Tải bản đầy đủ (.doc) (7 trang)

Ký Việt Nam từ đầu thế kỉ đến 1945

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.83 KB, 7 trang )

Ký Việt Nam từ đầu thế kỷ đến 1945
PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn
Viện Văn học
Khác với truyện ngắn và tiểu thuyết vốn có sự ổn định tương đối về đặc trưng thể loại, các
tác phẩm ký tuy cùng nằm trong loại hình văn xuôi tự sự song lại là tên gọi chung cho một
nhóm thể tài có tính giao thoa giữa báo chí (chính luận, điều tra, ghi chép tư liệu, tường thuật
sự kiện...) với văn học, in đậm dấu ấn “sự hợp nhất truyện và khảo cứu” (M. Gorki) và thường
có tính xã hội, tính thời sự sâu sắc, bao gồm nhiều tiểu loại thể văn như bút ký, ký sự, phóng
sự, tiểu thuyết phóng sự, du ký, hồi ký, nhật ký, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu luận (et-xe)
(1)
...
Đặc điểm sự giao thoa này càng trở nên rõ ràng khi mà bản thân thể tài ký còn đang trong quá
trình hình thành và phát triển, khi mà ngay đường biên thể loại giữa truyện ngắn và ghi chép,
giữa tiểu thuyết và phóng sự đôi khi cũng chưa được phân định rõ nét. Đây cũng là đặc điểm
chung của văn học Việt Nam ở giai đoạn bước đầu hiện đại hoá, đang từng bước hội nhập vào
nền văn học có tính chất toàn nhân loại.

*

Trên thực tế nền văn học dân tộc thời trung đại, nhất là ở giai đoạn hậu kỳ, cũng đã xuất hiện
nhiều tác phẩm ký xuất sắc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1720-1791), Tây hành
nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương
Vĩnh Ký (1837-1898)... Bước sang thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vượt bậc của chữ Quốc
ngữ và việc ra đời các loại báo, tạp chí, các nhà xuất bản khắp trong cả nước thì thể tài ký
cũng xuất hiện và mau chóng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn học. Ở đây trước hết
phải ghi nhận những sáng tác có ý nghĩa đặt nền móng của Tản Đà (1889-1939) - người đã có
công “khai sinh cho nhiều thể văn trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ” - đặc biệt cũng
chính ông là người đã đề xuất và tự mình khai bút cho mục “Việt Nam nhị thập kỷ - Xã hội ba
đào ký” trên An Nam tạp chí (không đều kỳ, 1926-1933). Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã sớm
xác định vị trí thể văn bút ký của Tản Đà: "Nếu kể Việt văn thì trong khoảng mấy năm 1915,
1916, 1917, Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận có tính cách bút ký, vì ông đã căn


cứ vào cuộc đời để phát biểu tư tưởng của mình. Chắc nhiều người còn nhớ những bài: Luận
về ăn ngon, Thằng người ngây cưỡi con ngựa hay và nhiều bài khác nữa trong Đông Dương
tạp chí của thi sĩ Tản Đà”
(2)
.

Gắn liền với sự phát triển của báo chí trong vài ba thập niên đầu, tạp chí Nam phong (1917-
1934) đã đi tiên phong trong việc in các tác phẩm ký, nhất là loại du ký - du hành, ghi chép và
tuỳ bút. Bên cạnh phần trọng tâm là các trang khảo cứu, biên dịch, bình luận các vấn đề chính
trị - xã hội - văn hoá là nhiều mục bài ghi chép, du ký - du hành với những đóng góp đa dạng
của Phạm Quỳnh, Thiện Đình, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Tiến Lãng, Đông Hồ, Mộng
Tuyết... Khi thực hiện công trình Mục lục phân tích Tạp chí Nam phong, 1917-1934, nhà thư
mục học Nguyễn Khắc Xuyên xác định du ký là một trong 14 bộ môn và nêu nhận xét về thể du
ký - còn được ông gọi là du hành - trên Tạp chí Nam phong: “Trong mục Du ký này, phải kể bài
Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn Tiến Lãng, Mười ngày ở
Huế, Một tháng ở Nam kỳ, và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”
(3)
...

