Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Thực hiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện phú ninh, tỉnh quảng nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 95 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN PHẨM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH,
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN VĂN PHẨM

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH,
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM ANH TUẤN

Hà Nội, năm 2019




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi. Những số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Phan Văn Phẩm


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG
NGHIỆP ................................................................................................................ 7
1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................. 7
1.2. Vấn đề thực hiện chính sách quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ...............19
1.3. Vấn đề thực tiễn sử dụng đất nông nghiệp ....................................................23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM..................28
2.1. Yếu tố tự nhiên ..............................................................................................28
2.2. Nguồn nước mặt hồ Phú Ninh.......................................................................31
2.3. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội..............................................................33
2.4. Thực trạng chính sách sử dụng đất nông nghiệp...........................................39
2.5. Hiệu quả chính sách sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện ...............53
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN PHÚ NINH .......................................................67

3.1. Giải pháp thực hiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Phú Ninh
..............................................................................................................................67
3.2. Đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2025 ................. 73

KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN ...........................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

ANTT

An ninh trật tự

BCH

Bộ chỉ huy

BTS

Trạm thu, phát sóng thông tin di động

BVTV

Bảo vệ thực vật


CNQSD đất

Chứng nhận quyền sử dụng đất

DVNN

Dịch vụ nông nghiệp

ĐH

Đường huyện

EU

Liên minh Châu Âu

FAO

Tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới

GDP

Tổng sản phẩm nội địa

HĐND

Hội đồng nhân dân

IPM


Quản lý dịch hại tổng hợp

KT - XH

Kinh tế xã hội

NLN

Nông lâm nghiệp

NTM

Nông thôn mới

PCCC

Phòng cháy chữa cháy

SXNN

Sản xuất nông nghiệp

TĐC

Tái định cư

TM- DV

Thương mại – dịch vụ


TN&MT

Tài nguyên và môi trường

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

USD

Đồng đô la Mỹ

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Các nhóm đất chính tại huyện Phú Ninh ..................................................32
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng một số loại cây trồng..............................38
Bảng 2.3: Thống kê hiện trạng sử dụng đất năm 2017 .............................................39

Bảng 2.4. Kết quả giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất giai
đoạn 2012 - 2016 .......................................................................................................45
Bảng 2.5: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá về kinh tế .................................................55
Bảng 2.6: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chủ yếu ..........................55
Bảng 2.7: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chủ yếu ..........................56
Bảng 2.8: Bảng điểm đánh giá loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế ................56
Bảng 2.9: Phân cấp mức độ nhu cầu và tác động .....................................................60
Bảng 2.10: Mức đầu tư phân bón và thuốc trừ sâu cho cây trồng ............................61


DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Phú Ninh..........................................................29
Hình 2.2. Sơ đồ phân bố hệ thống sông suối huyện Phú Ninh .................................30
Hình 2.4. Cơ cấu kinh tế huyện Phú Ninh năm 2015 ...............................................34
Hình 2.5: Biểu đồ kết quả giao đất 5 năm, giai đoạn 2012 - 2016 ...........................45
Hình 2.6: Biểu đồ kết quả cho thuê đất 5 năm, giai đoạn 2012 - 2016 .....................46
Hình 2.7: Biểu đồ kết quả chuyển mục đích sử dụng đất giai đoạn 2012 - 2016 .....46
Hình 2.8: Biểu đồ kết quả thu hồi đất 5 năm, giai đoạn 2012 - 2016 .......................46


