Tải bản đầy đủ (.pdf) (90 trang)

Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (689.75 KB, 90 trang )

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NHƯ TUẤN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM NHƯ TUẤN

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số

: 8 34 04 02


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN NGỌC HÀ

HÀ NỘI, năm 2019


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà.
Luận văn cao học này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và
trình bày của tác giả về đề tài luận văn. Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm của
các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định. Các
số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Học viên

Phạm Như Tuấn


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Học
viện Khoa học xã hội, cùng tập thể các Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ và cán bộ
quản lý của Học viện đã tận tình truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu và
tạo các điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình cao học chuyên ngành
Chính sách công.
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà đã tận tình hướng dẫn
bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Sơn Tây; các tổ
chức chính trị - xã hội huyện; bà con Nhân dân các xã của huyện Sơn Tây;
Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Sơn Tây và Ban Chỉ đạo

Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Sơn Tây, tỉnh
Quảng Ngãi đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình đào tạo Cao học
và hỗ trợ thông tin, tài liệu giúp hoàn thành luận văn.
Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của Quý Thầy
giáo, Cô giáo và người đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên

Phạm Như Tuấn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ............................................ 8
1.1. Một số khái niệm liên quan ............................................................................. 8
1.2. Chính sách xây dựng nông thôn mới do Trung ương ban hành ....................10
1.3. Chính sách về xây dựng nông thôn mới do tỉnh Quảng Ngãi ban hành .............21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG
NGÃI .................................................................................................................345
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sơn Tây .....................................35
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh
Quảng Ngãi ..........................................................................................................38
2.3. Đánh giá chung..............................................................................................61
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI.65
3.1. Quan điểm, định hướng, mục tiêu nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi ............65
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi .............................................68
KẾT LUẬN .........................................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

XDNTM

Xây dựng nông thôn mới

2

NTM

Nông thôn mới

3

XDNT


Xây dựng nông thôn

4

UBND

Ủy ban nhân dân

5

HĐND

Hội đồng nhân dân

6

THPT

Trung học phổ thông

7

THCS

Trung học cơ sở

8

KDC


Khu dân cư


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
1.1

1.2

2.1

Đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí Tổ chức sản xuất
theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Thu nhập bình quân đầu người theo Bộ tiêu chí Quốc
gia về xã NTM giai đoạn 2016 – 2020
Kết quả giảm nghèo trên địa bàn huyện Sơn Tây, giai
đoạn 2011-2018

Trang

16

17

43


2.2

Cơ sở hạ tầng huyện Sơn Tây

46

2.3

Tình hình giáo dục trên địa bàn huyện Sơn Tây

48

2.4

2.5

Tình hình cán bộ y tế trên địa bàn huyện Sơn Tây từ
năm 2011 đến 2018
Kết quả huy động nguồn lực thực hiện chương trình
XDNTM huyện Sơn Tây, giai đoạn 2011 - 2018

50

55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một chủ trương lớn của Đảng và

Nhà nước nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng hiện đại, văn minh, giữ gìn
bản sắc văn hóa gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được giữ vững, từng bước nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, vật
chất của người dân các vùng nông thôn.
Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X của
Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị quyết 26) và gần 09 năm thực
hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê
duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020 (Quyết định 800), nông nghiệp, nông thôn Việt Nam có nhiều chuyển biến
tích cực như: Sản xuất nông nghiệp phát triển theo chiều sâu, một số vùng sản
xuất chuyên canh tập trung đã hình thành; kết cấu hạ tầng nông thôn (hệ thống
giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, trường học, trạm y tế…) ngày một
hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí, phục vụ
sản xuất và sinh hoạt của Nhân dân; thương mại, dịch vụ vùng nông thôn không
ngừng phát triển, góp phần quan trọng tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân
vùng nông thôn, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
tích cực; tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng công nghiệp và
dịch vụ tăng dần; hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn được củng cố; dân chủ cơ
sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực nông thôn ổn
định.
Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều lĩnh vực
nêu trên, trong nông nghiệp, nông thôn và quá trình XDNTM vẫn còn nhiều bất
cập, hạn chế như: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm;
nhiều sản phẩm nông nghiệp chưa có chất lượng và năng lực cạnh tranh cao; tốc
độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa tương