*

Bước sang thập kỷ ba mươi, thể tài ký Việt Nam có bước phát triển vượt bậc cả về lượng và
chất. Có thể nói cùng với sự trưởng thành mau chóng của ngành xuất bản, báo chí cộng
hưởng với tinh thần cởi mở, dân chủ hoá một bước đời sống tư tưởng xã hội đã góp phần
quan trọng tạo nên bước ngoặt của hoạt động văn học nghệ thuật. Trong bối cảnh chung ấy,
tất cả các loại hình và thể loại văn học như thơ ca, văn xuôi, kịch, dịch thuật, biên khảo... đều
thu được thành tựu lớn lao. Nói riêng ở thể tài ký cũng nở rộ các thể văn như phóng sự, bút ký,
tản văn, hồi ký, du ký,... từ đó tạo nên diện mạo chủ yếu của lịch sử thể tài ký Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX.


Phù hợp với tiến trình văn học sử 1930-1945 nói chung, sự phát triển của thể ký giai đoạn này
cũng có thể chia thành hai chặng đường lớn: 1930-1939 và 1940-1945.

Ở chặng đường nằm trọn trong thập kỷ ba mươi, thể loại ký về cơ bản đã định hình phong
cách nghệ thuật với các thể văn như phóng sự, hồi ký, nhật ký, bút ký, ghi chép, du ký... Đặt
trong dòng mạch phát triển chung, việc xuất hiện phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang (Hà thành
ngọ báo, 1932; Trung Bắc xuất bản, 1935) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, tác phẩm
vừa xác lập dòng chủ lưu của thể ký, nghĩa là chính thức đưa thể văn phóng sự lên ngôi, đồng
thời mở đầu cho một kiểu loại văn học mới. Trong quá trình phát triển thể loại văn học còn
chưa rõ ràng, song vẫn có thể định danh được các tác gia viết ký tiêu biểu của thời kỳ này là
Tam Lang (Vũ Đình Chí), Trọng Lang (Trần Tán Cửu), Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn
Tuân, Phùng Tất Đắc, Lê Văn Hiến, v.v...

Như đã nói trên, Tam Lang là nhà văn giữ vị trí chiếu nhất trong làng phóng sự Việt Nam hiện
đại. Có thể khẳng định tất cả các tác phẩm của ông như Tôi kéo xe (1932), Đêm Sông Hương
(viết 1932, in sách 1938), Lọng cụt cán (1939), Người... ngợm (1940) đều sớm đạt đến giá trị
nghệ thuật chuẩn mực, cổ điển. Qua các phóng sự này, Tam Lang đã nhập thân sâu sắc vào
cuộc sống hàng ngày của người phu xe (Tôi kéo xe), kiếp sống long đong của gái làm tiền nơi
sông nước (Đêm Sông Hương) và tiếng nói châm biếm sâu cay bọn quan lại, nghị gật (Lọng
cụt cán)... Trên phương diện tư duy sáng tạo, vai trò chủ thể giữ ngôi thứ nhất, vừa là người
trải nghiệm trong cuộc, chứng kiến chuyện “người thực, việc thực” vừa là nhân vật thuật
chuyện, kể chuyện, trình bày rõ những điều tai nghe mắt thấy. Từ năm 1942, nhà phê bình Vũ
Ngọc Phan đã nhận định: “Dù ở tác phẩm nào của Tam Lang, người ta cũng thấy cây bút của
ông là cây bút tả chân và châm biếm; ông nhạo đời để răn đời, chứ không bao giờ có giọng
độc ác. Bởi vậy, nếu xét kỹ, người ta sẽ thấy trong những tập phóng sự và những tập châm
biếm, trào phúng trên này những tư tưởng thật là bác ái, bao giờ cũng có cái khuynh hướng
bênh vực hạng người nghèo khổ, kém hèn, mà bênh vực vì lẽ phải, vì nhân đạo, chứ không
xen lẫn một ý nghĩ chính trị nào”
(4)
. Đến cuối thế kỷ, nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh sau khi

