Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

Sức sống mãnh liệt của lục bát

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (124.54 KB, 19 trang )

Sức sống mãnh liệt của lục bát:..
Tác giả: Chu Văn Sơn
xuanduc.vn : Báo toquoc.vn vừa tổ chức cuộc bình chọn 99 bài thơ lục bát tiêu biểu của thế
kỉ. Đây là một hình thức tôn vinh thi ca dân tộc rất đọc đáo và thú vị. Đã có 29 bài được giới
thiệu trong đêm Hội Lục bát...
Xin giới thiệu bài viết như là một đề dẫn văn chương của nhà thơ Chu Văn Sơn và 29 bài thơ
lục bát được chọn
Sức sống mãnh liệt của lục bát
Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre. Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu
nhất, đó hẳn là hoa sen. Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài. Nếu
chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu... Cũng như thế, nếu chọn trong nền
thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, hẳn đó phải là
Lục bát. Người Âu Tây tự hào về thể Sonnê, người Trung Quốc tự hào về thơ Đường luật, người
Nhật Bản tự hào về thơ Haiku..., thì người Việt Nam có quyền tự hào về thể Lục bát. Lục bát là
niềm kiêu hãnh của thơ Việt. Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc
mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất.
Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục
bát. Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền chủ yếu bằng lục
bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp cháu con
cũng chủ yếu bằng lục bát... Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí
thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc
về bản sắc dân tộc này.
***
Lục bát có tự bao giờ? Người ta đã cố gắng tìm câu trả lời. Nhưng mọi trả lời đến nay
vẫn chỉ là giả thuyết. Bởi cách sinh tồn của lục bát xa xưa là sống trong trí nhớ, sống qua
đường truyền miệng của bao thế hệ người Việt, ít khi nằm im lìm trên trang giấy, nên tìm kiếm
văn bản lục bát đầu tiên, kể cả dạng manh nha, dạng tiền thân của thể loại, để xác định niên
đại của nó là việc thiên nan vạn nan. Tuy nhiên, cội nguồn bao giờ cũng là mối băn khoăn khôn
cầm của nhân gian. Cội nguồn của lục bát cũng thế. Nó vẫn luôn là một bí mật đầy hấp dẫn,
luôn mời gọi những cuộc khám phá đầy phiêu lưu của các nhà thi học, đặc biệt là "lục bát học".
Chắc chắn sẽ còn nhiều cuộc lội ngược về ngọn nguồn của tiếng Việt, lội ngược về cái vùng