1


xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông

thôn còn thấp; mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới chưa đủ sức thuyết phục, chưa
thu hút nông dân tham gia dù xu thế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp là một tất
yếu khách quan; tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưa bền vững; đời
sống vật chất, tinh thần người dân còn thấp; khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa
dân cư thành thị với dân cư nông thôn ngày càng tăng; nhiều vấn đề xã hội phức
tạp mới phát sinh; môi trường sinh thái ngày càng ô nhiễm; kết cấu hạ tầng về giao
thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt còn thiếu và hạn chế; nguồn
vốn đầu tư phần lớn còn trông chờ vào ngân sách nhà nước...
Sơn Tây là một huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn. Trong những năm qua, từ nguồn vốn đầu tư của Trung ương,
của tỉnh Quảng Ngãi theo Chương trình 135, Nghị quyết 30a và Chương trình Mục
tiêu quốc gia XDNTM; các địa phương trong huyện đã tổ chức triển khai thực hiện
XDNTM và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận như: Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khu vực nông thôn, nhất là hệ thống đường giao thông, trường học, các thiết
chế văn hóa - thể thao cơ sở phát triển nhanh; cơ cấu kinh tế nông thôn tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, nâng cao chất lượng
- hiệu quả sản xuất; sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định; tái cơ cấu ngành
nông nghiệp đang đi đúng hướng; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao quần
chúng được đẩy mạnh; chất lượng giáo dục ngày càng nâng cao; công tác phòng bệnh,
chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt kết quả tốt; hệ thống chính trị cơ sở không ngừng
được củng cố và phát huy sức mạnh tổng hợp; đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ngày
càng hoàn thiện cả về chính trị, năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và kỹ
năng vận động quần chúng; an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn tiếp tục được giữ vững
và ổn định; phong trào thi đua chung sức XDNTM được Nhân dân và xã hội đồng
tình hưởng ứng mạnh mẽ, tạo ra sức lan tỏa lớn và thật sự mang lại hiệu quả thiết
thực đối với chương trình XDNTM,... Song, so với mặt bằng chung của cả nước và
tỉnh Quảng Ngãi thì tình hình XDNTM tại huyện vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập
như: Công tác quy hoạch chậm và thiếu đồng bộ; các tiêu chí yêu cầu chưa phù hợp
với điều kiện thực tế tại địa phương; hạ tầng cơ sở thấp, vốn đầu tư chưa cao; tâm lý

2



trông chờ, ỷ lại nguồn hỗ trợ từ cấp Trung ương, tỉnh còn nặng trong tư tưởng của
chính quyền địa phương; việc huy động nguồn lực trong Nhân dân, doanh nghiệp còn
nhiều hạn chế; công tác giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao dân trí, chất lượng cuộc
sống người dân có nhiều chuyển biến tích cực nhưng chưa cao, một số địa phương có
tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng không đáng kể,…

Đứng trước yêu cầu cấp thiết phải có các giải pháp, biện pháp hữu hiệu kịp
thời nhằm khắc phục thực trạng nêu trên; tác giả chọn lựa đề tài “Thực hiện chính
sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi” làm
luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công với mong muốn tìm hiểu một
cách có hệ thống từ phương diện lý luận đến thực tiễn, từ đó đề xuất, kiến nghị
những giải pháp, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này, góp phần xây
dựng bộ mặt nông thôn trên địa bàn huyện Sơn Tây giàu bản sắc văn hóa dân tộc,
dân trí được nâng cao, môi trường xanh, sạch, đẹp, an ninh được giữ vững, đời
sống tinh thần và vật chất của người dân được nâng cao.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và XDNTM là những nội dung
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Do đó, thời
gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài khoa học về vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn và XDNTM nhằm hoàn thiện, bổ sung lý luận cũng
như nâng cao hiệu quả XDNTM ở Việt Nam. Trong đó có các công trình như sau:
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “Xây dựng nông thôn mới của huyện Sóc
Sơn, Thành phố Hà Nội” của tác giả Trần Thị Hồng Phượng (2017) đã hệ thống
hóa và làm rõ cơ sở lý luận về XDNTM, từ đó phân tích thực trạng quản lý Nhà
nước về XDNTM, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên
nhân để đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác XDNTM ở
huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.
- Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “Xây dựng nông thôn mới ở huyện Mỹ

Hào, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Phạm Văn Lâm (2016) đã khái quát cơ sở lý luận
về XDNTM và trên cơ sở đánh giá thành tựu đạt được, chỉ ra các hạn chế trong