khảo sát các phương diện nội dung và nghệ thuật tác phẩm cũng khẳng định: “Với quyển Tôi
kéo xe, đã có thể coi ông là người có công mở đầu cho thể văn phóng sự ở nước ta. Hơn thế,
ông còn là một trong số hiếm hoi những người có tài năng, có cống hiến đặc sắc, độc đáo vào
thể văn châm biếm, trào phúng trong văn chương Việt Nam những năm ba mươi của thế kỷ XX
này”
(5)
.

Nối tiếp là Vũ Trọng Phụng - nhà văn được bậc khai quốc thể phóng sự hiện đại Tam Lang ghi
nhận là đã vượt lên và tiến xa trên nhiều phương diện. Điều đáng nói là phóng sự sáng tác của
Vũ Trọng Phụng nói chung đều nằm trọn vẹn trong thập kỷ ba mươi với các nhan sách nổi
tiếng như Cạm bẫy người (1933), Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy, cơm cô, Lục xì (1937),
Một huyện ăn tết (1938)... Các phóng sự của Vũ Trọng Phụng thể hiện rõ sự đa dạng về đề tài,
về khả năng phân tích sự kiện và tâm lý nhân vật, về tầm bao quát nội dung xã hội cũng như
nghệ thuật dẫn truyện. Vũ Trọng Phụng đi sâu phát hiện vấn đề, miêu tả sâu sắc nhiều trạng
huống xã hội mới nảy sinh như nạn cờ bạc đã được nâng thành kỳ nghệ (Cạm bẫy người),
nghề me Tây mới phất (Kỹ nghệ lấy Tây), cuộc sống đời thường muôn mặt của những con sen
đứa ở (Cơm thầy cơm cô), thế giới đầy nhọc nhằn của bọn gái làm tiền (Lục xì) và đủ lối làm
tiền tham lam trắng trợn của tầng lớp quan lại chốn hương thôn (Một huyện ăn tết)... Ngay từ
đương thời, nhà phê bình Trương Tửu đã phân tích sâu sắc những giá trị tư tưởng và nghệ
thuật mang đầy tính nghịch lý trong mạch văn phóng sự của họ Vũ: "Ông làm phóng sự về con
bạc, làm phóng sự về đầy tớ, làm phóng sự về gái điếm, làm phóng sự về me tây. Ông viết ra
bốn quyển kiệt tác: Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Kỹ nghệ lấy Tây - nền móng đầu
tiên của nghệ thuật phóng sự trong văn giới Việt Nam hiện đại. Viết bốn quyển ấy, ông muốn
lột trần cái hạ đẳng của xã hội. Trong các trang giấy đó, không có sự khinh bỉ, không có lòng
thương hại, không có ác ý mỉa mai. Ngòi bút ông thật là khách quan và vô tư. Ông sợ cái đời
hạ đẳng ấy. Cái sợ này rất chính đáng. Ông đã thừa biết bọn người khốn nạn kia không bao
giờ chờ được ở xã hội một cứu tế thiết thực. Đó là hạng người muốn tiêu trừ hơn là cứu vớt.
Rơi xuống cái đẳng cấp ấy tức là trầm luân mãn kiếp và bị diệt vong... không để lại tiếng vang
nào"

