Tải bản đầy đủ (.doc) (145 trang)

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số cytokine ở bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.43 MB, 145 trang )

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm loét đại trực tràng chảy máu (VLĐTTCM) còn gọi là viêm loét đại
tràng (Ulcerative Colitis: UC) là tình trạng tổn thương ở đại tràng trong bệnh
cảnh chung của viêm ruột. Bệnh có tính chất tự miễn, nguyên nhân bệnh sinh
cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ và chưa có phương pháp điều trị hoàn
toàn đặc hiệu. Bệnh thường gặp ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng thời gian gần
đây đang có xu hướng tăng ở châu Á. Tổn thương gây loét và chảy máu đại
trực tràng, tổn thương lan tỏa lớp niêm mạc và dưới niêm mạc. Diễn biến
bệnh phức tạp, hay tái phát, khó điều trị và để lại nhiều biến chứng có thể dẫn
đến tử vong.
Các bằng chứng cho thấy các phản ứng miễn dịch toàn thân và tại chô
liên quan đến sự tiến triển của bệnh. Người ta cho rằng các phản ứng miễn
dịch bất thường chống lại các vi sinh vật trong ruột ở những người nhạy cảm
về mặt di truyền. Các phản ứng miễn dịch trong ruột đóng một vai trò quan
trọng trong sinh bệnh học có liên quan đến các phân tử cytokine và tế bào T
helper (Th1, Th2), các tập hợp con khác của tế bào T (Th17 và các tế bào T
điều hòa), có khả năng liên quan đến sự tiến triển của bệnh .
Một số công trình nghiên cứu về bệnh VLĐTTCM đã cho thấy vai trò
của các phản ứng miễn dịch rất quan trọng trong bệnh sinh của bệnh, liên
quan đến các cytokine và tế bào T helper và các tập hợp khác của tế bào T…
Kết quả của các nghiên cứu cho thấy có tăng nồng độ một số cytokine tiền
viêm trong huyết thanh, tăng phản ứng của các tế bào bạch cầu, tế bào nội mô
mạch máu và một số cytokine như TNF-α, IL-6 và IL-8, IL-13 có liên quan tới
mức độ bệnh. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến hoại tử và nhiễm trùng trong
bệnh VLĐTTCM thể nặng , . Trên cơ sở những hiểu biết đó, người ta đưa ra các
hướng điều trị thông qua các thử nghiệm lâm sàng sử dụng các thuốc sinh học


2



dựa trên cơ chế tác động của các cytokine tiền viêm và ức chế bạch cầu hạt bài
tiết một số yếu tố gây viêm và gây phá hủy tổ chức, ức chế bạch cầu bám dính,
ức chế các phân tử tham gia vào các phản ứng miễn dịch bước đầu thấy có khả
quan , , , , .
Như vậy, việc nghiên cứu vai trò của cytokine trong bệnh VLĐTTCM
đang là một xu hướng nghiên cứu của y học hiện nay và rất cần thiết. Qua
việc đánh giá vai trò của các cytokine trong cơ chế bệnh sinh có thể tìm ra
một hướng điều trị kháng viêm thông qua sự tác động trực tiếp các cytokine.
Trên thế giới, đã có một số công trình nghiên cứu về cytokine cho thấy
có sự thay đổi và liên quan đến mức độ bệnh. Nồng độ cytokine phụ thuộc
nhiều yếu tố trong đó mức độ bệnh rất quan trọng, nó gợi ý cho việc áp dụng
các phương pháp điều trị ức chế các yếu tố miễn dịch nhằm đạt hiệu quả cao
trong điều trị tại các Bệnh viện lớn có điều kiện với mục đích giảm các biến
chứng và tỷ lệ tử vong do bệnh gây ra. Vì vậy chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và một số cytokine ở
bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu” với hai mục tiêu sau:
1. Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ TNF-α, IL-1β, IL6, IL-8, IL-10 huyết thanh ở bệnh nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.
2. Xác định mối liên quan giữa nồng độ TNF-α, IL-1β, IL-6, IL-8, IL-10
huyết thanh với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và mức độ nặng ở bệnh
nhân viêm loét đại trực tràng chảy máu.


3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Dịch tễ học, đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm loét đại
trực tràng chảy máu
1.1.1. Dịch tễ học

1.1.1.1. Trên Thế giới
Tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM tăng theo thời gian, khác nhau tuỳ từng
vùng địa lý và thay đổi theo chủng tộc người. Bệnh phổ biến nhất ở Châu Âu,
Vương Quốc Anh và Bắc Mỹ. Tại Bắc Mỹ, số người mới mắc hàng năm
(Incidence rate) là từ 2,2-14,3/100.000 dân và số người đã mắc bệnh
VLĐTTCM trong cộng đồng (Prevalence rate) là từ 37-246/100.000 dân.
Châu Âu, tỷ lệ mới mắc là từ 1,5-20,3/100.000 dân. Tỷ lệ bệnh VLĐTTCM
đang tăng lên rất nhanh tại Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Singapore,
Bắc Ấn độ, và Mỹ La Tinh, những vùng mà trước đây cho rằng có tỷ lệ bệnh
thấp. Tỷ lệ bệnh VLĐTTCM tại Hong Kong tăng gấp sáu lần trong hai thập
kỷ qua . Bệnh phổ biến ở người da trắng hơn người da mầu. Người Do Thái
có tỷ lệ mắc bệnh gấp 3 tới 6 lần so với các chủng tộc khác.
Tại Mỹ, năm 1960 cứ 100.000 dân thì có 3 người mới mắc bệnh VLĐTT
chảy máu . Đến năm 1980 cứ 100.000 dân thì có 11 người mới mắc bệnh .
Hiện nay con số này đã tăng lên rất nhiều, cứ 100.000 dân thì có tới 100
người mắc bệnh và 20 người mới mắc bệnh hàng năm . Ở Bắc Âu, từ 1991 1993 tỷ lệ mới mắc là 11.8/100.000 dân .
Tại châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM được Evans lần đầu tiên nghiên
cứu tại Anh (1965) với tỷ lệ mắc bệnh là 6,5/100.000 dân , sau đó hàng năm
đều có số liệu cụ thể báo cáo của các nước về tỷ lệ mắc bệnh này được trình
bày ở một số năm gần đây như sau:


4

Bảng 1.1. Tỷ lệ mắc bệnh của các nghiên cứu ở châu Âu
Tác giả
Bernstein
Gearry
Loftus
Nerich

AbacarMahamat
Wilson
Lakatos

Năm công bố Khu vực
Năm nghiên cứu Tỷ lệ mắc
2006
Canada
1998 - 2000
9,9 - 19,2
2006
Newzealand
2004
7,6
2007
USA
1990 - 2000
8,8
2006
France
2000 - 2002
8,2
Corsica,
2007
2002 - 2003
9,5
France
2010
Australia
2007 - 2008