3


quá trình XDNTM ở huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, đề ra một số giải pháp nhằm
tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM giai
đoạn 2016-2020 trên địa bàn huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
- Luận văn Thạc sĩ “Giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai đến năm 2020” của tác giả Nguyễn
Thị Hoa (2012) đã đánh giá thực trạng XDNTM ở huyện Bát Xát của tỉnh Lào Cai;
từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình XDNTM ở
huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai đến năm 2020.
- Luận văn Thạc sĩ “Xây dựng nông thôn mới ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải
Dương” của Đào Xuân Anh (2011) đã nghiên cứu, đánh giá rõ thực trạng công tác
XDNTM tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; đề xuất các giải pháp nhằm phát huy
các thuận lợi, khắc phục những khó khăn để thúc đẩy XDNTM ở huyện Tứ Kỳ,
tỉnh Hải Dương trong những năm tới.
- Sách “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới – quá khứ và
hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000) đã
nêu và phân tích những thay đổi cơ bản trong nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn
hóa – xã hội ở nông thôn Việt Nam sau hơn 20 đổi mới.
- Sách “Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của
tác giả Vũ Văn Phúc (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) tập hợp nhiều công
trình nghiên cứu khoa học của nhiều tác giả là nhà khoa học, lãnh đạo Đảng, Nhà
nước từ Trung ương đến cơ sở về XDNTM ở Việt Nam. Các tác giả làm rõ một số
vấn đề lý luận XDNTM, kinh nghiệm quốc tế về XDNTM, thực tiễn và kết quả
bước đầu về XDNTM ở Việt Nam.
- Bài viết “Chương trình XDNTM: Một cái nhìn từ lịch sử chính sách” (của

nhóm tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Trung Kiên, Bùi Hải Yến và Phùng Thị Hải
Hậu, đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 – 2015) nghiên cứu sâu về
tư tưởng hình thành khái niệm nông thôn mới, XDNTM và lịch sử phát triển về
nông thôn mới ở Việt Nam.
- Ở Quảng Ngãi, đến nay có 02 công trình nghiên cứu về XDNTM, đó là

4


Luận văn thạc sĩ Kinh tế “Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Tư Nghĩa,
tỉnh Quảng Ngãi” và Luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính sách
xây dựng nông thôn mới từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”. Hai luận văn này chỉ dừng
lại việc phân tích, đánh giá chung chung kết quả đạt được về XDNTM, chỉ ra
những hạn chế, khó khăn trong việc XDNTM và đề ra các giải pháp nâng cao hiệu
quả XDNTM ở các địa phương đồng bằng, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội khác
với huyện Sơn Tây.
Nhìn chung, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, có
hệ thống về XDNTM tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi. Do vậy, đề tài “Thực
hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng
Ngãi” có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, góp phần đánh giá, phân tích đúng thực
trạng XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi và từ đó, định
hướng, đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn mới ở huyện
Sơn Tây nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Từ lý luận về Chính sách công, luận văn đánh giá tình hình thực hiện chính
sách XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đề xuất các
giải pháp tăng cường thực hiện chính sách XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây,
tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu lý luận về việc thực hiện chính sách XDNTM của
Việt Nam và của tỉnh Quảng Ngãi; thực trạng thực hiện chính sách XDNTM trên
địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi; các giải pháp tăng cường hiệu quả thực
hiện chính sách XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là thực hiện chính sách XDNTM trên địa bàn huyện

5


Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi và trong
khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2018.
5. Cơ sở lý luận, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và XDNTM.
5.2. Cách tiếp cận
Cách tiếp cận nghiên cứu đề tài là cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa
học xã hội, cách tiếp cận nghiên cứu Chính sách công theo chu trình chính sách từ
khâu hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đề tài: phân tích chính sách; phân tích, tổng hợp,
thu thập thông tin, thống kê, dự báo và các phương pháp chung của khoa học xã
hội.
Phương pháp thu thập thông tin áp dụng cho việc thu thập thông tin trong

văn kiện các đại hội Đảng, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, các bộ,
ngành và các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, thông tin trong các công
trình nghiên cứu về Chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi và của Việt Nam.
Phương pháp phân tích và tổng hợp áp dụng cho nghiên cứu quy trình thực
hiện chính sách công trong thực tiễn quản lý quá trình phát triển nông thôn, các tài
liệu sẵn có và các kết quả nghiên cứu đã có, nhằm làm sáng tỏ hơn các nội dung.
Tổng hợp, phân tích các tài liệu và các công trình nghiên cứu trước đó để xây
dựng các căn cứu làm sáng tỏ quan điểm về vấn đề nghiên cứu. Các tài liệu được
phân tích và tổng hợp là tài liệu chính thống, có nguồn trích dẫn cụ thể, tin cậy, có
các thông tin, số liệu khảo sát thực tế về tình hình kinh tế - xã hội có ảnh hưởng