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Với sự phát triển của nền KT - XH hiện nay cùng với sự bùng nổ về dân số
đã tạo áp lực rất lớn cho vấn đề sử dụng và bảo vệ đất. Vấn đề sử dụng quỹ đất một
cách hợp lý và bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trở nên bức thiết hơn
bao giờ hết. Mặt khác, nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một bộ phận không

thể tách rời trong sự phát triển chung của toàn xã hội.
Huyện Phú Ninh được chia tách từ thị xã Tam Kỳ năm 2005, nằm tiếp giáp
với với trung tâm tỉnh lỵ Quảng Nam về phía Tây. Năm 2011, Phú Ninh là một
trong 05 huyện của cả nước được Trung ương chọn xây dựng huyện điểm quốc gia
về nông thôn mới. Với sự đầu tư nguồn lực từ Trung ương và tỉnh, cùng với phát
huy nội lực của địa phương, trong những năm qua, nền sản xuất nông nghiệp của
huyện đã được chú trọng đầu tư phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá; đất
nông nghiệp được quy hoạch, quản lý, sử dụng khá hiệu quả dẫn đến năng suất, sản
lượng nông nghiệp không ngừng được tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân
dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn thay đổi rõ nét.
Kết quả đạt được nêu trên là rất đáng phấn khởi, tuy nhiên Phú Ninh vẫn là
một huyện nông nghiệp, người dân lao động và thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp
là chủ yếu. Dự báo trong những năm đến, phát triển KT - XH và dân số ngày càng
tăng sẽ tạo áp lực cho quỹ đất của địa phương, nhất là quỹ đất nông nghiệp, biến
động sử dụng đất nông nghiệp ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Vì vậy, việc
nghiên cứu đánh giá hiện trạng nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý, sử dụng đất nông nghiệp, định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững,
nâng chuẩn huyện nông thôn mới là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và với lòng mong muốn góp phần vào sự phát
triển KT - XH của địa phương, đã thúc đẩy việc chọn đề tài: "Thực hiện chính
sách sử dụng đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam".

1


2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chủ đề về đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất,
nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm
muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản

xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và
đất nông nghiệp khác. Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu chủ đề này
với nhiều hình thức tiếp cận khác và các địa phương khác nhau. Trong số đó
có thể nêu ra một số công trình sau:
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) với luận án tiến sĩ Nghiên cứu
biến động và đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp lý tại huyện Tiên
Yên, tỉnh Quảng Ninh: Nội dung nghiên cứu đã Đánh giá biến động sử dụng
đất và xác định ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, xã hội đến biến động sử
dụng đất của huyện đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất hợp
lý trên địa bàn huyện. Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thông tin, bản
đồ, số liệu về biến động sử dụng đất của khu vực nghiên cứu theothời gian và
không gian giúp cho cơ quan quản lý đất đai nắm được diễn biến và xu hướng
biến động đất đai. Các yếu tố tự nhiên, xã hội có ảnh hưởng đến biến động sử
dụng đất mà đề tài xác định được sẽ là cơ sở khoa học để cân nhắc giữa lợi
ích kinh tế và bảo vệ môi trường khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong
điều kiện cụ thể ở huyện.
Tác giả Vũ Thị Hương (2015) nghiên cứu sử dụng bền vững đất nông
nghiệp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, Luận án tiến sĩ ngành quản lý đất
đai đã làm rõ đặc tính và tính chất đất đai đồng thời đề xuất được hướng sử
dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Lục Ngạn. Kết quả nghiên cứu
của luận án sẽ giúp các nhà quản lý và sử dụng đất của huyện Lục
Ngạn có hướng sử dụng đất nông nghiệp một cách hệ thống, tiết kiệm, hiệu
quả và bền vững, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hiền (2016) với nội dung nghiên cứu tích tụ
ruộng đất ở miền Tây Nam Bộ, luận án Tiến sĩ đã Đánh giá thực trạng và tác
động của tích tụ ruộng đất đến hiệu quả sản xuất và đời sống kinh tế xã hội
nông thôn Tây Nam Bộ, đồng thời chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến tích tụ