11,2
2011
Hungary
2002 - 2006
11,9

Các nghiên cứu ở châu Mỹ, tỷ lệ mắc mới VLĐTTCM ở bắc Mỹ là 10 12 trường hợp/ 100.000 người với tỷ lệ cao nhất xảy ra ở độ tuổi 15-25, xảy ra ở
nữ cao hơn so với nam giới với tỷ lệ mắc mới cao hơn ở các vùng phía Bắc so
với vùng phía Nam .
Ở châu Á, tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM là thấp hơn so với châu Âu và tỷ
lệ bệnh đang tăng lên rất nhanh tại Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Singapore,
Hong Kong, bắc Ấn độ những vùng mà trước đây cho rằng có tỷ lệ bệnh thấp.
Tại Hong Kong, tỷ lệ tăng gấp 6 lần trong hai thập kỷ qua . Điều này, cho thấy
tỷ lệ mắc bệnh tăng dần và khác nhau theo môi quốc gia, phụ thuộc vào chủng
tộc người và được minh hoạ trong bảng dưới đây:
Bảng 1.2. Tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM ở các quốc gia châu
Á - trích dẫn .
Khu vực
Nhật Bản

Hàn Quốc

Năm
1975

Tỷ lệ
5,5/100.000

1985


7,85/100.000

1991

18,2/100.000

2001
1997

57,1/100.000
7,57/100.000

2001

14,5/100.000


5

Yan - Mei Tan ghi nhận số bệnh nhân nhập viện tại Ấn Độ có tỷ lệ mắc
cao nhất là 17,9/100.000, tiếp đến là Trung Quốc với tỷ lệ 11,2/100.000.
Malaysia có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn là 3,7/100.000 .
Về lứa tuổi mắc bệnh, Soo Jung Park và CS cho thấy bệnh VLĐTTCM
ở các nước phương Tây có đặc điểm mắc bệnh liên quan đến mô hình phân bố
tuổi hai chiều (đỉnh điểm ở tuổi từ 20 - 39 và đỉnh điểm ở tuổi 50 - 79). Đối
với các nước châu Á tỷ lệ mắc bệnh chưa được xác định chính xác từ tập hợp
các nghiên cứu. Các tác giả cho rằng người châu Á có tính nhạy cảm về mặt
di truyền nên có thể phát bệnh VLĐTTCM trong lứa tuổi 20 - 39, tuy nhiên
đỉnh tuổi thứ hai mắc bệnh có thể nhỏ hơn so các nước ở phương Tây .
Về tỷ lệ giới tính mắc bệnh, các nghiên cứu ở châu Âu, bắc Mĩ và châu Á

trước kia cho thấy bệnh VLĐTTCM ở nam và nữ như nhau nhưng thời gian gần
đây cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm ưu thế (60%). Các nghiên cứu gần đây tại Hàn
Quốc, Nhật Bản cho thấy tỷ suất nam/nữ dao động từ 1,67:1 đến 2,9:1 và cũng
trong một nghiên cứu dựa vào quần thể gần đây từ khu vực Châu Á Thái Bình
Dương cho thấy tỷ lệ mắc bệnh VLĐTTCM của nam giới là vượt trội .
Bảng 1.3. Tỷ lệ giới tính và độ tuổi mắc bệnh ở một số nghiên cứu
Tác giả
Soo Jung Park và CS
Yasemin Ozin và CS
Mesut Yalin KILIÇ và CS
Gabriela Fonseca - Camarillo
XueLiang Jiang và CS
Satya vati Rana và CS
Daniel S. Pearl và CS
Elver Dolar
Biljana Radovanović-Dinić
Sadiqul Islam và CS
Mustafa Qureshi và CS
Ali Jabbar Eidan và CS

Tuổi
trung bình
44 ± 15,1
46,2 ± 14
41,5 ± 12
40,0 ± 2,0
40,7
45,6 ± 17,5
45,6 ± 1,6
39,0 ± 18,0

41,25
38,7 ± 11,8
41,0 ± 15,475

Tỷ lệ
nam/nữ
1,09
1,2

Tỷ lệ
nữ/nam

1,4
2,4
1,09

Tuổi
dao động
20-79
14-88
18-65
6-80

1,6
8,9
1,13

21-70

1,7


18-64
18-75

1,45
1:1


6

1.1.1.2. Tại Việt Nam
Trước đây, bệnh VLĐTTCM hiếm gặp nhưng gần đây bệnh có xu
hướng gia tăng. Hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào công bố có tính hệ
thống. Điều này, cho thấy việc nghiên cứu bệnh VLĐTTCM tại Việt Nam
chưa được quan tâm nhiều và vấn đề dịch tễ học về bệnh VLĐTTCM cần
phải được điều tra nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ hiện mắc trong những năm tới.
Về lứa tuổi mắc bệnh và giới tính, các nghiên cứu cho thấy bệnh
thường gặp ở lứa tuổi trẻ và tỷ lệ nam nữ là tương đương. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Thu Hiền gặp thấp nhất ở lứa tuổi 23 và cao nhất là 58 . Nguyễn
Văn Dũng là 32 - 74 tuổi )... Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu ghi nhận nữ mắc
bệnh chiếm ưu thế hơn nam ). Kết quả nghiên cứu về tuổi và giới của một số
nghiên cứu bệnh VLĐTTCM được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.4. Tỷ lệ tuổi và giới mắc bệnh qua một số nghiên cứu

Khúc Đình Minh
Nguyễn Thị Thu Hiền
Vũ Văn Khiên và CS
Lê Thị Kim Liên
Phạm Văn Dũng
Mai Đình Minh


Năm
công bố

Năm nghiên
cứu

Tuổi trung
bình

Tỷ lệ
nam/nữ

2006
2009
2011
2015
2015
2017

2003-2006
2008
2005-2010
2013-2014
2014-2015
2014-2016

47±15
42,9 ± 9,1
46,3± 15,6

42,9±10,6
51,2± 12,4
49 ± 14,6

2,08
1:1
1,19
1/1,29
1/1,2

1.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm loét đại
trực tràng chảy máu
1.2.1. Đặc điểm lâm sàng
Viêm loét đại trực tràng chảy máu là một bệnh mạn tính được đặc trưng
bởi tình trạng viêm lan tỏa niêm mạc đại tràng và luôn liên quan đến trực
tràng (tức là viêm trực tràng) và nó có thể viêm mở rộng đến đại tràng sigma,
đại tràng xuống (tức viêm đại tràng bên trái) hoặc viêm toàn bộ đại tràng (tức


7

viêm đại tràng nặng) . Hiện nay, chẩn đoán VLĐTTCM được dựa trên sự kết
hợp lâm sàng, nội soi và mô bệnh học .
Bệnh VLĐTTCM có thể ở giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn hoạt
động. Các triệu chứng bệnh đi từ mức độ nhẹ, trung bình và đến nặng. Các
triệu chứng thường nghèo nàn và không điển hình ở mức độ nhẹ. Ngược
lại, ở mức độ nặng thì các dấu hiệu lâm sàng biểu hiện rõ. Nói chung mức
độ nặng của triệu chứng phản ánh mức độ lan rộng của tổn thương và
cường độ viêm hay các biểu hiện lâm sàng nặng thường gắn liền với tổn
thương viêm đại tràng nặng .