6


đến XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.
Phương pháp thống kê, dự báo áp dụng để đưa ra những nhận định khách
quan về hiện trạng của thực tiễn, cũng như những vấn đề có thể phát sinh trong
XDNTM.
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu liên ngành của chính sách công, quản trị học, kinh tế học, xã hội học và các
phương pháp chung của khoa học xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và tính thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về việc thực hiện
chính sách XDNTM ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi; từ đó, làm phong phú thêm
lý thuyết chính sách công vận dụng vào thực tiễn của các địa phương Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong XDNTM trên địa
bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi; đề xuất, kiến nghị các giải pháp tăng cường

hiệu quả thực hiện chính sách XDNTM trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng
Ngãi.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm phần Mở đầu, Kết luận và 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện Chính sách xây dựng
nông thôn mới.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Mục tiêu, định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.

7


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Nông thôn và Nông thôn mới
1.1.1.1. Khái niệm về Nông thôn
Hiện nay, có nhiều quan điểm về nông thôn như: Theo Đặng Kim Sơn
(2010), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,
thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã. Còn
theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở thì "Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ
những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng
nông nghiệp".
Tuy nhiên. ở nước ta, để thống nhất, người ta sử dụng khái niệm nông thôn
theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, đó là: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc
nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính

cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Đây được xem là khái niệm được tác giả sử dụng
trong quá trình nghiên cứu luận văn.
1.1.1.2. Khái niệm Nông thôn mới
Có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về nông thôn mới. Tuy vậy, theo
Nghị quyết số 26-NQ/TW, có thể hiểu "Nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự
lãnh đạo của Đảng được tăng cường".
Từ khái niệm nông thôn tại mục 1.1.1.1 và định nghĩa nông thôn mới tại
Nghị quyết số 26-NQ/TW, chúng ta có thể khái quát: Nông thôn mới là khu vực
cộng đồng dân cư nông thôn sinh sống mà không thuộc nội thành, nội thị các thành
8


phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã
và có những điểm khác so với nông thôn truyền thống Việt Nam; đó là: Có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự
lãnh đạo của Đảng được tăng cường.
1.1.2. Xây dựng Nông thôn mới và Chính sách xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1. Khái niệm Xây dựng nông thôn mới
XDNTM có thể hiểu là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn
(đặc biệt là nông dân) đồng lòng xây dựng gia đình, thôn, xã của mình khang
trang, sạch đẹp; thúc đẩy phát triển sản xuất đa dạng trên các lĩnh vực nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; xây dựng nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh
nông thôn được đảm bảo; cải thiện và nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh

thần của nông dân,…và XDNTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng làng, xã phát triển giàu đẹp, dân
chủ, văn minh.
Tóm lại, xây dựng nông thôn mới là quá trình xây dựng kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội, môi trường nông thôn hiện đại, ổn định, giàu bản sắc văn hóa
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn, phát triển hài hòa, rút
ngắn khoảng cách giữa thành thị với nông thôn. Quá trình xây dựng với vai trò
chủ thể là người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ
chức khác.
1.1.2.2. Khái niệm Chính sách xây dựng nông thôn mới
Để hiểu được chính sách XDNTM, ta cần tìm hiểu khái niệm về chính sách
công. Chính sách công tiếng Anh là Public policy - chính sách công là chính sách của
nhà nước; cũng như pháp luật, chính sách công ra đời từ khi có nhà nước. Từ khi ra
đời đến nay, khái niệm chính sách công được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, tùy
thuộc vào quan điểm và mục đích nghiên cứu của các học giả khác nhau, như:

9


Thomas R. Dye quan niệm "Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn
làm hay không làm" . Đây là định nghĩa ngắn gọn, được nhiều học giả tán thành.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải cũng đưa ra khái niệm chính sách công
"Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và
Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các
vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định".
Từ quan niệm về chính sách công nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Chính sách
XDNTM là một tập hợp các quyết định có liên quan của Đảng, Nhà nước nhằm
thực hiện mục tiêu và giải pháp xây dựng nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô

thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân
tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật
chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, rút ngắn khoảng cách
giữa thành thị với nông thôn.
1.2. Chính sách xây dựng nông thôn mới do Trung ương ban hành
1.2.1. Quá trình hình thành quan điểm về xây dựng NTM ở Việt Nam
Quá trình hình thành quan điểm về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) ở
Việt Nam trãi qua nhiều chuyển biến lịch sử và gắn với các kỳ Đại hội, nghị quyết
của Đảng. Theo nhóm tác giả Bùi Quang Dũng, Nguyễn Trung Kiên, Bùi Hải Yến
và Phùng Thị Hải Hậu trong bài viết “Chương trình xây dựng nông thôn mới: Một
cái nhìn lịch sử chính sách” đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 –
2015 thì thuật ngữ NTM xuất hiện từ các văn kiện Đại hội lần IV của Đảng với ý
nghĩa là nông thôn xã hội chủ nghĩa; song mãi đến Đại hội lần thứ VII của Đảng
thì tư tưởng về NTM mới bắt đầu manh nha hình thành sơ khai. Tiếp tục kế thừa
và phát triển tư tưởng về XDNTM từ các kỳ Đại hội và nghị quyết trước, Đại hội
X (2006) của Đảng nêu rõ: Phát triển kinh tế phải đi cùng với XDNTM, “tổ chức
chương trình XDNTM nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống văn
minh, sạch đẹp, gắn với hình thành các khu dân cư đô thị hóa”.

10


Đặc biệt, với Nghị quyết 26, Đảng ta khái quát rõ nét, hệ thống về NTM,
XDNTM: XDNTM phải gắn chặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn với nhau;
XDNTM là xây dựng một trạng thái phát triển cao, toàn diện của xã hội nông
thôn, ở đó có kết cấu kinh tế - xã hội phù hợp, có sự phát triển về văn hóa, dân trí,
môi trường sinh thái, có ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong
phú, đậm đà bản sắc dân tộc; XDNTM nhằm “tạo động lực cho phát triển nông
nghiệp, nâng cao đời sống nông dân; XDNTM là “xây dựng, tổ chức cuộc sống
của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và

môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ”. Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục triển khai
chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các
bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa
bản sắc của nông thôn Việt Nam”.
Như vậy, có thể thấy quan điểm của Đảng về XDNTM hình thành từ rất
sớm; song từ sau khi có nghị quyết Đại hội lần thứ X, mà rõ nhất là từ sau khi có
Nghị quyết 26, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương và
các địa phương mới xây dựng, ban hành các chính sách về XDNTM và triển khai
thực hiện.
1.2.2. Quá trình hình thành chính sách xây dựng NTM ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết 26, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành
Trung ương và các địa phương đã ban hành nhiều văn bản để xây dựng chính sách
XDNTM và triển khai thực hiện đồng bộ, phù hợp với từng giai đoạn, từng vùng
và các địa phương. Các văn bản đó cụ thể như sau:
Ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP
ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn “Chương trình mục tiêu quốc gia về Xây dựng nông thôn mới” (Nghị quyết
24) là Nghị quyết chính thức chuyển đường lối của Đảng về XDNTM từ những
quan điểm, tư tưởng, lý thuyết thành chương trình hành động cụ thể trong thực

11


tiễn bằng văn bản quy phạm pháp luật. Mục tiêu của Chương trình XDNTM là xây
dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn; tập
trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của dân cư nông thôn; hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông
thôn và nâng cao năng lực phòng, chống giảm nhẹ thiên tai.

Trên cơ sở Nghị quyết 26 và Nghị quyết 24; Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành Bộ tiêu chí
quốc gia về nông thôn mới (Quyết định 491) với quy định 05 tiêu chí lớn (quy
hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội – môi
trường và hệ thống chính trị) và 19 tiêu chí nhỏ. Các tiêu chí nhỏ là: (1) quy hoạch
và thực hiện quy hoạch, (2) giao thông, (3) thủy lợi, (4) điện, (5) trường học, (6)
cơ sở vật chất văn hóa, (7) chợ nông thôn, (8) bưu điện, (9) nhà ở dân cư, (10) thu
nhập, (11) hộ nghèo, (12) cơ cấu lao động, (13) hình thức tổ chức sản xuất, (14)
giáo dục, (15) y tế, (16) văn hóa, (17) môi trường, (18) hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, (19) an ninh trật tự xã hội). Đồng thời, Nghị quyết xác định
NTM theo cấp hành chính gồm: xã NTM, huyện NTM và tỉnh NTM.
Qua Bộ tiêu chí quốc gia này, thì “xã” làm đơn vị cơ bản, quyết định điều
kiện huyện NTM và tỉnh NTM (huyện NTM là có 70% số xã NTM; tỉnh NTM là
tỉnh có 80% số huyện NTM). Bên cạnh đó, để thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về
NTM, ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/QĐTTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 – 2020 (Quyết định 800). Đây là cơ sở để các bộ, ngành, địa phương
triển khai thực hiện.
Đặc biệt, để Bộ tiêu chí quốc gia về NTM phù hợp với từng thời kỳ, từng
vùng, địa phương, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời ban hành các quyết định sửa
đổi, bổ sung Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và điều chỉnh các giai đoạn thực hiện
chương trình XDNTM như: Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/3/2013 sửa đổi
một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới – theo Quyết định 491
(Quyết định 342); Quyết định số 558/QĐ-TTg ngày 05/4/2016 về việc ban hành