2



ruộng đất nhằm đề xuất các giải pháp tích tụ ruộng đất vùng Tây Nam Bộ và
các vấn đề xã hội nãy sinh từ quá trình này.
Tác giả Nguyễn Văn Bình (2017) Đánh giá thực trạng và đề xuất hướng sử
dụng đất nông nghiệp bền vững tại thị xã Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Huế , luận
án Tiến sĩ đã Cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất sử dụng đất bền vững, bổ
sung vào phương pháp luận về đánh giá, hiệu quả sử dụng đất, tiềm năng đất đai và
quy hoạch sử dụng đất để có nhiều lựa chọn phù hợp với các loại hình sử dụng đất.
Đề xuất được giải pháp sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho thị xã Hương Trà,
giúp địa phương khai thác có hiệu quả, sử dụng hợp lý đối với nguồn tài nguyên đất
đai trong các khu vực. Cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất nông nghiệp vừa đạt hiệu quả cao vừa đảm bảo sử dụng đất và phát
triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế và
mở ra các hướng nghiên cứu tiếp theo cho các huyện/thị xã khác trong tỉnh và
những vùng có điều kiện tương tự.
Tác giả Trần Văn Dự (2011) luận Văn Thạc sĩ nghiên cứu về Phát triển nông
nghiệp huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Đã đánh giá thực trạng phát triển nông
nghiệp huyện Phú Ninh trong những năm vừa qua. Đề xuất các quan điểm, phương
pháp và giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi nhằm phát triển nông nghiệp
huyện Phú Ninh trong những năm sắp tới.
Qua nghiên cứu các công trình khoa học trên, đề tài nhận thấy có công trình,
bài báo nghiên cứu đi sâu phân tích, bình luận một số khía cạnh pháp về chính sách
sử dụng đất nông nghiệp. Bên cạnh đó, lại có công trình nghiên cứu vấn đề này
thông qua việc đánh giá thực trạng và đề ra giải pháp tại địa bàn cụ thể của một
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương... Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào
đi sau nghiên cứu vấn đề chính sách sử dụng đất nông nghiệp trên phạm vi thực tiễn
tại địa bàn cấp huyện. Chính vì vậy, đề tài không trùng lặp với các công trình đã
công bố, có ý nghĩa và tính cấp thiết trong lý luận và thực tiễn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung

Đánh giá được thực trạng thực hiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp của
huyện giai đoạn 2011 - 2017, từ đó đề xuất chính sách, giải pháp sử dụng có hiệu
quả tài nguyên đất phục vụ sản xuất nông nghiệp của huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng
Nam.

3


3.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích được thực trạng quản lý đất nông nghiệp của huyện Phú Ninh.
- Đánh giá được hiệu quả KT - XH và môi trường của một số loại hình sử
dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện.
- Đề xuất chính sách, giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp hợp lý và
bền vững.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Chính sách sử dụng đất nông nghiệp của huyện
Phú Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn phạm vi không gian: Huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
- Giới hạn phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu liên quan đến đất nông
nghiệp trong giai đoạn từ 2011 - 2017.
- Giới hạn về nội dung: Đề tài chỉ giới hạn đánh giá việc thực hiện chính
sách sử dụng đất nông nghiệp, trong đó tập trung vào một số cây trồng chính có
triển vọng trên địa bàn huyện: lúa, ngô, khoai lang, sắn, đậu các loại, rau - củ - dưa
hấu ....
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
khoa học xã hội và quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách sử dụng đất
nông nghiệp.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Nguồn thông tin, số liệu thứ cấp
Nghiên cứu này sử dụng chủ yếu dữ liệu thứ cấp. Một là các tài liệu, các văn
bản có liên quan đến chính sách sử dụng đất nông nghiệp, các nghị định, thông tư
hướng dẫn của Chính phủ, các Quyết định, các văn bản đặc thù, chỉ đạo giải quyết
vướng mắc riêng... Hai là số liệu về chính sách sử dụng đất nông nghiệp, diện tích
đất bị thu hồi… trong các Báo cáo hàng năm, 5 năm của UBND huyện Phú Ninh,
các phòng, ban của huyện và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phú Ninh.
* Nguồn thông tin, số liệu sơ cấp
Ngoài sử dụng dữ liệu thứ cấp, đề tài sử dụng dữ liệu sơ cấp, cụ thể học viên
thiết kế bảng hỏi và phiếu phỏng vấn để đánh giá thực trạng thực hiện chính sách sử

