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động của các ngân hàng.
 Nguyên nhân từ môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế được phản ánh qua chu kỳ kinh tế, các chính sách kinh tế
vĩ mô từng thời kỳ và tác động của xu thế toàn cầu hóa, cụ thể:
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và
hoạt động tín dụng nói riêng. Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín
dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái và khủng
hoảng thì hoạt động tín dụng gặp khó khăn và rủi ro cao. Trong thời kỳ nền kinh tế
phát triển với tốc độ chậm, biểu hiện tính suy thoái, sản xuất kinh doanh của các
khách hàng bị thu hẹp, không hiệu quả và gặp nhiều khó khăn, nhiều khách hàng bị
thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân hàng lúc này vẫn tiếp tục tăng trưởng tín dụng ở mức
cao thì khả năng rủi ro, không thu được nợ sẽ tăng lên.
Chính sách kinh tế của Chính phủ thông qua những quy định như về thuế,
chính sách xuất nhập khẩu… sẽ gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng bởi
các chính sách này tác động trực tiếp đến HĐKD của các khách hàng của ngân
hàng. Khi chính phủ có chính sách ưu đãi như giảm thuế, bảo hộ hàng sản xuất
trong nước của một ngành nào đó bằng cách đề ra hạn ngạch xuất khẩu, hoặc cấm
nhập hay tăng thuế nhập khẩu và ngược lại, đưa ra chính sách giữ giá hay phá giá
đồng nội tệ thì cũng gián tiếp gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng. Một đất nước
mà các chính sách kinh tế thường xuyên thay đổi, khó dự đoán sẽ gây tác động xấu
đến HĐKD của các khách hàng và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng
đối với ngân hàng.



×