được xem là tiền sử của văn học và thơ ca Việt để mà khảo sát, tìm kiếm, lục lọi, để truy tìm
bằng được khởi thuỷ của thể loại này. Mà cuộc tìm kiếm như thế, lắm khi, cũng oái oăm như cái
điều mà một câu lục bát đã nói đến: Đem vàng đi đổ sông Ngô / Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông
Tương. Khởi thuỷ sớm hay muộn còn chưa có gì thật chắc, nhưng một điều có thể đoan chắc:
lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt, tiếng Việt đã nuôi lớn lục bát, đồng thời, chính lục bát
cũng góp mình làm cho tiếng Việt hay hơn, đẹp hơn. *** Chỉ có hai câu, mười bốn
tiếng, mà một cặp lục bát tiềm tàng những khả năng biểu hiện vô tận. Nó luôn dư sức trần
thuật: Đêm qua tát nước đầu đình / Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen (Ca dao), Này chồng
này mẹ này cha / Này là em ruột này là em dâu (Nguyễn Du), Đang trưa ăn mày vào chùa / Sư
ra cho một lá bùa rồi đi / Lá bùa chẳng biết làm gì / Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày (Đồng Đức
Bốn)... Nó vô cùng dồi dào năng lực trữ tình: Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt đắng
cay muôn phần (Ca dao), Nghe đi rời rạc trong hồn /Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi (Huy
Cận), Rồi lên ta uống với nhau / Rót đau lòng ấy vào đau lòng này (Trần Huyền Trân), Ngày
qua ngày lại qua ngày / Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng (Nguyễn Bính), Mái gianh ơi hỡi
mái gianh / Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương (Trần Đăng Khoa)... Nó dôi dả năng lực
triết luận: Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau, Có tài mà cậy
chi tài / Chữ tài liền với chữ tai một vần (Nguyễn Du), Xin chào nhau giữa con đường / Mùa
xuân phía trước miên trường phía sau, Hỏi tên rằng biển xanh dâu / Hỏi quê rằng mộng ban
đầu đã xa (Bùi Giáng), Mẹ ru cái lẽ ở đời / Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn,Ta đi trọn
kiếp con người / Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru, Có gì lạ quá đi thôi / Khi gần thì mất xa xôi
lại còn (Nguyễn Duy)... Nó đáp ứng mọi yêu cầu trào tiếu: Một rằng thương hai rằng thương /
Có bốn chân giường gãy một còn ba (Ca dao), Anh đi công tác Plây / Ku dài dằng dặc biết ngày
nào ra (Ca dao mới), Thương đùng đùng nhớ đùng đùng / Yêu nhau quẫy nát một vùng chiếu
chăn (Võ Thanh An),Ối giời ơi nõn nà chưa / Bột trinh bạch đấy giời vừa rây xong, Ễnh ềnh ệch
hõn hòn hon thùi lùi (Nguyễn Duy)... Chỉ có hai câu, 14 tiếng, với áp lực lớn về tính chẵn của
tiết tấu, mà nhịp lục bát vẫn biến hoá vô chừng. Nó có thể dàn đều nhịp: Năm năm tháng
tháng ngày ngày / Lần lần lữa lữa rày rày mai mai (Ca dao), Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều /
Chày đêm nện cối đều đều suối xa (Tố Hữu)...Nó có thể co kéo những trùng điệp, tạo nên nhịp
dích dắc: Còn tình yêu của đôi ta / Đến đây là đến đây là là thôi (Nguyễn Bính)... Nó có thể
đăng đối nhịp: Người lên ngựa kẻ chia bào, Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường (Nguyễn