4


dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Ninh.
* Phương pháp phân tích tổng hợp
Với những nguồn dữ liệu như trên, luận văn sử dụng phương pháp phân tích
tổng hợp dữ liệu để đưa ra những nhận xét, đánh giá khách quan về thực trạng thực
hiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp tại huyện. Học viên phân tích cả về lý luận
và thực tiễn, đặc biệt là tập trung phân tích thực trạng thực hiện chính sách sử dụng
đất nông nghiệp tại huyện Phú Ninh, luận văn dùng phương pháp tổng hợp để đưa
ra các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả quỹ đất tại huyện Phú Ninh trong thời
gian tới
* Phương pháp so sánh
Số liệu và chỉ tiêu sẽ được phân nhóm và so sánh nhằm chỉ ra những thành
tựu đạt được và những hạn chế về kết quả thực hiện. Cụ thể, tác giả so sánh kết quả
đạt được trong thực tế so với mục tiêu đặt ra theo các chỉ tiêu được đặt ra ban đầu.
* Phương pháp thống kê mô tả
Đây là phương pháp nghiên cứu giúp cho việc tổng hợp và phân tích thống

kê các tài liệu về thực trạng chính sách sử dụng đất tại huyện Phú Ninh. Trên cơ sở
sử dụng số liệu thống kê mô tả mà có nhận thức đầy đủ, chính xác công tác quản lý
và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách sử dụng đất nông nghiệp. Đồng thời thông
qua hệ thống các chỉ tiêu thống kê để đánh giá đúng hiệu quả của chính sách sử
dụng đất nông nghiệp hiện nay. Đây là phương pháp nghiên cứu cho phép lượng
hoá các kết luận và kết quả nghiên cứu.
* Phương pháp quan sát thực địa
Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm có cái nhìn chân thực nhất về quá
trình thực hiện chính sách sử dụng đất nông nghiệp địa bàn huyện Phú Ninh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Góp phần hoàn chỉnh cơ sở khoa học phục vụ cho việc thực hiện chính sách
sử dụng đất nông nghiệp từ thực tiễn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần thực hiện chủ trương “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
- Nâng cao giá trị cây trồng trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đối với huyện
đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

5


- Cung cấp tài liệu tham khảo cho sinh viên, giảng viên trong quá trình
nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến đất nông nghiệp đối với huyện trong xây dựng
nông thôn mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và kiến nghị; tài liệu tham khảo và phụ lục; nội
dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu.
- Chương 2: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử

dụng đất nông nghiệp ở huyện Phú Ninh.
- Chương 3: Thực trạng và giải pháp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp ở
huyện Phú Ninh.

6


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm chính sách và chính sách công
Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn
là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi. Từ thực tế chính sách
của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận
trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, chúng ta có thể chọn ra một số cách tiếp
cận quan trọng nhất để phân tích trước khi đi đến một khái niệm chung nhất về
chính sách công.
Có thể đi đến khái niệm tổng quát về chính sách như sau: Chính sách là
những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận
động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Tóm lại từ các khái niệm trên, chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung
nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của
Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng
nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng”.
1.1.2. Thực thi chính sách
Chính sách được hoạch định ra xuất phát từ yêu cầu khách quan của thực tế,
từ những nhu cầu của xã hội. Trải qua rất nhiều thời kỳ, từ năm 1930 đến 1960, các
nhà nghiên cứu quy trình chính sách hầu như chỉ tập trung tìm tòi về việc hoạch
định chính sách công. Song cho đến tận ngày nay, người ta vẫn khó có thể khẳng
định rằng, một chính sách đề ra là tốt hay xấu. Điều đó chỉ có thể được đánh giá

bằng thực tế là chính sách đó được xã hội chấp nhận hay không. Chỉ có thực tiễn là
phán xét chính xác nhất chính sách nào là tích cực và chính sách nào là tiêu cực.
Trong thập kỷ 70, các nhà nghiên cứu đã chuyển trọng tâm sang giai đoạn thực thi
chính sách.
Theo nguyên lý triết học, chính sách là một dạng thức vật chất đặc biệt nên
nó cũng cần thực hiện những chức năng để tồn tại. Song muốn thực hiện được chức
năng, chính sách phải tham gia vào quá trình vận động như các vật chất khác. Nghĩa
là sau khi ban hành, chính sách phải được triển khai trong đời sống xã hội. Do vậy,
tổ chức thực thi chính sách là tất yếu khách quan để duy trì sự tồn tại của công cụ