(6)
. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung xác định vị trí văn học sử của bộ phận phóng
sự: “Vũ Trọng Phụng chỉ nổi tiếng từ những phóng sự Cạm bẫy người và Kỹ nghệ lấy Tây. Là
một trong hai người viết phóng sự đầu tiên, Vũ Trọng Phụng đã có công lớn trong việc nhanh
chóng đưa thể loại văn xuôi này đến chỗ thành thục, có vị trí vững vàng trong văn xuôi quốc
ngữ... Ông là một trong số những người mở đầu và là người có công lớn nhất trong việc đưa
thể loại phóng sự ở Việt Nam đến thành thục”
(7)
. Qua thời gian dài, việc đánh giá về Vũ Trọng
Phụng ngày càng khách quan, sâu sắc và toàn diện hơn, ngày càng nhận thức khoa học hơn
những đóng góp xuất sắc của dòng văn phóng sự đối với sự phát triển chung của nền văn học
hiện đại.

Tác giả Trọng Lang cũng là cây bút viết phóng sự sớm và chuyên nhất với thể văn này trong
một thời gian dài. Các tác phẩm chính của Trọng Lang có Trong làng chạy, Đời bí mật của sư,
vãi, Gà chọi (1935), Đồng bóng (1935-1936), Hà Nội lầm than (1937), Làm dân (1938), Làm
tiền (1939); và sau này còn có thêm Thầy “lang”, Vợ lẽ nàng hầu, Những đứa trẻ (1941-1944)...
Các phóng sự, ghi chép của Trọng Lang in khá rõ phong cách điều tra, kể chuyện, khai thác tư
liệu thực tế. Nhà văn đã mở rộng diện đề tài, bao quát cả những khía cạnh đời sống tinh thần,
phong tục tập quán và thực trạng những lối sống mới đang nảy sinh. Ở đây có cả thế giới
muôn màu vẻ của bọn trộm cắp (Trong làng chạy), đời sống nhếch nhác cùng cực nơi thị thành
(Hà Nội lầm than, Làm tiền) và muôn mặt những tệ nạn sau luỹ tre làng (Làm dân, Xôi thịt)...
Nhiều trang viết thực sự sinh động, phô bày được những góc khuất tối của bọn người trộm
cắp, đồng cốt, gái làm tiền, tệ nạn thuốc phiện... Không chỉ phản ánh và bộc lộ thái độ trước
các vấn đề xã hội mà Trọng Lang còn tỏ bày khuynh hướng tư tưởng, chỉ ra những nỗi cơ cực,
đau xót của lớp người “làm dân” dưới đáy xã hội. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan từng khái quát ý
nghĩa sáng tác của Trọng Lang: “Trong số các nhà văn viết phóng sự gần đây, Trọng Lang có
óc phê bình hơn cả. Văn ông đanh thép và sắc cạnh, chuyên về tả cảnh nhiều hơn tả tình...
Muốn hiểu tâm hồn những hạng dân quê đã bị “lây” ít nhiều thói tỉnh thành, phải đọc những
phóng sự của Trọng Lang; nhưng muốn hiểu tâm hồn những người dân quê còn đặc quê mùa,

cần phải đọc những tập phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của Ngô Tất Tố”
(8)
.

Ngô Tất Tố viết khá nhiều phóng sự, ghi chép, tiểu phẩm báo chí. Ông là nhà phóng sự xuất
sắc viết về đề tài nông dân và làng cảnh thôn quê trước Cách mạng, đặc biệt với các tác phẩm
Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940) - trước đó còn có tập Dao cầu thuyền tán và nhiều tiểu
phẩm văn học khác. Là người có vốn văn hoá sâu rộng và thông thuộc nhiều mặt đời sống dân
quê, Ngô Tất Tố đã phản ánh được bức tranh xã hội rộng lớn, bao gồm từ phong tục tập quán
đến cuộc sống thường ngày, từ nỗi khổ cùng cực của người dân đen đến muôn mặt tệ lậu đám
chức dịch. Ngô Tất Tố xứng đáng được coi là nhà xã hội học nghệ thuật ngôn từ xuất sắc bậc
nhất về nông thôn Việt Nam trước Cách mạng. Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: “Trong
hai phóng sự Tập án cái đình và Việc làng, Ngô Tất Tố tìm cách phơi trần những sự thật xấu xa
về các hủ tục ở nông thôn, xem đó là một cái gì vô lý “quái gở”, “mọi rợ”... Việc làng đã góp
phần lên án chính sách ngu dân thâm độc của đế quốc Pháp ở thuộc địa, đã tố cáo những thủ
đoạn bóc lột của bọn cường hào lý dịch ở nông thôn và là một đòn đánh rất mạnh và trực tiếp
vào chủ nghĩa phục cổ”
(9)
. Về tiểu phẩm báo chí, Ngô Tất Tố (với các bút danh Thục Điểu, Đạm
Hiên, Thuyết Hải, Thôn Dân, Tuệ Nhỡn, Hy Cừ, Phó Chi, Xuân Trào, Lộc Hà...) có nhiều trang
viết sắc sảo, giàu tính chiến đấu, giàu ý thức dân tộc...