Về mặt lâm sàng, trong giai đoạn tiến triển hay giai đoạn hoạt động,
diễn biến bệnh được biểu hiện chủ yếu qua các triệu chứng toàn thân và cơ
năng, còn các triệu chứng thực thể là không đặc hiệu .
Các triệu chứng toàn thân thường gặp là sốt, sút cân, thiếu máu. Bệnh
nhân có thể có sốt nhẹ hoặc sốt cao tùy thuộc vào mức độ của bệnh. Dấu hiệu
sút cân xuất hiện tùy thuộc vào tình trạng của bệnh, nguyên nhân là do tình
trạng suy dinh dưỡng kéo dài và thường xảy ra ở những bệnh nhân có tổn
thương lan rộng. Tình trạng thiếu máu phụ thuộc vào mức độ mất máu theo
phân, số lượng máu, thời gian mất máu và thiếu máu là triệu chứng có thể
phản ánh là bệnh mạn tính cũng như thiếu hụt sắt do mất máu mạn hoặc do
một số cytokine viêm có thể ức chế tổng hợp erythropoietin.
* Các triệu chứng tại đường tiêu hóa:
Thường gặp nhất là triệu chứng đau bụng, tiêu chảy liên tục, có máu
và/hoặc chất nhầy trong phân , . Đau quặn bụng kèm theo mót rặn nếu tổn
thương ở trực tràng, đau hố chậu trái nếu tổn thương ở đại tràng sigma hoặc đại
tràng xuống nhưng cũng có khi đau lan tỏa khắp bụng hoặc đau dọc khung đại
tràng. Đại tiện phân máu là triệu chứng chính. Đối với bệnh nhẹ, có thể có đại
tiện phân lỏng hoặc phân bán lỏng 1 hoặc 2 lần trong ngày kèm theo có ít máu.


8

Trái lại, những bệnh nhân bị bệnh nặng có thể đại tiện nhiều lần phân lỏng có
máu, mủ và đau bụng nhiều .
Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy ở bệnh nhân VLĐTTCM biểu
hiện rối loạn phân kèm theo có máu và nhày trong phân chiếm tỷ lệ cao. Kết quả
đánh giá mức độ bệnh và vị trí tổn thương được trình bày trong bảng dưới đây:
Bảng 1.5. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng qua một số nghiên cứu
Triệu chứng (%)
Tác giả

Yasemin Ozin và CS
Mustafa Qureshi và CS
Sadiqul Islam và CS
Khúc Đình Minh
Nguyễn Thị Thu Hiền
Lê Thị Kim Liên
Phạm Văn Dũng
Mai Đình Minh

Sốt
2,2
0,0
25,0
30,0
10,3
39,3
47,1

Sút
cân

Đau
bụng

Phân
máu

6,0
27,7
18,52

32,5
55,0
51,3
92,9
54,9

14,0
74,1
77,78
82,5
80,0
64,1
85,7
66,7

91,2
77,8
92,59
90,0
95,0
79,5
75,0
80,39

Phân
nhày
90,7
88,89
90,0
76,9

92,9
68,6

Bảng 1.6. Đánh giá mức độ bệnh thông qua một số nghiên cứu
Mức độ (%)

Nhẹ

Vừa

Nặng

Mustafa Qureshi và CS

9,2

42,6

48,7

Sadiqul Islam và CS

0,0

37,04

44,44

Yasemin Ozin và CS


31,7

29,6

38,7

Gabriela Fonseca-Camarillo

3,0

37,0

60,0

XueLiang Jiang

70,2

22,50

7,50

Daniel S. Pearl và CS

56,3

37,5

6,2


Khúc Đình Minh

42,5

32,5

25,5

Nguyễn Thị Thu Hiền

30,0

30,0

40,0

Lê Thị Kim Liên

10,3

51,2

38,5

Phạm Văn Dũng

10,7

46,4


42,9

Tác giả


9

Mức độ (%)
Tác giả
Mai Đình Minh

Nhẹ

Vừa

Nặng

25,5

29,4

45,1

* Các triệu chứng ngoài đường tiêu hóa:
Ngoài các triệu chứng được trình bày ở trên, thì ở bệnh nhân VLĐTTCM
có thể có phối hợp với bệnh lý của một số cơ quan khác được gọi là các triệu
chứng ngoài ruột, tần số biểu hiện lâm sàng ngoài ruột từ 6 - 47% .
Có tới 40% bệnh nhân VLĐTTCM có biểu hiện ngoài ruột , . Các bệnh
lý ngoài ruột bao gồm: viêm khớp, loét miệng,loãng xương, viêm xơ đường mật
tiên phát, viêm màng bồ đào, viêm mủ da hoại thư, huyết khối tĩnh mạch sâu,...

Việc phát hiện các triệu chứng ngoài ruột có thể theo dõi tiến trình lâm sàng của
bệnh và đáp ứng tốt với liệu pháp điều trị bệnh.
XueLiang Jiang phân tích đặc điểm bệnh VLĐTTCM trên tổng số
10218 bệnh nhân được báo cáo trong các tài liệu y văn Trung Quốc. Kết quả
cho thấy gặp 6,1% bệnh nhân có triệu chứng ngoài ruột .
Gabriela Fonseca-Camarillo nghiên cứu 40 bệnh nhân VLĐTTCM. Tác
giả thấy 73,0% bệnh khớp, 13,0% sưng ống gan xơ hóa nguyên phát, 6,7%
ban đỏ nút, 20,0% viêm khớp cùng chậu, 6,7% viêm da mủ hoại thư .
Yasemin Ozin và CS nghiên cứu trên bệnh nhân VLĐTTCM tại Thổ
Nhĩ Kỳ. Kết quả cho thấy bệnh khớp cấp tính gặp 3,0%, viêm khớp cùng chậu
1,2%, bệnh cột sống cứng khớp 1,0%, ban đỏ 0,2% và không gặp viêm màng
mạch nhỏ .
Mustafa Qureshi và CS nghiên cứu 54 bệnh nhân VLĐTTCM gặp viêm
khớp gặp là 5 bệnh nhân, viêm màng mạch nhỏ là 2 bệnh nhân, viêm khớp
cùng chậu gặp 2 bệnh nhân, viêm khớp 1 bên và các vị trí bị bệnh là khớp gối
gặp 3 bệnh nhân và không gặp bệnh nhân viêm cột sống dính khớp .
1.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng
1.2.2.1. Đặc điểm huyết học, sinh hóa và miễn dịch