7


chính sách theo yêu cầu quản lý Nhà nước và cũng là để đạt mục tiêu đề ra của
chính sách. Với cách tư duy này có thể đi đến khái niệm về tổ chức thực thi chính
sách như sau: "Tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí
của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt
được mục tiêu định hướng của Nhà nước".
1.1.3. Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Khái niệm về đất
Có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đất và đưa ra nhiều định
nghĩa đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau.
Đất là nguồn tài nguyên thiên nhiên thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của
loài người. Theo quan điểm phát sinh học thổ nhưỡng của nhà thổ nhưỡng học
người Nga Đocutraev, đất (Soils) là một vật thể tự nhiên đặc biệt, hình thành do tác
động tổng hợp của các yếu tố, gồm: Đá mẹ (đá gốc, mẫu chất), khí hậu, địa hình,
sinh vật (chủ yếu là thực vật), thời gian và tác động của con người.
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một
nhân tố sinh thái (FAO, 1976). Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai là
một phần của bề mặt trái đất chứa đựng các đặc tính bền vững hợp lý, mang tính

chu kỳ ổn định, các thuộc tính theo chiều dọc cả ở trên và dưới bề mặt Trái đất, bao
gồm: Khí quyển, thủy quyển, đất và địa chất phía dưới, các quần thể động thực vật
cùng những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại xét ở phạm
vi có ảnh hưởng quan trọng đến việc sử dụng đất của con người trong hiện tại và
tương lai. Tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh
hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Như vậy, đất được hiểu
như một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: Địa mạo/địa hình, khí hậu, thủy văn,
thổ nhưỡng và sinh vật, những biến đổi của đất do hoạt động của con người.
Hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de Janerio, Brazil năm 1992 đưa ra
khái niệm về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất
bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó
như: Khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề
mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật,
trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và
hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà
cửa…)”.

8


Khái niệm về đất nông nghiệp và phân loại đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Phân loại đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp được sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm.
- Đất trồng cây hàng năm là đất sử dụng vào mục đích trồng các loại cây

được gieo trồng, cho thu hoạch và kết thúc chu kỳ sản xuất trong thời gian không
quá một năm, kể cả đất trồng cây hàng năm được lưu gốc để thu hoạch không quá 5
năm, đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên theo chu kỳ. Đất trồng
cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác:
+ Đất trồng lúa là ruộng và nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng
lúa kết hợp với các mục đích sử dụng đất khác được pháp luật cho phép, nhưng
trồng lúa là chính. Đất trồng lúa bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa
nước còn lại, đất trồng lúa nương.
+ Đất trồng cây hàng năm khác là đất trồng các cây hàng năm (trừ đất trồng
lúa), gồm chủ yếu để trồng rau, màu, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tằm, đất
trồng cỏ hoặc cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc. Đất trồng cây hàng năm
khác bao gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng
năm khác.
- Đất trồng cây lâu năm là đất sử dụng vào mục đích trồng các loại cây được
gieo trồng một lần, sinh trưởng và cho thu hoạch trong nhiều năm.
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp
Việc sử dụng đất nông nghiệp luôn bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật tự
nhiên cũng như bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật KT - XH. Vì thế có thể khái
quát những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp gồm một số yếu tố chính
như sau:
Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: Vị trí, địa hình, khí hậu, thời tiết, đất đai… Đây là
những yếu tố cơ bản để xác định việc sử dụng đất nông nghiệp sao cho đạt hiệu quả

9


cao nhất, nó ảnh hưởng trực tiếp đối với sản xuất nông nghiệp.
- Vị trí, địa hình, đất đai: Sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với đất đai, quỹ
đất nhiều hay ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không, độ dốc lớn hay nhỏ... đều

ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và tác động đến thu nhập của người nông dân. Điều
kiện tự nhiên là tiền đề cơ bản nhất, là nền móng để phát triển và phân bố nông
nghiệp. Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng và phát triển trong
những điều kiện tự nhiên nhất định nào đó, ngoài điều kiện đó cây trồng và vật nuôi
sẽ không thể tồn tại hoặc kém phát triển. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở
xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Ở vùng đồng bằng, đất nông nghiệp được hình thành chủ yếu do sự bồi tụ
phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu thổ hoặc đồng
bằng ven biển. Với các đặc điểm là địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước
tưới tiêu thuận lợi, đất đai màu mỡ phì nhiêu, đồng bằng đã và đang là những cánh
đồng lớn ngày càng phong phú về chủng loại cây trồng theo sự phát triển của giống
và hệ thống canh tác mới. Ở miền núi, đất đai rất phong phú, đa dạng, địa hình xen
kẽ giữa các cánh đồng nhỏ hẹp hình thành do phù sa sông suối, các thung lũng do
đất bồi tụ mà thành với những vùng đất cao, những triền đồi, núi rất dốc khác nhau
về đặc điểm thổ nhưỡng, thảm thực vật, nguồn nước và độ ẩm được khai thác, sử
dụng bởi nhiều tộc người khác nhau. Vì vậy, quá trình sử dụng đất nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng ở miền núi cũng có sự khác biệt với miền xuôi, thể hiện qua
chủng loại cây trồng, cơ cấu mùa vụ và năng suất cây trồng rồi đến thu nhập của hộ
nông dân.
- Khí hậu, thời tiết: Là các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân,
sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự
phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh,...
lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất,
cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc,
thuỷ sản.
Yếu tố Kinh tế - Xã hội
Yếu tố kinh tế - xã hội bao gồm rất nhiều yếu tố như chế độ xã hội, dân số,
cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách, trình độ dân trí, cơ cấu kinh tế, điều kiện phát
triển công nghiệp, nông nghiệp thương mại, giao thông vận tải, sự phát triển của


10


khoa học kỹ thuật... Các điều kiện này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử
dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói riêng. Cách thức sử dụng đất
nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng
thời kỳ nhất định. Sau đây là một số yếu tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp: Trong các yếu tố cơ sở hạ
tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần
vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản
xuất. Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp
đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng. Trong đó thuỷ lợi và điện là
yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất
theo bề rộng và bề sâu. Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp
đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
- Kỹ thuật, khoa học công nghệ: Bản chất của kỹ thuật hay công nghệ áp
dụng vào nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất đất đai và hiệu quả kinh
tế. Như chúng ta đã biết, đổi mới công nghệ trong nông nghiệp có thể hướng vào
việc tiết kiệm các nguồn lực, phát triển các công nghệ đòi hỏi mức đầu tư thấp, ít sử
dụng chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp, phát huy kiến thức cổ truyền của
nông dân và thực hiện mục tiêu đa dạng sinh học. Hiệu quả sử dụng các nguồn lực
trong nông nghiệp nói chung và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói riêng phụ
thuộc nhiều vào công nghệ áp dụng trong sản xuất. Có khi cùng chủng loại và số
lượng đầu vào nhưng đổi mới cách thức, kỹ năng sử dụng cũng có thể dẫn đến sự
thay đổi lớn trong kết quả cũng như hiệu quả kinh tế. Biện pháp kỹ thuật canh tác
cũng có ảnh hưởng lớn hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Biện pháp kỹ thuật canh
tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự
hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bổ và tích lũy
năng suất kinh tế.

- Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư,
chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích
đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo có vai trò quan trọng trong phát triển nông
nghiệp và sản xuất nông nghiệp, cách thức tổ chức, sắp xếp, cơ cấu sản xuất nông
nghiệp. Mỗi một sự thay đổi của chính sách, pháp luật thường tạo ra sự thay đổi lớn.