Mặc dù trong ký còn có sự giao thoa giữa các “thể” và “tiểu loại”, song Vũ Ngọc Phan đã định
danh những người viết bút ký tiêu biểu của thời kỳ này: “Lối văn này không mới, nhưng nhiều
người vẫn cho là mới đối với những loại văn sản xuất gần đây. Nếu kể Việt văn thì trong
khoảng mấy năm 1915, 1916, 1917, Nguyễn Khắc Hiếu đã viết nhiều bài phiếm luận có tính
cách bút ký, vì ông đã căn cứ vào cuộc đời đã phát biểu tư tưởng của mình... Gần đây, những
nhà văn viết bút ký cứng cáp hơn cả là Nguyễn Tuân và Phùng Tất Đắc”
(10)
... Với Nguyễn Tuân,

tác phẩm của ông có khi được gọi là du ký như Một chuyến đi (in báo 1938, in sách 1941), có
khi là phóng sự như Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) - trong khi Vũ Ngọc
Phan cho đó “chỉ là một thiên phóng sự về thuốc phiện, chia làm hai quyển, mà đáng lý phải
mang chung một nhan đề: “Ngọn đèn dầu lạc” - hoặc tuỳ bút như Chiếc lư đồng mắt cua
(1941). Các tác phẩm ký của Nguyễn Tuân có tính chất tiếp nối giữa hai thập kỷ ba mươi và
bốn mươi. Ngoài ra, tác phẩm của Nguyễn Tuân thể hiện rõ hơn hết cốt cách nhà văn và tính
chất hỗn dung giữa các thể văn. Vũ Ngọc Phan đã nhận xét đúng mức: “Ông là một nhà văn
đứng hẳn ra một phái riêng, cả về lối văn lẫn về tư tưởng... Những bài bút ký, những truyện
ngắn, truyện dài của ông (...) đã làm cho văn giới Việt Nam phải chú ý đến lối hành văn đặc biệt
của ông và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh
bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác hoạ, nhưng bao giờ nó
cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn”
(11)
... Với Phùng Tất Đắc, thực chất ông chỉ
viết một số tản văn, tạp văn trên các báo Đông Tây, Nhật tân và tập sách Trước đèn (1939).
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan xếp Trước đèn vào thể bút ký nhưng cũng gọi đây là tập “phiếm
luận”, “nói chơi”, “lời bàn phiếm”... Như vậy, các sáng tác của Nguyễn Tuân, Phùng Tất Đắc đã
bổ sung thêm dòng phong cách nhấn mạnh vai trò chủ thể, khả năng cảm luận, phiếm luận để
rồi sau này phát triển hoàn chỉnh thêm ở các tác phẩm tuỳ bút, bút ký.