12


Tiêu chí huyện nông thôn mới và Quy định thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (Quyết định 558); Quyết định số
1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định 1600); Quyết định số

1760/QĐ-TTg điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định 1760)... Trong đó, giai đoạn
2016-2020, Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM ban hành kèm Quyết định số 1980/QĐTTg ngày 17/10/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới
giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định 1980) có nhiều thay đổi, bổ sung so với Bộ
tiêu chí quốc gia về TNM ban hành kèm theo Quyết định 491. Cụ thể là, vẫn giữ
nguyên 05 tiêu chí lớn và 19 tiêu chí nhỏ, song lại chia nhỏ 19 tiêu chí nhỏ thành
49 tiêu chí cụ thể.
Căn cứ vào Bộ tiêu chí quốc gia về NTM và chương trình XDNTMT của
Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ
động phối hợp các bộ, ngành Trung ương ban hành các thông tư, thông tư liên tịch
hướng dẫn cụ thể làm cơ sở cho các bộ, ngành Trung ương ban hành thông tư
hướng dẫn từng tiêu chí theo lĩnh vực và địa phương ban hành các văn bản triển
khai.
Có thể nói, việc ban hành các văn bản nêu trên đã khẳng định quyết tâm của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm của
Đảng về NTM, XDNTM trong thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý xác định mục tiêu, nội
dung, tiêu chí NTM, định hướng phát triển NTM và XDNTM ở nước ta đến năm
2020; đồng thời, tạo nền tảng, căn cứ pháp lý quan trọng cho Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn và các bộ, ngành Trung ương ban hành quy định, hướng dẫn
từng tiêu chí NTM cụ thể, phù hợp với từng ngành, từng vùng, từng địa phương
Tóm lại, việc hình thành chính sách XDNTM ở Việt Nam thực hiện theo
nguyên tắc: Đảng là chủ thể đề ra chủ trương, đường lối về NTM, XDNTM thông
qua các văn kiện đại hội, nghị quyết trong nhiệm kỳ đại hội và điều chỉnh đường

13


lối phát triển dài hạn; căn cứ chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ là chủ
thể cụ thể hóa, thể chế hóa thành văn bản quy phạm, quyết định hành chính,

chương trình hành động cụ thể và chỉ đạo thực hiện; các bộ, ngành Trung ương và
chính quyền địa phương đóng vai trò chủ thể hướng dẫn và trực tiếp tiến hành
thực hiện, đưa văn bản chỉ đạo, chương trình hành động của Chính phủ vào thực tế
từng ngành, địa phương, phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.
1.2.3. Các nhóm tiêu chí NTM theo chính sách XDNTM ở Việt Nam
Theo Quyết định số 491, Quyết định 342, Quyết định số 558 và nhất là
Quyết định số 1980, thì nhóm tiêu chí NTM theo chính sách XDNTM ở Việt
Nam, gồm: Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết
yếu; phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống
chính trị và giữ vững an ninh trật tự; huy động và sử dụng nguồn lực.
a) Nhóm tiêu chí phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập
Trong các nội dung xây dựng nông thôn mới thì nội dung phát triển kinh tế
và nâng cao thu nhập cho người dân nông thông được xem là quan trọng nhất.
Nhóm tiêu chí này gồm có 4 tiêu chí: Lao động có việc làm, tổ chức sản xuất, thu
nhập và hộ nghèo.
- Về tiêu chí lao động có việc làm
Theo Công văn số 4999/LĐTBXH-KHTC ngày 12/12/2016 của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia
về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (tiêu chí số 12 về lao động có việc
làm) thì:
+ Xã được công nhận đạt tiêu chí về lao động có việc làm khi có tỷ lệ
người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao
động đạt từ 90% trở lên;
+ Lao động có việc làm trong độ tuổi lao động của xã là số người trong độ
tuổi lao động có tên trong sổ hộ khẩu thường trú hoặc sổ tạm trú của xã, trong thời
gian tham chiếu có làm bất cứ việc gì (không bị pháp luật cấm) từ 01 giờ trở lên
để tạo ra các sản phẩm hàng hóa hoặc cung cấp các dịch vụ nhằm mục đích tạo thu