10

Các xét nghiệm trong bệnh VLĐTTCM thường không đặc hiệu nhưng
nó phản ánh được mức độ nặng nhẹ của chảy máu, viêm và hiệu quả sau đợt
điều trị .
- Xét nghiệm về bạch cầu:
Đến nay, người ta đã xác định được vai trò của một số bạch cầu trong
đáp ứng miễn dịch như bạch cầu hạt, bạch cầu ái kiềm và ái toan. Vì lý do này
nên những kháng nguyên đã kết hợp với kháng thể dễ bị bạch cầu hạt trung
tính tiêu diệt vì bạch cầu hạt trung tính có chức năng bắt, tiêu diệt vi khuẩn

cho nên tập trung nhiều tại ổ viêm và tiết ra một số yếu tố hòa tan có tác dụng
điều hòa hoạt động một số tế bào khác. Vì vậy, số lượng bạch cầu chung có
thể tăng khi có nhiễm trùng hoặc phản ứng viêm trong bệnh tự miễn.
- Xét nghiệm về CRP và máu lắng:
Các dấu hiệu sinh học đã được nghiên cứu tại Hoa Kỳ để đánh giá hoạt động
của bệnh. Trong số các marker sinh học truyền thống thì CRP được chứng minh là
một dấu hiệu tốt cho việc dự đoán quá trình và kết quả của bệnh VLĐTTCM. Tuy
nhiên, chỉ 51% bệnh nhân có mức hoạt động dựa trên nội soi đại tràng có nồng độ
CRP cao, cho thấy mức CRP thêm vào khả năng đánh giá lâm sàng dự đoán viêm
niêm mạc ở giai đoạn hoạt động . Nghiên cứu của Shannon Chang và CS ghi
nhận mức CRP tăng từ 4 đến 6 tháng trước khi tái phát là một cảnh báo cho sự
thay đổi trong điều trị bệnh VLĐTTCM rất cần thiết với mục đích thuyên giảm
các triệu chứng lâm sàng . Khi nồng độ CRP ở ngưỡng cao sẽ hữu ích cho việc xác
định giai đoạn hoạt động của bệnh trên nội soi .
Nghiên cứu của Enver Dolar (1998) cho thấy số lượng trung bình của bạch
cầu trong 1mm3 máu, CRP và máu lắng tăng trong trong bệnh VLDDTTCM lần
lượt là 8894 ± 4467 và 71,0 ± 5,1 khi so sánh với nhóm chứng là 7,2 ± 2,5 và
71,0 ± 34,6 . Nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên và Mai Đình Minh cũng cho thấy
CRP tăng cao , .
Tốc độ máu lắng có giá trị trong phản ứng viêm, làm rõ hội chứng viêm
mặc dù không chỉ dẫn chính xác nguồn gốc của hội chứng này nhưng được sử


11

dụng để kiểm soát mức độ viêm trong nhiều bệnh. Đây là một xét nghiệm
nhậy nhưng không đặc hiệu đối với tình trạng viêm, hoại tử tổ chức và phản
ứng viêm càng mạnh thì tốc độ máu lắng càng tăng.
- Albumin và kali huyết thanh:
Albumin huyết thanh có thể giảm do tình trạng mất máu hoặc mất

albumin qua niêm mạc ruột tổn thương, đặc biệt là với những trường hợp có
tổn thương lan rộng .
- Kali máu:
Giảm kali do ỉa chảy kéo dài và hầu hết các bệnh nhân bị VLĐTTCM
mức độ nặng đều có giảm kali trong suốt quá trình điều trị do đại tiện phân
lỏng nhiều lần và do tác dụng phụ của corticosteroid. Vì vậy, ở những bệnh
nhân đang điều trị bệnh VLĐTTCM cần phải theo dõi thường xuyên kali.
Bảng 1.7. Kết quả một số xét nghiệm thường sử dụng trong bệnh
VLĐTTCM thông qua một số nghiên cứu
Tác giả
Chỉ số xét
nghiệm (%)
Bạch cầu
(G/L)
Máu lắng 1h
(mm/h)
CRP (mg/dL)
Albumin
(g/l)
Kali
(mmol/l)

≤ 10
> 10
≤ 20
> 20
≤1
>1
≥ 35
< 35

 3.5
2.6 - 3,4
 2.5

Khúc Đình
Minh

Nguyễn Thị
Thu Hiền

Lê Thị Kim
Liên

Mai Đình
Minh

90,0
10,0

65
35
35
65
60
40
65
35,0
35
55,0
10,0


35,9
64,1
30,8
69,2
51,3
48,7
51,3
48,7
53,8
46,2
2,6

52,9
47,1
17,7
82,3
29,4
70,6
25,5
74,5
31,4
62,7
5,9

- Các globulin miễn dịch:
Globulin huyết thanh là kháng thể dịch thể được tạo ra do quá trình đáp
ứng miễn dịch nên còn được gọi là globulin miễn dịch. Dựa vào cấu trúc và



12

tính khác biệt kháng nguyên của các phân tử globulin miễn dịch người ta phân
chúng thành các lớp IgA, IgG, IgM, IgE. Đặc biệt, IgE tham gia vào phản ứng
quá mẫn và là kháng thể ái tế bào, nó có khả năng cố định nhanh chóng lên bề
mặt tế bào mast, bạch cầu ái kiềm. Khi IgE kết hợp với kháng nguyên đặc hiệu
(được gọi là dị nguyên) sẽ làm giải phóng các hóa chất trung gian từ tế bào mast,
bạch cầu ái kiềm và làm mất hạt của bạch cầu ái kiềm. Hơn nữa, IgE được tăng
tiết bởi IL-4, IL-12, IL-13.
Năm 1986, Levo Y và CS nghiên cứu đánh giá nồng độ IgE trong huyết
thanh và các globulin miễn dịch ở bệnh nhân IBD. Các tác giả thấy có tăng
nồng độ IgG và IgM trong huyết thanh khi IgA ở mức bình thường. Nồng độ
IgE trong huyết thanh tăng đáng kể ở VLĐTTCM và Crohn. Các bệnh nhân
IBD tái phát bệnh là có mức IgE cao nhất .
- Điện di protein huyết thanh:
Xét nghiệm này được nghiên cứu ở bệnh VLĐTTCM từ những năm
1950. Các kết quả cho thấy đều cho thấy có sự thay đổi các phần protein.
Năm 1971, B. Weeke và CS nghiên cứu nồng độ 19 protein huyết thanh
bằng phương pháp điện di ở 42 bệnh nhân Crohn và 36 bệnh nhân
VLĐTTCM. Các kết quả được so sánh ghép cặp với 78 người khỏe mạnh.
Kết quả cho thấy có sự gia tăng rõ rệt của α 1 và α2 được trình bày trong bảng
dưới đây.
Bảng 1.8. Kết quả điện di protein huyết thanh ở bệnh IBD
Nhóm

n

Người khỏe mạnh
Crohn
VLĐTTCM


78
42
36

Các phần protein
α1
4,7
6,6
6,9

α2
5,5
7,1
6,4

β
6,9
6,3
6,6

γ
12,2
12,1
13,0

Ngoài các xét nghiệm về huyết học, sinh hóa và miễn dịch thì hiện nay
người ta còn sử dụng xét nghiệm phân tìm Calprotectin. Đây là một chất được
ruột tạo ra khi bị viêm có hữu ích cho việc chẩn đoán xác định VLĐTTCM.