Nói đến diện mạo lịch sử ký Việt Nam thời kỳ này cần phải ghi nhận vai trò của nhiều cây bút
đã viết ghi chép, phóng sự điều tra, nhật ký, hồi ký, du ký. Ở đây có những trang tường thuật
cuộc sống người nghệ sĩ như Trương Đình Thi với Tôi, kép kịch (1934), Trần Tiêu có phóng sự
điều tra Thanh niên thôn quê (1938). Về hồi ký có Lê Văn Hiến với Ngục Kontum (1938) đã kể
lại cuộc sống lao tù khắc nghiệt nhưng đầy quả cảm của những người cách mạng. Ngoài ra
còn có nhiều trang viết in báo ngắn gọn mang phong cách du ký (bao gồm đi thăm di tích lịch
sử, danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái, lễ hội, hội chợ...) của nhiều cây bút như Nhất Linh,
Việt Sinh (Thạch Lam), Lê Ta (Thế Lữ), Thạch Lam, Trọng Lang, Khái Hưng, Thanh Tịnh... Tất
cả những trang ghi chép này góp phần làm phong phú và tạo nên dòng chảy chung của thể ký
Việt Nam, tạo tiền đề cho cả một quá trình phát triển tiếp theo.


*

Nối tiếp thời kỳ phát triển cực thịnh trong suốt thập kỷ ba mươi, các tác phẩm ký Việt Nam từ
1940 đến Cách mạng tháng Tám 1945 có bước tiếp nối và sự chuyển hướng mới rất đáng chú
ý. Trước hết, các tác giả chủ lực như Trọng Lang, Ngô Tất Tố... vẫn tiếp tục có đóng góp; đồng
thời các cây bút mới tiếp tục xuất hiện và khẳng định với tên tuổi những Nguyễn Đình Lạp,
Thạch Lam, Vũ Bằng... Nhìn chung, các tác phẩm ký một mặt vẫn tiếp tục khai thác hiện thực
đời sống muôn màu muôn vẻ dưới chế độ thực dân nửa phong kiến; mặt khác đã quan tâm
nhiều hơn đến các vấn đề dân tộc, từng bước ý thức sâu sắc hơn về tính dân tộc và ý thức về
yêu cầu giải phóng dân tộc đang ngày càng trở nên rõ nét hơn. Theo nhà phê bình Lê Thanh
thì những năm 1940-41 là “một đoạn đường quành rõ rệt, ít nhất là đoạn đầu của một đường
quành”, “Từ năm 1939 cuộc thế giới chiến tranh mở đầu. Tiếng súng nổ, nhà văn ta đương
nhiên miên man trong cuộc sống trụy lạc nhổm dậy trông thấy cái nguy cơ của sự lười biếng
của mình... Họ đứng dậy rũ áo tìm cách đoạn tuyệt với cái quá khứ nặng nề của họ. Bây giờ là
thời đại của lịch sử, của sự sống còn, của sự chiến đấu. Họ dự bị bắt tay vào việc”
(12)
. Gần đây,
nhận xét về tình hình văn học thời kỳ này, Giáo sư Hoàng Như Mai nhấn mạnh: “Những năm
đầu của thập niên bốn mươi dẫn đến Cách mạng tháng Tám 1945 chứng kiến một sự chuyển
biến, chuyển hướng trong tư tưởng nghệ thuật của các nhà văn tiêu biểu. Một sự đổi hướng
tích cực... Những năm 1940-1945 là cái gạch nối giữa hai chặng đường văn học, là cái đường
băng cho văn học dân tộc khởi động, chuyển bánh, lấy đà, cất cánh bay vút lên cao”
(13)
. Đó
cũng là âm hưởng chung của đời sống tinh thần xã hội, đời sống văn hoá- văn nghệ và ý thức
dân tộc của số đông các nhà văn: “Họ thấy sứ mệnh mình đối với quốc gia, ra sức hô hào cho
việc làm lại xã hội, tự cường xây dựng quốc gia. Luồng gió phục hưng dân tộc đã thổi mạnh
vào tư tưởng xã hội”
(14)

...