11


Sự thay đổi đó có thể thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển hoặc giới hạn, hạn
chế một khuynh hướng phát triển nhằm mục đích can thiệp và phát triển theo định
hướng của nhà nước.
- Điều kiện sản xuất của nông dân: Là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến quá
trình sử dụng đất, thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất
của chủ thể sử dụng đất về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất,
kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định
trong sản xuất. Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình
độ và cập nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng.
Bên cạnh đó, diện tích đất, số lượng lao động, lượng vốn mà hộ nông dân có
để phục vụ sản xuất nông nghiệp... cũng là những biến số quan trọng trong nhân tố
này.
Tóm lại, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, khuynh hướng quan tâm hóa
đến mức lợi ích kinh tế luôn luôn chi phối quá trình sử dụng đất nông nghiệp và
hiệu quả của quá trình này. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân chủ quan hay khách
quan đất đai nhìn chung đang bị khai thác một cách không hợp lý, cụ thể là khai
thác quá mức - vượt quá khả năng mang tải của đất, làm cho đất nông nghiệp bị
giảm sút về số lượng và suy thoái về chất lượng. Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật
tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự

nhiên, kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp. Cần căn cứ vào các nhu
cầu của thị trường, của xã hội để xác định hướng sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp
chặt chẽ giữa yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai nhằm đạt đến cơ
cấu hợp lý nhất với diện tích đất nông nghiệp có hạn, mang lại hiệu quả kinh tế,
hiệu quả xã hội cũng như hiệu quả về môi trường, đồng thời nên có chính sách phù
hợp nhằm cải thiện chất lượng đất nông nghiệp.
1.1.5. Quản lý tài nguyên đất nông nghiệp
Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước,
được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và hành vi
hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp
luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý nhà nước thực
chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy
nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ chức năng

12


của Chính phủ là hệ thống cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động
quản lý nhà nước.
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất
đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại
quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử
dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Muốn đạt được mục tiêu quản lý, Nhà nước cần phải xây dựng hệ thống cơ
quan quản lý đất đai có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng để thực thi có hiệu quả trách
nhiệm được Nhà nước phân công, đồng thời ban hành các chính sách, chế độ, thể
chế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước đáp ứng được nội dung quản

lý Nhà nước về đất đai. Điều này thể hiện chức năng của Nhà nước XHCN là quản
lý mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội trong đó có quản lý đất đai. Mục đích cuối cùng
của Nhà nước và người sử dụng đất là làm sao khai thác tốt nhất tiềm năng của đất
đai để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, đất đai cần
phải được thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật.
Luật Đất đai năm 2013 đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý
Nhà nước về đất đai ở Việt Nam. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật
này được quy định tại Điều 22, bao gồm [14]:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và
bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng
giá đất.
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất.
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

13


- Thống kê, kiểm kê đất đai.
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định

của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai.
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Mục đích, yêu cầu của quản lý nhà nước về đất đai
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích:
- Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất.
- Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia.
- Tăng cường hiệu quả sử dụng đất.
- Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường.
Yêu cầu của công tác quản lý đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ
theo đúng quy định của pháp luật về đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành
chính.
Nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất đai
- Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy,
không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung
thành tài sản riêng của mình. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp
cho toàn dân mới mới có toàn quyền trong việc quyết định tính chất pháp lý của đất
đai. Vấn đề này được quy định tại Điều 4, Luật Đất đai năm 2013 “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”.
- Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng
đất đai, giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng
Từ khi Hiến pháp năm 1980 ra đời, quyền sở hữu đất đai thuộc về Nhà nước,
còn quyền sử dụng đất đai vừa nằm trong Nhà nước, vừa nằm trong từng chủ thể sử