13

1.2.2.2. Đặc điểm nội soi đại trực tràng
Nội soi đại trực tràng là một kỹ thuật có giá trị tốt nhất trong chẩn đoán
và đánh giá giai đoạn hoạt động của bệnh VLĐTTCM mặc dù khi các triệu
chứng lâm sàng như rối loạn phân, đại tiện phân máu và đau bụng cải thiện
sau khi điều trị . Vì trên thực tế có một số lượng đáng kể bệnh nhân có triệu
chứng lâm sàng và tổn thương trên nội soi là không tương quan với nhau.
Hơn nữa, đánh giá niêm mạc trên nội soi là rất quan trọng để xác định sự hoạt
động của bệnh và cũng cho phép đánh giá sự thuyên giảm bệnh trên nội soi có
liên quan đến chữa lành niêm mạc đại tràng. Những thay đổi đặc trưng và phổ
biến trên nội soi ở bệnh VLĐTTCM đầu tiên là mất cấu trúc mạch máu bình
thường dưới niêm mạc, sau đó có tổn thương loét và tiết dịch. Sự thay đổi này
được thấy trong một nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên (2016) trên 37 bệnh
nhân VLĐTTCM với kết quả đặc điểm phổ biến nhất trên nội soi đại tràng ở
nhóm bệnh có phù nề xung huyết (100%), tiếp theo là mất cấu trúc mạch máu
dưới niêm mạc (100%) . Ngoài ra, còn có các biểu hiện tiếp theo nếu tổn
thương nặng hơn là niêm mạc mủn, có thể chảy máu niêm mạc tự phát. Các ổ
loét nông hoặc sâu tập trung thành từng đám hoặc rải rác và có thể thấy ở đại
tràng sigma, đại tràng xuống hoặc lan tỏa khắp đại tràng. Trên ổ loét có nhày
trắng hoặc mủ, máu bầm tím hoặc máu tươi. Có thể gặp hình ảnh giả polyp gồ
lên vào trong lòng đại tràng.
Nội soi đại tràng đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong chẩn đoán
xác định bệnh VLĐTTCM. Các tổn thương thường mang tính chất liên tục
không có vùng niêm mạc lành xen kẽ và thường được bắt đầu từ trực tràng
sau đó lan dần lên đại tràng sigma, đại tràng lên. Như vậy, các tổn thương
thường xuất hiện ở đại tràng trái nhiều hơn so với đại tràng phải . Các hình
thái tổn thương đại tràng được trình bày trong bảng dưới đây:



14

Bảng 1.9. Tỷ lệ tổn thương đại tràng thông qua một số nghiên cứu
Tác giả

Nguyễn
Thị Thu
Hiền

Lê Thị
Kim
Liên

Phạm
Văn
Dũng

Mất cấu trúc mạng lưới mạch
máu bình thường dưới niêm mạc

100

100

96,4

Niêm mạc phù nề xung huyết.

100


100

100

92,2

Loét nông

100

87,2

82,1

78,4

Có giả polyp

20,0

33,3

42,9

52,9

Có giả mạc

55,0


30,8

50,0

60,8

Có máu

55,0

84,6

28,6

31,4

Hình ảnh
tổn thương (%)

Mai
Đình
Minh

Ưu điểm của nội soi đại tràng là quan sát, đánh giá vị trí và tính chất của tổn
thương về mặt đại thể cũng như theo dõi hiệu quả của quá trình điều trị và qua nội soi
có thể sinh thiết làm xét nghiệm mô bệnh học. Giá trị và lý do sinh thiết làm mô bệnh
học đối với bệnh VLĐTTCM bao gồm: xác định chẩn đoán, phân biệt VLĐTTCM
và bệnh Crohn , , loại trừ loạn sản , loại trừ bệnh lý kết hợp hoặc biến chứng. Từ đó
có thể đánh giá được mức độ hoạt động của bệnh và có thể dự báo tái phát bệnh , và

phạm vi lan rộng của tổn thương .
1.2.2.3. Đặc điểm mô bệnh học
Trên Thế giới, Seldenrijk(1991) dựa trên tập hợp 41 tiêu chuẩn mô
bệnh học để đưa ra chẩn đoán phân biệt VLĐTTCM, Crohn và các bệnh
viêm đại tràng cấp do vi khuẩn. Seldenrijk nhận thấy rằng dựa trên sự kết
hợp ba đặc điểm: tăng lympho bào và tương bào ở mô đệm, khe hốc chia
nhánh, bạch cầu đa nhân trung tính trong mô khe hốc (apxe khe hốc) cho
phép chẩn đoán phân biệt viêm đại tràng cấp do vi khuẩn chính xác tới
89%. Kết hợp 3 đặc điểm: tổn thương u hạt chỉ xuất hiện ở bệnh Crohn đây
là điểm chẩn đoán phân biệt giữa bệnh VLĐTTCM với bệnh Crohn .
Năm 1997, Hội tiêu hoá Anh đã đưa ra một số tiêu chuẩn về giải phẫu
bệnh để chẩn đoán xác định viêm đại tràng mạn tính tự phát dựa trên sự
thay đổi bất thường về cấu trúc niêm mạc và cấu trúc mô đệm .


15

Năm 2000, Hội nghị Quốc tế Nottingham tại Anh đã đề xuất các tiêu
chuẩn mô học để chẩn đoán bệnh VLĐTTCM với sự tham dự của nhiều nhà
khoa học. Hội nghị đã thành lập một nhóm hành động gồm 13 chuyên gia giải
phẫu bệnh tiêu hóa và 12 nhà giải phẫu đa khoa, không phải chuyên gia tiêu
hóa của các nước Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan, Canada, Sri – Lanka, Nhật, Mỹ và
Anh . Hội nghị đã đưa ra các tiêu chuẩn là chính xác, đơn giản, rõ ràng, dễ áp
dụng đối với các nhà giải phẫu bệnh đa khoa sau khi được cập nhật các tiêu
chuẩn mô bệnh học cũng có thể chẩn đoán đúng với tỷ lệ tương đương các
chuyên gia của chuyên ngành rất sâu về mô bệnh học. Một số Hội nghị Quốc tế
sau này như Ban lâm thời bệnh học của Tổ chức Quốc tế về bệnh ruột viêm với
nhiều nhà bệnh học hàng đầu về tiêu hóa cũng đã thống nhất áp dụng và quảng
bá những tiêu chuẩn vi thể của bệnh IBD mà Hội nghị Nottingham năm 2000 đã
đề xướng , .

Trên thực tế, trong nước đã có một số nghiên cứu đánh giá tổn thương mô
bệnh học ở bệnh nhân VLĐTTCM. Kết quả cho thấy tổn thương mô bệnh học
chiếm tỷ lệ khá cao là các tuyến không đều chia nhánh hình ảnh lan tỏa.
Năm 2016, Sdiqul Islam và CS ghi nhận các bệnh nhân VLĐTTCM có
sự thâm nhiễm lympho (100%); rối loạn tuyến gặp 92,59%; viêm hang gặp
92,59% và áp xe nang là 81,48% . Nghiên cứu của Daniel S. Pearl Krina Shah
cho thấy có 8,6% độ 0; 39,2% độ 1; 21,8% độ 2; 16,0% độ 3; 14,4% độ 4 .
Trong một nghiên cứu khác của Gabriela Fonseca Camarillo cho thấy không
hoạt động/nhẹ/trung bình/nặng lần lượt là 15/5/16/4 . Nghiên cứu của
Pongprasobchai gặp mức độ nhẹ là 28%, mức độ vừa là 60%, mức độ nặng là
12% . Nguyễn Văn Hưng gặp 27,9% mức độ nhẹ 72,1% ca mức độ nặng . Mai
Đình Minh (2016) là 33,3% độ nhẹ; 39,2% độ vừa và 27,5% độ nặng ; Lê Thị
Kim Liên là 10,3% độ nhẹ 51,2% mức độ vừa, 38,5% độ nặng .