Xét trên phương diện tác gia và tác phẩm, các cây bút ký xuất sắc như Trọng Lang, Ngô Tất Tố
tiếp tục có đóng góp mới. Vào thời gian này, Trọng Lang cho in các phóng sự đã in báo trước
đây thành sách như Làm tiền (1942), Làm dân (1943), viết tiếp Thầy lang (in báo 1941, in sách
1944), đồng thời với các phóng sự mới viết về đời sống gia đình như Vợ lẽ nàng hầu (viết
1943, in 1950), Những đứa trẻ (viết 1944-1945, in 1950). Trong khi đó nhà văn Ngô Tất Tố tiếp
tục khai thác đề tài tệ nạn chốn hương thôn với tập phóng sự Việc làng (in báo 1940, in sách
1941)... Ngoài ra, ở thời điểm đêm trước của cuộc Cách mạng tháng Tám vẫn xuất hiện thêm
một số cây bút có vị trí quan trọng trong làng văn làng báo như Nguyễn Đình Lạp, Thạch Lam,
Lộng Chương, Vũ Bằng, Nhật Nham Trịnh Như Tấu, Mãn Khánh Dương Kỵ, Biệt Lam Trần
Huy Bá...

Xem xét trên phương diện thể tài nghệ thuật có thể thấy hình thức tiểu thuyết phóng sự đã lên
ngôi và giữ một vị trí khá đặc biệt. Với các tác phẩm được định danh là “tiểu thuyết phóng sự”
quả đã có sự hỗn dung thể loại, hỗn dung phong cách khiến cho một sự phân chia thể loại theo
lối khoa học, rành mạch trở nên hết sức khó khăn. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu
được chính các tác giả duy danh là “tiểu thuyết phóng sự” hoặc “phóng sự tiểu thuyết” như Lều
chõng (Ngô Tất Tố, 1941), Ngoại ô (Nguyễn Đình Lạp, 1941), Hầu thánh (Lộng Chương, 1942),
Ngõ hẻm (Nguyễn Đình Lạp, 1943)... Nói riêng với tác phẩm Bút nghiên (Chu Thiên, 1942), tuy
tác giả đề rõ là tiểu thuyết, song Vũ Ngọc Phan đã xác định: “Tập Bút nghiên của ông tuy đề là
tiểu thuyết trơn, nhưng có thể coi như một tập ký sự về cái lối đi học thi của ông cha chúng ta
thuở xưa, hay đặt nó vào loại tiểu thuyết phóng sự cũng được”
(15)
. Hầu hết tiểu thuyết của Vũ
Trọng Phụng như Giông tố, Vỡ đê cũng in rõ dấu ấn chất phóng sự với những mức độ đậm
nhạt khác nhau. Điều này có nghĩa là nhiều tác phẩm in đậm tính chất giao thoa thể loại, trong
phóng sự đã có nhiều phần nghệ thuật được nâng cấp gần với tiểu thuyết và trong hình thức
tiểu thuyết vẫn in đậm phong cách ghi chép phóng sự. Những tác phẩm phóng sự xuất sắc
được coi là tương đối thuần nhất về mặt thể loại có thể kể đến Hà Nội băm sáu phố phường