14



nhập cho bản thân và gia đình;
+ Người có việc làm bao gồm cả những người không làm việc trong tuần
nghiên cứu nhưng đang có một công việc và vẫn gắn bó chặt chẽ với công việc đó
(vẫn được trả lương/công trong thời gian không làm việc hoặc chắc chắn sẽ quay
trở lại làm sau thời gian không quá 01 tháng).
Ngoài ra, những trường hợp cụ thể sau đây cũng được coi là người có
việc làm:
+ Người làm việc để nhận tiền lương, tiền công hay lợi nhuận nhưng đang
tham gia các hoạt động tập huấn, đào tạo hoặc các hoạt động nâng cao kỹ năng do
yêu cầu của công việc trong đơn vị;
+ Người học việc, tập sự (kể cả bác sĩ thực tập) làm việc và có nhận được
tiền lương, tiền công;
+ Người làm việc trong các hộ/cơ sở kinh tế của chính họ để sản xuất ra
các sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ;
+ Sinh viên/học sinh/người nghỉ hưu trong thời gian tham chiếu có làm một
công việc từ 01 giờ trở lên để tạo thu nhập;
+ Người đang tìm kiếm việc làm nhưng trong thời kỳ tham chiếu có làm
một công việc từ 01 giờ trở lên để tạo thu nhập;
+ Người đăng ký hoặc người nhận bảo hiểm thất nghiệp nhưng trong thời
kỳ tham chiếu có làm một công việc từ 01 giờ trở lên để tạo thu nhập;
+ Người làm việc vì mục đích tiền công, tiền lương hoặc lợi nhuận nhưng
các khoản tiền lương, tiền công và lợi nhuận đó có thể không trả trực tiếp cho họ
mà được tích lũy vào thu nhập chung của gia đình họ.
Phương pháp tính là: Lấy số người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao
động có khả năng tham gia lao động chia cho tổng số người có việc làm trong độ
tuổi lao động so với tổng dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao
động.
- Về tiêu chí tổ chức sản xuất
Theo Hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì xã NTM đạt tiêu chí tổ


15


chức sản xuất có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã
năm 2012; có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo
bền vững. Cụ thể, đó là xã đảm bảo đạt các tiêu chí bảng sau:
Bảng 1.1. Đánh giá kết quả thực hiện tiêu chí
Tổ chức sản xuất theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Chỉ
tiêu



hình
liên
kết
sản
xuất
gắn
với
tiêu
thụ
nông
sản
chủ
lực
đảm
bảo
bền

vững

Chỉ số kiểm chứng
Nội dung

Xác định
sản phẩm
chủ lực
của xã



hình liên
kết sản
xuất và
tiêu thụ
nông sản
chủ lực
dựa trên
hợp đồng
liên kết
(bằng văn
bản)

Chỉ số
Sản phẩm phù hợp với điều kiện sản
xuất của địa phương, người dân có
kinh nghiệm sản xuất, gần thị trường
lớn… để cho ra sản phẩm an toàn,
chất lượng cao, giá thành cạnh tranh;

Có diện tích sản xuất (đối với trồng
trọt, lâm nghiệp), quy mô đàn, sản
lượng (đối với chăn nuôi, thủy sản)
lớn và gắn với hoạt động sinh kế của
đa số người dân trong xã;
Hoặc có hiệu quả kinh tế cao (gấp tối
thiểu 1,5 lần sản phẩm đại trà khác
của xã)và có tiềm năng mở rộng.
Sản phẩm nông nghiệp chủ lực của
xã phải phù hợp với quy hoạch hoặc
đề án tái cơ cấu của xã.
Ổn định tối thiểu là một (01) chu kỳ
sản xuất đối với cây lâm nghiệp, hai
(02) chu kỳ thu hoạch đối với các sản
phẩm khác
Sản xuất theo quy trình và chất lượng
thống nhất giữa các bên tham gia liên
kết;
Giá mua sản phẩm không thấp hơn
giá trị trường tại thời điểm thu
hoạch;
Không xảy ra hiện tượng phá vỡ hợp
đồng liên kết trên địa bàn xã.