16

HÌNH ẢNH NỘI SOI VÀ MÔ BỆNH HỌC BỆNH VIÊM LOÉT ĐẠI
TRỰC TRÀNG CHẢY MÁU .

A: Niêm mạc phù nề xuất huyết và tiết dịch. Tổn thương loét bề mặt kèm theo giả polyp.
B- C- D: Sự hình thành các ổ hoại tử kèm theo loét nông một phần. Các tuyến méo
mó chia nhánh và một số tuyến bị teo méo mó, giảm số lượng khe tuyến, BCĐNTT
xâm nhập lớp mô đệm, các mạch máu được hình thành giãn ra đáng kể và có tắc
nghẽn mạch máu.

A: Niêm mạc phù nề xung huyết, không có giả polyp.
B: Hoại tử biểu mô niêm mạc, phá hủy, méo mó và phân nhánh Khoảng cách giữa
các tuyến ở một số vùng ngắn và các tế bào lypho giảm đáng kể; một số lượng lớn
tế bào lympho và tế bào huyết tương xâm nhập vào lớp đệm, có bạch cầu trung tính

trong mô đệm và tế bào lympho tăng lên đáng kể ở đáy niêm mạc; một số lượng lớn
các tế bào lympho và các tế bào plasma xâm nhập vào lớp dưới niêm mạc.
C: Các tuyến méo mó và phân nhánh kèm theo áp xe khe tuyến và các bộ phận của
tuyến biểu hiện teo. Khoảng cách giữa các tuyến ở một số vùng ngắn lại. Tình trạng
viêm ở vùng đệm của lớp dưới niêm mạc là đồng nhất, với sự xâm nhập của nhiều
tế bào lympho và các tế bào plasma, và các mạch máu giãn và tắc nghẽn.


17

1.2.3. Tiến triển và biến chứng
1.2.3.1. Tiến triển
Bệnh VLĐTTCM diễn biến theo nhiều chiều hướng khác nhau phụ
thuộc vào diện tích, mức độ tổn thương, quá trình viêm nặng hay nhẹ. Diễn
biến kéo dài có giai đoạn tạm ổn rồi lại tái phát với một số yếu tố thuận lợi.
Một số bệnh nhân trở thành mạn tính không lui bệnh: đi lỏng liên tục,
thiếu máu và các triệu chứng không đặc hiệu...
Một số bệnh nhân có cơn cấp tính ban đầu, tiếp đó 10 - 15 năm sức
khỏe trở về bình thường và không còn hình ảnh VLĐTTCM trên nội soi.
Một số bệnh nhân có các triệu chứng mức độ vừa hoặc nặng biểu hiện:
đi lỏng nhiều lần, mất máu nhiều, đau bụng, sốt và có các biến chứng ngoài
đại tràng.
1.2.3.2. Biến chứng
+ Phình đại tràng nhiễm độc
Thường xuất hiện ở những bệnh nhân có viêm loét toàn bộ đại tràng.
Thời điểm xuất hiện biến chứng có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào của bệnh
nhưng thường xuất hiện giai đoạn đầu khi phát bệnh.
+ Thủng đại tràng
Đây là một trong những biến chứng nặng nề của bệnh. Thủng đại tràng
thường gặp ở mức độ nặng, khi thành ruột bị viêm lan tỏa và ổ loét sâu rộng.

Người ta thấy rằng biến chứng thủng đại tràng ở những bệnh nhân bị
VLĐTTCM có liên quan đến tỷ lệ tử vong cao là từ 27% -57% .
+ Chảy máu nhiều
Bệnh thường được phát hiện chảy máu trong khi nội soi đại tràng hoặc
bệnh nhân đi đại tiện có máu theo phân. Nếu chảy máu nhiều thì đây là biến
chứng nặng của bệnh do đại tràng có loét kèm theo nhiều ổ xuất huyết.
+ Xơ chít hẹp đại tràng
Quá trình xơ chít hẹp kéo dài cần phải cắt bỏ đại tràng tại vị trí có xơ
chít hẹp nhiều và chít hẹp kéo dài và sinh thiết theo dõi định kỳ trên mô bệnh


18

học. Nếu có kết quả loạn sản độ cao thì phải can thiệp phẫu thuật nhằm ngăn
ngừa chuyển thành ác tính.
+ Tiến triển thành ung thư đại tràng
Tỷ lệ ung thư tăng dần theo thời gian mắc bệnh thường xảy ra ở thể tổn
thương lan tỏa toàn bộ đại tràng. Khi nội soi đại tràng phải sinh thiết nhiều
mảnh để tăng khả năng chẩn đoán. Trong một phân tích cộng gộp, các nhà
điều tra phát hiện nguy cơ ung thư đại tràng là 2% trong 10 năm đầu tiên của
viêm loét đại tràng, 8% trong 20 năm đầu, 18% trong 30 năm đầu bệnh chỉ
viêm loét trực tràng hoặc đại tràng sigma .
1.2.4. Phân độ bệnh viêm loét đại trực tràng chảy máu
Hiện nay, chẩn đoán xác định và phân loại mức độ bệnh VLĐTTCM
dựa vào các triệu chứng lâm sàng, nội soi đại tràng toàn bộ kết hợp với mô
bệnh học. Việc đánh giá mức độ nặng của bệnh có hữu ích trong tiến hành
nghiên cứu lâm sàng .
Về mặt lâm sàng, các triệu chứng bệnh thường thay đổi tùy theo mức
độ nặng nhẹ và mức độ lan rộng của tổn thương. Bệnh có thể ở giai đoạn
ổn định hoặc giai đoạn hoạt động, thường bệnh nhân đến viện vì đợt khởi

phát đầu tiên hoặc đợt tiến triển của bệnh.
Trong giai đoạn ổn định bệnh thường không có triệu chứng gì đặc biệt
trên lâm sàng, chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi.
Trong giai đoạn bệnh tiến triển có thể khởi phát với các triệu chứng lâm
sàng rầm rộ hoặc chỉ có một số triệu chứng tùy theo mức độ nặng nhẹ của
bệnh. Nổi bật và thường gặp nhất là đau bụng, tiêu chảy phân máu kèm theo
sốt và sút cân. Bệnh có thể được phân loại thành các mức độ nhẹ, trung bình ,
nặng . Tùy từng giai đoạn bệnh mà có các biểu hiện khác nhau.
Đối với những bệnh nhân ở mức độ nhẹ, biểu hiện lâm sàng thường
nghèo nàn, thỉnh thoảng có triệu chứng đại tiện phân nát, lỏng, có nhày, có
máu chỉ kéo dài dưới 4 ngày, không có thay đổi thể trạng, không có thiếu máu
hoặc giảm protid huyết thanh. Một số bệnh nhân tình cờ phát hiện qua nội soi
đại tràng.