Du),Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương (Á Nam Trần Tuấn Khải)... Nó có thể đảo nhịp: Cái
gì như thể nhớ mong /Nhớ nàng, không, quyết là không nhớ nàng (Nguyễn Bính),Thác, bao
nhiêu thác cũng qua / Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời (Tố Hữu), Em đi để lại chuỗi
cười/ Trong tôi vỡ... một khoảng trời pha lê (Phạm Công Trứ), Được lúa, lúa đã gặt bông / Được
cải, cải đã chặt ngồng muối dưa (Đoàn Thị Lam Luyến)... Nó có thể tràn nhịp: Làng ta lại lóp
ngóp làng /Lòng ta lại ếch nhái hoang cả lòng (Nguyễn Duy), Con xin ngắn lại đường gần / Một
lần rồi mẹ hãy dần dần đi (Trúc Thông)... Nó có thể vắt hàng: Trời cao xanh ngắt. Ô kìa /Hai
con hạc trắng bay về Bồng Lai (Thế Lữ)... Chỉ có 14 tiếng, với hai câu chật chội, mà lục bát vẫn
có cách dùng chữ với những chùm đôi, chùm ba, thậm chí, vẫn gói ghém được cả những chùm
bốn cồng kềnh, khiến lời thơ uyển chuyển co giãn phóng túng đến lạ lùng: Nắng thoai thoải
nắng chiều lưng lửng chiều (Nguyễn Bính),Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham (Nguyễn Du),Ở
đây có những người con / Mang theo cái nõn nòn non lên ngàn, Ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma
/ Hóa ra ta gặp bóng ta trên tường (Nguyễn Duy)... Chỉ có 14 tiếng, với đắp đổi bằng trắc khắt
khe, dễ sa vào đơn điệu, thế mà trên thực tế, lục bát vẫn có những cách dàn xếp bằng trắc vần
vèo thú vị và hấp dẫn: Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh (Nguyễn Du), Ngã ba ngã bảy
về đâu / Cái ngáng làm cớ cho nhau chuyện trò (Hữu Thỉnh), Đến đây gió cũng đi vòng / ngoằn
theo khoeo núi ngoèo trong khuỷu rừng (Nguyễn Duy)... Thường, mỗi cặp lục bát là một khúc
thức chỉ tải vừa một giọng, ví như giọng ngợi ca: Nhớ Ông cụ mắt sáng ngời / Áo nâu túi vải
đẹp tươi lạ thường (Tố Hữu)... Nhưng, cũng trong phạm vi chật hẹp của một khúc thức thế thôi,
mà lục bát vẫn có thể chuyển làn qua hai giọng mau lẹ, tạo hiệu ứng trào phúng kì thú: Bác
Thành có chiếc quần nâu / Bác rất giản dị bạ đâu cũng ngồi, Hoan hô đồng chí Hà Đăng / Ấn
vào tàu chạy băng băng như rùa (ca dao mới)... Và, khi cần thiết, lục bát vẫn có thể xé cả
mình ra, đảo vần, ngắt hàng, biến thể, phá thể, thậm chí, tăng vọt số chữ, thế mà vẫn... cứ là
lục bát: Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo / Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng
qua" (ca dao)... Tiềm năng hình thức của lục bát là vô cùng. Làm sao có thể khai thác hết !
*** Từ xưa đến nay, lục bát vẫn sóng bước hai phong cách: dân gian và cổ điển. Không
thể nói đằng nào hơn đằng nào kém. Đó là hai vẻ đẹp lục bát. Cả hai song hành, chuyển hoá và
bổ sung cho nhau. Về tổ chức lời thơ, lục bát cổ điển theo điệu ngâm (coi trọng tính uyên súc
của ý, cú pháp của văn viết, chất liệu ngôn từ nghiêng hẳn về thực từ), còn lục bát dân gian
theo điệu nói (coi trọng việc biểu hiện xúc cảm trực tiếp, cú pháp của văn nói, ngôn từ với phổ

rộng gồm thực từ và thoả mái hư từ, thậm chí, hết sức ưa dùng khẩu ngữ). Cùng viết về một
cảnh tương tự nhau, cùng bộc lộ những cung bậc cảm xúc gần gũi nhau, nhưng cặp lục bát
này: Buồn trông cửa bể chiều hôm / Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa là điệu ngâm -
thật uyên súc bởi được nén chặt toàn những thực từ, còn cặp này: Anh đi đó, anh về đâu ? /
Cánh buồm nâu, cánh buồm nâu, cánh buồm rõ ràng là điệu nói - cứ như buột miệng nói chơi
chơi, lỏng là lỏng lẻo, thế mà đâu có chịu nhường phần súc tích cho ai! Mỗi cặp là một vẻ đẹp
riêng, không thể nào đánh đổi, mỗi cặp là con đẻ của một phong cách lục bát đó. Nếu thành
tựu nổi bật nhất của lục bát dân gian là ca dao, thì lục bát cổ điển được viết bởi những cây bút
bác học và kết tinh chói ngời là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Những giai đoạn sau, trong bước
phát triển nào của thơ, người ta cũng luôn thấy sóng đôi hai phong cách này. Ví như đầu thời
Thơ mới, là cặp Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải, đằng nghiêng về cổ điển, đằng nghiêng về
dân gian. Giữa thời Thơ mới là cặp Nguyễn Bính - đượm chất dân gian và Huy Cận - đậm màu
cổ điển... Đến thời sau này thì hai phong cách ấy thường hoà vào nhau, mà chất dân gian
thường trội hơn, đồng hoá cả chất cổ điển. Nổi lên nhiều cây bút sáng giá: Tố Hữu, Bùi Giáng,
Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Trần Đăng Khoa, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ... Cứ thế, qua các
thời, lục bát luôn như một dòng sông, mà các dòng chảy của nó cứ sóng sánh và quyện hoà để
làm giàu cho nhau, làm nên cái diện mạo bền bỉ mà luôn mới mẻ của lục bát. *** Trong thời
buổi hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, dường như đang có hai thái độ trái ngược đối với lục bát.
Lắm kẻ thờ ơ, hoài nghi khả năng của lục bát. Họ thành kiến rằng lục bát là thể thơ quá gò bó
về vần luật, về thanh luật, về tiết tấu; nó đơn điệu, nó bằng phẳng, quê mùa. Họ vội cho rằng
lục bát chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thống. Còn tâm sự
đầy những suy cảm tinh vi phức tạp của người hiện đại thì lục bát khó chuyển tải. Họ lầm tưởng
rằng lục bát sẽ khó theo kịp nhịp biến hoá đầy bấn loạn của tư duy thơ hiện đại. Thậm chí, có
người còn coi lục bát như một rào cản đối với những lối tư duy nghệ thuật tân kì. Và, họ từ chối
lục bát để một mực chạy theo những thể khác. Thực ra, mọi vẻ đẹp cùng bíến thái mơ hồ nhất
của thiên nhiên, mọi biến động phức tạp khôn lường của đời sống, mọi tầng sống sâu xa huyền
diệu nhất của tinh thần cá thể, mọi khuynh hướng tư duy nghệ thuật, dù truyền thống hay tối
tân, đều không xa lạ với lục bát. Vấn đề là người viết có đủ tài để làm chủ được lục bát hay
không. Vì thế mà có xu hướng ngược lại, nhiều người đã nhận thấy ở lục bát những ưu thế
không thể thơ nào có được. Họ đã tìm về lục bát. Họ ý thức rõ, từ xưa đến nay, lục bát luôn là