(Thạch Lam, 1943) và Cai (Vũ Bằng, 1944)... Về mặt nội dung, các tập Lều chõng và Bút
nghiên đều hướng tới đề tài khoa cử, thể hiện muôn mặt đời sống học đường dưới thời quân
chủ Nho giáo đã một đi không trở lại. Hai tập tiểu thuyết phóng sự Ngoại ô và Ngõ hẻm thì
cùng đề cập đến cuộc sống người dân nghèo thành thị và cùng có một bút pháp thống nhất.
Với tập Ngoại ô, Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Như tác giả đã cho in ngoài bìa, Ngoại ô là một tập
phóng sự tiểu thuyết. Nhưng phóng sự tiểu thuyết là thế nào? Là một tiểu thuyết mà tác giả
muốn thuật lại những việc có thực, những việc có thể làm đầu đề cho những thiên phóng sự và
chỉ có rất ít tưởng tượng... Ngoại ô chỉ là một tập tiểu thuyết tả thực, một tập tiểu thuyết tả
chân, vì nó có rất nhiều tưởng tượng. Ở lối tả chân, nhà tiểu thuyết có thể dùng rất nhiều
tưởng tượng, miễn là chỉ căn cứ vào sự thực, vào những điều mắt thấy tai nghe là đủ”
(16)
. Khi
đọc Ngõ hẻm, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng cảm nhận: “Cuốn Ngõ hẻm của ông Nguyễn
Đình Lạp đã phơi ra ánh sáng những mẩu đời vất vả, vật lộn, những cảnh gia đình vì nghèo
túng mà xẩy ra tai nạn, nhưng cũng không vì nghèo túng mà làm mất cái hạnh phúc gia đình...
Chính đọc xong cuốn Ngõ hẻm tôi đã có cảm tưởng ấy mỗi khi qua con đê Kim Liên, nhìn dòng
nước sông Tô và tôi lại nhớ đến những cảnh gia đình đã được mô tả một cách rành rọt dưới
ngòi bút linh động của ông Nguyễn Đình Lạp... Tôi xin vui lòng giới thiệu thiên tiểu thuyết phóng
sự có giá trị với ai ai là người hằng để tâm đến việc xã hội cứu tế”
(17)
. Như vậy, dù luận bình về
nội dung hay nghệ thuật thì người đọc đương thời vẫn nhận rõ màu sắc sự thật được tái hiện
trong tác phẩm, nghĩa là thấy rõ cả yếu tố tiểu thuyết và phương thức ghi chép người thực việc
thực của phóng sự. Còn lại tập tiểu thuyết phóng sự Hầu thánh tập trung kể về nạn mê tín dị
đoan, những trò đồng cốt, những kẻ sùng bái mù quáng và cả một bọn lợi dụng lòng tin người
đời để lừa lọc kiếm ăn... Nhìn chung, các tác phẩm được gọi là “tiểu thuyết phóng sự” nêu trên
đều tiềm tàng đặc điểm “già phóng sự, non tiểu thuyết”, nghĩa là đã gia tăng yếu tố tưởng
tượng, hư cấu, song vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của các chi tiết đời sống hiện thực,
người thực việc thực.


Đặt trong dòng chủ lưu các thể ký thời kỳ đêm trước Cách mạng tháng Tám còn có những tác
phẩm thực sự sáng giá là phóng sự Cai (Vũ Bằng, in báo 1940, in sách 1944), Nợ văn (Lãng
Tử Thúc Tề, 1941) và tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam, 1943). Thực tế tác
phẩm Cai cũng có thể gọi là tiểu thuyết phóng sự hoặc truyện ký mà không sai bao nhiêu.
Trong tác phẩm này có cả một cốt truyện tình yêu bi hài, có cả những trang miêu tả diễn biến
tâm lý sinh động về kẻ nghiện, có cả những ghi chép chi tiết về nạn thuốc phiện và đan xen
thêm cả hình thức ghi chép nhật ký. Trong chiều hướng chung nhất, có thể xem đây là thiên
phóng sự đặc sắc, phong phú bậc nhất viết về tệ nạn nghiện hút dưới thời thực dân phong
kiến. Phóng sự Nợ văn của Lãng Tử Thúc Tề đi sâu mô tả đời sống giới văn bút trong muôn
mặt đời thường ở đất báo Sài Gòn. Còn lại Hà Nội băm sáu phố phường là tập bút ký chủ yếu
tái hiện cuộc sống con người và quang cảnh phố phường Hà Nội ở những khía cạnh truyền
thống văn hoá dân tộc, vẻ hào hoa thanh lịch với những biển hàng, những phố đẹp, những hiệu

×