19

Đối với những bệnh nhân ở mức độ trung bình có các đợt tiêu chảy
thường khởi đầu bằng đau quặn bụng, rồi đại tiện phân máu, số lần đại tiện
thường dưới 6 lần/ngày. Thường kèm theo sốt, giảm protid huyết thanh, làm
bệnh nhân mệt mỏi.
Đối với những bệnh nhân ở mức độ nặng tổn thương có thể lan rộng lan
ra toàn bộ đại tràng, biểu hiện bằng nhiều ổ loét kèm theo đại tiện phân lỏng.
Số lần đại tiện phân máu hơn 6 lần/ngày thậm chí đến 20 lần/ngày. Toàn trạng
suy sụp với nhịp tim nhanh, huyết áp hạ, sốt cao, bụng chướng. Nếu không
được điều trị thì tiến triển thành rất nặng đưa đến tử vong do xuất huyết trầm
trọng, phình giãn đại tràng nhiễm độc, thủng đại tràng, nhiễm khuẩn huyết,
suy thận, rối loạn điện giải và suy kiệt nặng.
Đánh giá mức độ bệnh là quan trọng cho việc tiên đoán, quyết định điều trị
và rất quan trọng cho các bác sĩ lâm sàng.

Năm 2007, Robert C. Langan đã sửa đổi bổ sung trên cơ sở phân loại
mức độ nặng bệnh VLĐTTCM của Troulove và Witts như sau:
Bảng 1.10. Phân loại mức độ bệnh theo Robert C. Langan
Dấu hiệu (triệu chứng)

Nhẹ

Vừa

Nặng

<4

4-6

>6

Nhiệt độ cơ thể 0C

Bình thường

3702-3708

> 3708

Albumin (g/l)

Bình thường

30 - 35


< 30

Hematocrid (%)

Bình thường

30 - 40

< 30

Máu lắng (mm/h)

< 20

20-30

> 30

Mạch (lần/phút)

<90

90-100

>100

Không sụt cân

1-10


>10

Số lần đại tiện / ngày

Sụt cân (%)

Năm 1987, Surtheland đưa ra thang điểm đánh giá mức độ bệnh dựa trên
tần số phân lỏng, tổn thương nội soi và kết quả thăm khám chủ quan như sau:


20

Bảng 1.11. Phân loại mức độ bệnh của Surtheland
TT

Đặc điểm

0 điểm

1

Tần số đi lỏng

Không

2

3


4

Chảy máu
trực tràng

Không

Hình ảnh

Bình

niêm mạc

thường

Theo thăm

Bình

khám

thường

1 điểm
1-2
lần/ngày
Thành vệt

Mủn nhẹ


Nhẹ

2 điểm

3 điểm

3-4 lần/ngày > 5lần/ngày

Nhìn thấy rõ

Niêm mạc
mủn vừa

Vừa

Nhiều
Niêm mạc
rỉ dịch,
chảy máu
Nặng

Cách tính điểm: < 2: hồi phục; 3-5: nhẹ; 6-10: vừa; 11-12: nặng
Điểm số Mayo và chỉ số hoạt động bệnh gần giống như nhau (DAI) cũng
được mô tả bởi Sutherland , . Bao gồm bốn đánh giá (chảy máu, tần số phân, nội
soi và đánh giá của bác sĩ ) điểm đánh giá từ 0 - 3 điểm cho môi một đánh giá và
tổng số điểm tổng kết trong khoảng từ 0-16 điểm. Tuy nhiên, chỉ số hoạt động
bệnh VLĐTTCM (Ulcerative Colitis Disease Activity Index- UCDAI) dao động
từ 0-12 điểm, với tổng số điểm cao hơn đại diện cho bệnh nặng hơn. Nói chung,
một bệnh nhân được xem là có khả năng thuyên giảm nếu UCDAI bằng hoặc ít
hơn 2, và có bệnh nặng nếu điểm số lớn hơn 10. Một số nghiên cứu đã sử dụng

điểm số này để đánh giá hoạt động bệnh từ thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng ở
bệnh VLĐTTCM từ loét nhẹ đến nặng và thay đổi hoạt động của bệnh được coi
như là tiêu chuẩn vàng , .


21

Bảng 1.12. Hệ thống chấm điểm Mayo đánh giá hoạt động bệnh
VLĐTTCM
Đặc điểm

Điểm đánh giá

Số lần đại tiện trong ngày
Bình thường

0

1-2 lần môi ngày phân nhiều hơn bình thường

1

3-4 lần phân nhiều hơn bình thường

2

≥ 4 lần phân nhiều hơn bình thường

3


Chảy máu trực tràng
Không có máu nhìn thấy.

0

Vệt máu với phân ít hơn một nửa thời gian.

1

Máu rõ ràng với phân hầu hết thời gian.

2

Máu tươi liên tục.

3
Kết quả nội soi

Bệnh thông thường hoặc không hoạt động.

0

Bệnh nhẹ.

1

Bệnh vừa phải.

2


Bệnh nặng.

3

Đánh giá chủ quan của Bác sĩ
Bình thường

0

Bệnh nhẹ

1

Bệnh vừa phải

2

Bệnh nặng

3

Năm 1998, R S Walmsley và CS đã sử dụng hệ thống chấm điểm Mayo
và chỉ số Powell-Tuck đánh giá mức độ hoạt động của VLĐTTCM và thấy có
mối tương quan thuận giữa mức độ hoạt động của viêm theo Mayo với chỉ số
Powell-Tuck và điểm số hoạt động complex lần lượt là (r=0,959, p<0.0001 và
r=0,924, p<0.0001) .


22


Năm 1964, Baron phân loại các giai đoạn sớm mô tả chính xác sự thay
đổi dần dần nhưng rất đặc trưng giữa các giai đoạn hoạt động khác nhau của
VLĐTTCM bao gồm 4 giai đoạn sau:
Bảng 1.13. Bảng phân loại giai đoạn tổn thương của Baron
Giai đoạn
0
I
II
III

Hình ảnh
Niêm mạc nhạt màu, các mạch máu mỏng mảnh, thưa thớt
Niêm mạc lần sần, có các ban đỏ, các mạch máu chỉ nhìn
thấy một phần.
Niêm mạc mất nếp ngang, có những ổ loét đặc trưng,
không nhìn thấy mạch, dễ chảy máu khi đèn chạm phải.
Những ổ loét lớn, kèm theo niêm mạc phù nề, chảy máu tự
phát là đặc điểm rất quan trọng trong giai đoạn này.

Dựa vào vị trí của tổn thương trên nội soi theo phân loại Montreal chia
như sau :
Bảng 1.14. Phân loại phạm vi tổn thương đại trực tràng - trích dẫn từ tài
liệu
Thể bệnh
E1(viêm trực tràng - proctitis)
E2 (viêm loét đại tràng trái -

Phạm vi tổn thương
Tổn thương chỉ ở trực tràng
Tổn thương từ trực tràng đến đại tràng


left - sided colitis).
góc lách.
E3(viêm loét đại tràng toàn bộ -Tổn thương lan tỏa từ manh tràng đến đại
- Extensive colitis)

tràng góc gan.