14



dụng. Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện quyền sử dụng đất đai
thông qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng… từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất
đai. Vì vậy, để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể
trực tiếp sử dụng và quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo
cho người trực tiếp sử dụng vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Vấn đề này được
quy định tại Điều 5, Luật Đất đai năm 2013 “Người sử dụng đất được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng
đất theo quy định của Luật này”.
- Tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý
đất đai được thể hiện bằng việc:
+ Xây dựng tốt các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tính khả
thi cao.
+ Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất.
Có như vậy, quản lý nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất đai nhất mà vẫn đạt được mục
đích đề ra.
1.1.6. Sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp
Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có nghĩa là
toàn bộ diện tích đất cần được sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố trí cơ cấu cây
trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm nâng cao năng suất cây
trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả của
việc sử dụng đầy đủ, hợp lý đất đai, việc xác định hiệu quả sử dụng đất thông qua
tính toán hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau: năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số
sử dụng đất, giá cả sản phẩm, tỷ lệ che phủ đất… Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng

đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách kinh tế - xã hội
trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu.
- Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững. Sự bền
vững trong sử dụng đất nông nghiệp có ý nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất

15


nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của
thế hệ hiện tại và còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ
mai sau. Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi
trường. Vì vậy cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài
hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài.
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản
xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và
hết sức quan trọng với mỗi quốc gia.
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người
- đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Quy luật
phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như
hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát
huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất.
Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi
phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời
sống căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân tố cơ bản của
sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các
khía cạnh sau:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa
học kỹ thuật, đất đai, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hóa

cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu.
- Áp dụng phương thức sản xuất nông lâm kết hợp, lựa chọn các loại hình sử
dụng đất thích hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn, thâm canh sản xuất bền
vững.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp trên cơ sở thực tiễn đa
dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh
thái và bảo vệ môi trường.
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa
của nền kinh tế quốc dân.
- Phát triển nông nghiệp toàn diện gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo, giữ
gìn ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của

16


các dân tộc, không ngừng nâng cao vai trò nguồn lực con người.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào
sản xuất.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương phải gắn liền
với định hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước.
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc sử dụng đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan. Vì vậy, đánh giá hiệu
quả sử dụng đất phải xem xét đến mức độ tác động của những yếu tố đó trên quan
điểm hệ thống với các yêu cầu tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang
lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ môi trường. Điều đó có nghĩa là đánh giá hiệu quả
sử dụng đất phải được xem xét trên 3 khía cạnh: Kinh tế, xã hội và môi trường.
Hiệu quả kinh tế
Cho đến nay, chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về "hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp".

Theo C. Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy
luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau.
Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyrer, Simmerman 1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn
vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm phúc lợi xã hội.
Như vậy, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng
kết quả đạt được với lượng chi phí bỏ ra trong các hoạt động sản xuất. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá
trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt
đối với tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Nội dung xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
- Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất, chi
phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai.
- Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): Trước hết hiệu quả kinh tế
là các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp với
mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi được
trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá

17


trị gia tăng, lợi nhuận.
Từ những vấn đề trên cho thấy, bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là
trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều
nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng
yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chính
là thể hiện mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại.

Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác
định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Giá trị ngày công cũng được xem là yếu tố để đánh giá hiệu quả xã hội, nó
phản ánh mức sống của nông dân trong mối quan hệ với sản xuất.
Biểu hiện của hiệu quả xã hội:
- Thứ nhất là mức độ thu hút lao động và giải quyết công ăn việc làm cho
người dân với mức thu nhập có thể chấp nhận được.
- Thứ hai, trình độ dân trí của người dân, mức độ nhận thức và tiếp thu khoa
học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm.
- Thứ ba, sự phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đáp ứng các
nhu cầu khác của người dân.
- Thứ tư, đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, an ninh lương thực
và khả năng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hiệu quả môi trường
Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi mà hoạt động đó không
có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như: Đất, nước, không khí và hệ sinh
học; là hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra không làm cho
môi trường xấu đi, mà ngược lại quá trình sản xuất đó còn làm cho môi trường
xanh, sạch, đẹp hơn trước.
Xét hiệu quả môi trường trong sử dụng đất, đó là đảm bảo chất lượng đất
không bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác. Bên cạnh đó
còn có các yếu tố như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan hệ giữa các hệ thống
phụ trợ trong sản xuất nông nghiệp như: Chế độ thủy văn, bảo quản chế biến, tiêu
thụ hàng hóa...

18



×