thể thơ đầy thách thức. Sự gò bó có thể là một khó khăn bất khả vượt đối với ai đó, nhưng lại
là một thách thức đầy hấp dẫn đối với những tài năng thơ thiết tha với tiếng Việt, thiết tha với
điệu tâm hồn Việt. Họ nâng niu, chăm chút. Họ làm mới, họ cách tân, để gửi gắm tấc lòng của
con người hôm nay vào thể thơ hương hoả của cha ông. Họ dùng lục bát như một phương tiện
tâm tình gần gũi, để nói những gì sâu sắc nhất của tâm tư. Trong thực tế, lục bát với người này
là sở trường, với người kia là sở đoản. Nhưng, về thái độ, thì sẽ là không quá lời khi bảo rằng:
trân trọng lục bát cũng là một thước đo về văn hoá thơ với một người thơ Việt. Nhờ những tấm
lòng và tài năng ấy mà thế kỉ XX vẫn chứng kiến một cuộc chạy tiếp sức hào hứng không biết
đến mệt mỏi của lục bát. Đọc thơ lục bát thế kỉ qua, có thể thấy rõ rệt, càng về sau, dáng điệu
lục bát càng trẻ trung, hơi thở lục bát càng hiện đại hơn so với hồi đầu. Điều đó là bằng chứng
khẳng định lục bát vẫn trường tồn, lục bát vẫn gắn bó máu thịt với tâm hồn Việt trên con
đường hiện đại. Chừng nào tre còn xanh, sen còn ngát, chừng nào tà áo dài còn tha thướt,
tiếng đàn bầu còn ngân nga, chừng ấy những điệu lục bát vẫn tiếp tục sinh sôi trên xứ sở này.
Lục bát mãi mãi là một tài sản thiêng liêng của nền văn hoá Việt. Chừng nào thế giới còn chưa
thấu tỏ vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy họ chưa thực sự hiểu vẻ đẹp của thơ Việt. Và, chừng nào
ta còn chưa làm cho thế giới tiếp nhận được vẻ đẹp của lục bát, chừng ấy nền thơ Việt vẫn còn
chưa thực sự làm tròn sứ mạng của mình. Văn Chỉ, Thu Mậu Tý CVS
Chân quê Nguyễn Bính
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.

Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều (1936)
* * *
Vào chùa
Đồng Đức Bốn
Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.
* * *
Một mai
Hoàng Nhuận Cầm
Một mai chết thật âm thầm
Mấy cành cỏ dại khẽ trầm ngâm ru
Một mai chết hết hận thù
Mắt chầm chậm khép, tay từ từ xuôi
Một mai chết thật buồn cười
Tóc tôi buông xuống như người ngủ mơ
Một mai chết thật tình cờ
Thuốc trên tay khói vẫn dờ dật bay...
Một mai chết thật hao gầy
Xanh xao quần áo tháng ngày thủy tinh
Một mai chết hết tội tình
Một mình mình hát, một mình mình nghe
Một mai đi chẳng trở về
Rượu buồn đổ đắng vỉa hè buồn thiu
Một mai chết thật đìu hiu
Má lằng lặng tái, môi dìu dịu say

Một mai ngủ lá phủ đầy
Miền tâm tư vỡ tháng ngày thật xa
Một mai nằm xuống bao la
Buồn ơi, chào nhé! Khóc òa vầng trăng.
Một mai chết thật ăn năn
Tôi nằm xuống đất không cần thở than!
* * *
Buồn đêm mưa
Huy Cận
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la...
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi...
Rơi rơi... dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ...
Tương tư hướng lạc phương mờ...
Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe
Gió về, lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư
* * *
Chồng chị, chồng em
Đoàn Thị Lam Luyến
Xưa thì chị. Nay thì em
Phải duyên chồng vợ, nối thêm cho dài...
Ngỡ ngàng nặng cả đôi vai
Những cao như núi, những dài như sông
Được lúa, lúa đã gặt bông
Được cải, cải đã chặt ngồng muối dưa

Mặn mà cũng khác ngày xưa
Bâng khuâng... như chửa bao giờ bén duyên
Gần được ấm, xa được êm
Dẫm vào ruộng hoá, vụt nên mùa màng
Cái giần vục phải cái sàng
Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau .
Lá bùa từ thuở Mỵ Châu
Lá bài Trọng Thuỷ còn đau đến giờ!
Tình yêu một mất, nghìn ngờ
Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau.
Cái phận trước, cái duyên sau
Nào ai tính được dài lâu với trời ?
Khi vui, muốn có một người
Khi buồn muốn cả đất trời sẻ chung.
Đã từ hai mảnh tay không
Kể chi mẹ ghẻ, con chung, chồng người?
Dở dang suốt nửa cuộc đời
Bỗng dưng mọc một mặt trời trong nhau!
Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm.
Hà Nội 10-13.01.1990
* * *
Mẹ ra Hà Nội
Lê Đình Cánh
Mẹ ra Hà Nội thăm con
Vừa trên tàu xuống chân còn run run
Áo nâu còn thẫm mưa phùn
Còn hoai vị cỏ sực bùn lúa non...
Sang đường tay níu áo con
Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều

Khoác vai mẹ, chiếc đẫy nghèo
Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay:
Đưa em trốn ngục những ngày
Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao
Đã từng mở giữa trời sao
Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo
Củ khoai bẻ nửa nắng chiều
Bờ mương thoai thoải dài theo công trường
Đưa con đánh Mĩ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà.
Bà ra bế cháu của bà
Những mong cùng ước lòng già hôm mai
Lên thang chẳng dám bước dài
Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!
Lời ru bà thuộc thủa nào
Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa
Để hồn cháu có núi Nưa
Tiếng cồng Bà Triệu năm xưa vọng về
Lam Sơn rừng núi ba bề
Lũng Nhai vang mãi lời thề nước non
Trải bao sông cạn đá mòn
Còn con còn cháu thì còn cha ông
Để hồn cháu có dòng sông
Câu hò trên ngã Ba Bông sum vầ
Sào tre đêm gõ nhịp gầy
Ba khoang đò dọc chở đầy ước mong...
Mới xa đã nhớ ruộng đồng
Thương con mà chẳng đành lòng
Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.

×