Mô bệnh học là một xét nghiệm được đưa ra vào những năm 1950, có
giá trị đánh giá mức độ hoạt động của viêm và rất quan trọng đối với việc dự
báo tái phát bệnh VLĐTTCM. Bệnh ở giai đoạn hoạt động được xác định
bằng sự hiện diện của bạch cầu trung tính liên quan đến tổn thương tế bào
biểu mô. Bệnh mạn tính không hoạt động được xác định là sự hiện diện của
sự thay đổi cấu trúc và tăng tế bào bạch cầu đơn nhân trong biểu mô liên kết.
Bệnh ở giai đoạn yên lặng có nghĩa là có sự hiện diện của sự thay đổi cấu trúc mà
không có sự thay đổi cường độ và thành phần của thâm nhiễm biểu mô liên kết.
Dấu hiệu bạch cầu đa nhân trung tính xuất hiện trong biểu mô niêm mạc liên quan


23

chặt chẽ với sự tiến triển của các tổn thương như phá hủy cấu trúc khe tuyến, trợt
hoặc loét niêm mạc. Chính lý do này đã cho phép chẩn đoán bệnh VLĐTTCM
ngay cả khi không có ổ loét niêm mạc. Vì áp xe trong lòng tuyến là dấu hiệu viêm
hoạt động mạnh nhất, trong khi hoạt động viêm nhẹ nhất nếu bạch cầu đa nhân
trung tính chỉ ngấm vào lớp biểu mô bề mặt niêm mạc. Độ hoạt động của viêm
trên mô bệnh học được đánh giá ở độ 1 đến độ 7. Trong đó, độ 1, 2, 3, là mức độ
nhẹ; độ 4, 5 và 6 là mức độ nặng được đưa ra ở bảng dưới đây:
Bảng 1.15. Phân loại mức độ hoạt động của viêm trên mô bệnh học theo
Geboes và CS

Độ hoạt động

Xuất hiện bạch cầu đa nhân trung tính hoặc ái toan

1

- Biểu mô bề mặt

2

- Biểu mô khe tuyến

3

- Biểu mô bề mặt
- Biểu mô khe tuyến

4

- Áp xe khe tuyến

5

- Biểu mô bề mặt
- Áp xe khe tuyến

6

- Biểu mô bề mặt
- Biểu mô khe tuyến

- Áp xe khe tuyến

- Biểu mô bề mặt
- Áp xe khe tuyến
Trên mô bệnh học cần phân biệt phạm vi tổn thương của ống tiêu hóa
7

để loại trừ bệnh Crohn: VLĐTTCM chỉ tổn thương ở đại tràng và tổn
thương không đến lớp cơ còn trong bệnh Crohn toàn bộ ống tiêu hóa đến
hậu môn và tổn thương đến lớp cơ niêm. Thực hiện sàng lọc bệnh nhân đưa
vào nghiên cứu chúng tôi phân biệt bệnh VLĐTTCM và bệnh Crohn dựa
vào đặc điểm và cấu trúc niêm mạc như sau:
Bảng 1.16. Đặc điểm phân biệt bệnh VLĐTTCM và Crohn trên mô
bệnh học
Đặc điểm

VLĐTTCM

Crohn


24

Cấu trúc

Viêm mạn

Không đều, chia nhánh, khe Không đều, chia nhánh, khe
tuyến lan tỏa
tuyến khu trú

Tương bào, lympho bào nằm ở Tương bào, lympho bào không
vùng đáy khe tuyến
nằm ở vùng đáy khe tuyến
Viêm xuyên niêm mạc lan tỏa Viêm xuyên niêm mạc lan tỏa
không vượt qua cơ niêm

vượt qua cơ niêm

1.3. Sinh lý bệnh
Trong VLĐTTCM có phản ứng viêm liên quan chủ yếu đến niêm mạc
đại tràng. Biểu hiện bệnh là kết quả của sự tác động qua lại giữa các yếu tố gen,
môi trường và quá trình hoạt hóa liên tục của hệ miễn dịch niêm mạc ruột. Nhiều
tác giả cho rằng, niêm mạc của bệnh nhân Crohn bị chi phối bởi tế bào (TB)
lympho CD4 với phenotyp Th1 mà sản phẩm đặc trưng là Interferon và IL-2.
Ngược lại, niêm mạc của bệnh nhân VLĐTT CM được chi phối bởi TB lympho
CD4 với phenotyp Th2 mà sản phẩm đặc trưng là yếu tố tăng trưởng  (TGF-)
và IL-5, nhưng không có IL-4 .
1.4. Một số cytokine trong đáp ứng viêm ở bệnh viêm loét đại trực tràng
chảy máu
1.4.1. Bản chất của cytokine
Có nhiều loại tế bào khác nhau tham gia vào đáp ứng miễn dịch, chủ
yếu là các tế bào dạng lympho, các tế bào viêm và các tế bào tạo máu khác.
Những tương tác phức tạp xảy ra giữa các tế bào này với nhau được thực hiện
thông qua một nhóm các protein được gọi chung là các cytokine.
Các cytokine gắn vào các thụ thể đặc hiệu dành cho chúng trên màng
các tế bào đích làm khởi động các con đường dẫn truyền tín hiệu vào bên
trong tế bào và cuối cùng dẫn đến thay đổi biểu hiện gen của tế bào đích. Tế
bào nào sẽ là tế bào đích của cytokine được thể hiện bởi sự có mặt của các thụ
thể đặc hiệu dành cho cytokine trên bề mặt tế bào ấy. Thường thì ái lực giữa
cytokine và thụ thể dành cho cytokine là rất cao với hệ số phân tách (dissociation



25

constant) dao động từ 10-10 đến 10-12 M. Chính vì có ái lực cao mà cytokine có
tác động sinh học ngay cả ở các nồng độ rất thấp tới mức picomole.
Bản chất cytokine là protein hay glycoprotein do nhiều tế bào tiết ra, có
khả năng điều hòa và khuyếch đại phản ứng miễn dịch, phản ứng viêm và tăng
cường khả năng tạo máu, chúng có vai trò quan trọng trong đề kháng của cơ
thể chống nhiễm trùng và ung thư. Tuy nhiên, ở mức độ bất thường thì cytokine
gây bệnh lý. Các cytokine có 2 đặc điểm chung như sau:
Được sản xuất một lượng rất nhỏ nhưng tác dụng rất lớn và được sản
xuất từ các tế bào đã được kích thích (hoạt hóa).

Hình 1.1. Sơ đồ sản xuất một số cytokine
Các cytokine sau khi được sản xuất hoạt động hợp tác với nhau như IL-1
với TNF-α tác động lên nhiều loại tế bào (lympho T và B, đại thực bào, tế bào
tủy xương,...). IL-6 phối hợp với TNF và IL-1 kích thích phát triển tủy xương,
phối hợp với IL-2 phát triển hệ miễn dịch dịch thể và tăng tạo kháng thể.
1.4.2. Nguồn gốc của cytokine
Cytokine được xác định là những protein giống hormon, có trọng lượng
phân tử thấp, được sản xuất chủ yếu bởi lympho bào hoạt hóa và đại thực bào.


×