16

Đánh giá
Đạt

Không

đạt

Lý do
không
đạt


- Về tiêu chí thu nhập
Xã đạt chuẩn về tiêu chí thu nhập khi có mức thu nhập bình quân đầu
người/năm của xã đạt mức quy định của vùng. Mức thu nhập bình quân đầu
người/năm của từng năm trong giai đoạn 2016-2020 cụ thể như sau (Quyết định số
69/QĐ-BNN-VPĐP ngày 09/01/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn):
Bảng 1.2. Thu nhập bình quân đầu người theo Bộ tiêu chí Quốc gia
về xã NTM giai đoạn 2016 – 2020
Tên
tiêu
chí

Nội dung
tiêu chí

Chỉ
Đồng
TDMN
tiêu
bằng
phía
chung
sông

Bắc
Hồng

Năm
2016
Năm
Thu nhập
bình quân 2017
Thu
đầu người Năm
nhập khu vực nông 2018
thôn (triệu Năm
đồng/người) 2019
Năm
2020

Chỉ tiêu theo vùng
Duyên
ĐB
Bắc
Đông
hải
Tây
sông
Trung
Nam
Nam Nguyên
Cửu
Bộ
Bộ

TB
Long

≥ 30

≥ 22

≥ 33

≥ 22

≥ 27

≥ 27 ≥ 39 ≥ 33

≥ 34

≥ 26

≥ 37

≥ 26

≥ 31

≥ 31 ≥ 44 ≥ 37

≥ 38

≥ 30


≥ 41

≥ 30

≥ 35

≥ 35 ≥ 49 ≥ 41

≥ 42

≥ 33 ≥ 45,5

≥ 33

≥ 38

≥ 38 ≥ 54 ≥ 45,5

≥ 45

≥ 36

≥ 36

≥ 41

≥ 41 ≥ 59 ≥ 50

≥50


- Về tiêu chí hộ nghèo
Theo Công văn số 4999/LĐTBXH-KHTC ngày 12/12/2016 của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia
về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020, thì xã đạt chuẩn về tiêu chí hộ nghèo
khi tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 của xã đạt mức quy định của
vùng.
Tỷ lệ hộ nghèo của xã được tính theo công thức sau đây:
Tổng số hộ nghèo của xã
Tỷ lệ hộ nghèo của xã =

(đã trừ số hộ nghèo bảo trợ xã hội)
Tổng số hộ dân cư của xã
(đã trừ số hộ nghèo bảo trợ xã hội)
17

x 100%


b) Nhóm tiêu chí xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
Theo quy định của Quyết định số 69/QĐ-BNN-VPĐP ngày 09/01/2017 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện
Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, xã đạt tiêu chí về
giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng
thương mại nông thôn, thông tin và tuyên truyền, nhà ở dân cư khi đáp ứng đủ các
yêu cầu sau:
- Về giao thông: Có đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa,
đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh;
đường trục thôn, bản, ấp và đường liên thôn bản, ấp ít nhất được cứng hóa đảm
bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh;

đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa theo qui định cụ thể của
UBND cấp tỉnh; đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận
tiện quanh năm theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh.
- Về thủy lợi: có 80% trở lên diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới
và tiêu nước chủ động theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh; đảm bảo đủ điều
kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo qui định về phòng, chống thiên tai tại chỗ.
- Về điện: Phải đạt chuẩn theo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện và có tỷ lệ
hộ dân sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt quy định của vùng.
- Về trường học: Đạt chuẩn tiêu chí về trường học khi có tỷ lệ trường học
các cấp; mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có cơ sở vật chất và thiết bị
dạy học đạt chuẩn quốc gia theo mức quy định của vùng.
- Về cơ sở vật chất văn hóa: Có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân
thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã theo qui định cụ thể của
UBND cấp tỉnh; có điểm vui chơi, giải trí thể thao cho trẻ em và người cao tuổi
theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh; có 100% số thôn, bản, ấp có nhà văn hóa
hoặc nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng.
- Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: Có chợ nông thôn hoặc chợ liên
xã theo qui định cụ thể của UBND cấp tỉnh; có điểm mua bán tập trung, giao

18


×