Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường nội địa.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (299.81 KB, 35 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM.................................2
1.1. Khái quát về hoạt động tiêu thụ sản phẩm.....................................................2
1.1.2. Vị trí.............................................................................................................2
1.1.3. Vai trò..........................................................................................................2
1.2. Nhiệm vụ.............................................................................................................3
1.3. Nội dung.............................................................................................................. 4
1.3.1. Nghiên cứu thị trường..................................................................................4
1.3.2. Kế hoạch hoá tiêu thụ..................................................................................4
1.3.3. Chính sách marketing-mix trong doang nghiệp công nghiệp.......................4
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ...............................................6
2.1.1 Các nhân tố về kinh tế..................................................................................6
2.1.2 Khoa học công nghệ.....................................................................................6
2.1.3 Khách hàng..................................................................................................6
2.1.4 Chiến lược và giá bán..................................................................................6
2.1.5 Số lượng nhà cung cấp.................................................................................7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM MAY
MẶC VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI..........................................................8
2.1. Khái quát về tình hình sản xuất sản phẩm may mặc của Việt Nam...............8
2.2. Thực trạng tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường nội địa.........16
2.3. Đánh giá chung về hoạt động tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam trên
thị trường nội địa....................................................................................................19
2.3.1. Ưu điểm.......................................................................................................19
2.3.2. Hạn chế......................................................................................................20
2.3.3 .Nguyên nhân của hạn chế...........................................................................22
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP.........................................................................25
3.1. Giải pháp vĩ mô................................................................................................25
3.1.1. Các chính sách kích cầu của nhà nước......................................................25



3.1.2. Đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam..........26
3.2. Giải pháp vi mơ................................................................................................27
3.2.1. Hồn thiện nghiên cứu thị trường và đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm..............27
3.2.2. Phân đoạn thị trường với nhóm khách hàng có thu nhập thấp...................28
3.2.3. Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm..........................................29
3.2.4. Đầu tư vào các dòng sản phẩm mục tiêu “trang phục may sẵn hàng
hiệu Việt Nam”.....................................................................................................30
KẾT LUẬN.................................................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường ,tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất của
quá trình sản xuất kinh doanh, là khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất và nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó cũng là mối quan tâm hàng
đầu của bất kỳ một loại doanh nghiệp nào. Vì có tiêu thụ được sản phẩm thì mới
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và doanh nghiệp mới có thể mở rộng sản xuất
và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Sau 2 năm khủng hoảng kinh tế thế giới,
nền kinh tế của nhiều nước đã bước đầu hồi phục và có những bước phát triển nhất
định nhưng chưa vững chắc và còn chứa đựng những bất ổn. Tỷ lệ thất nghiệp cao
và thu nhập giảm sút buộc người tiêu dùng phải thay đổi thói quen tiêu dùng, thắt
chặt chi tiêu và lựa chọn những sản phẩm giá rẻ hơn. Cơ sở hạ tầng cịn yếu kém,
xuất khẩu thì gặp rất nhiều khó khăn: Phải đối phó với hàng rào kỹ thuật khắc khe
và sự giám sát bán phá giá của Hoa Kỳ...Quay lại "sân nhà" là lựa chọn đang được
nhiều doanh nghiệp dệt may ưu tiên hàng đầu.
Với tính cấp thiết của vấn đề em đã chọn đề tài: “Giải pháp nhằm thúc đẩy
hoạt động tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường nội địa”.
Đề tài này nhằm hệ thống hoá lý luận về tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở đó nghiên

cứa thực trạng hoạt động tiêu thụ sản phẩm may mặc và từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm của ngành may mặc trên thị trường nội địa.


2

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1. Khái quát về hoạt động tiêu thụ sản phẩm
.1.1.

Khái niệm

Hiểu theo nghĩa rộng: Tiêu thụ hàng hóa là một quá trình kinh tế bao gồm
nhiều khâu bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu doanh nghiệp
cần thoả mãn, xác định mặt hàng kinh doanh và tổ chức sản xuất (DNSX) hoặc tổ
chức cung ứng hàng hóa (DNTM) và cuối cùng là việc thực hiện các nghiệp vụ bán
hàng nhằm đạt mục đích cao nhất.
Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động
bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa của doanh nghiệp cho khách hàng
đồng thời thu tiền về.Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thơng qua hoạt động bán
hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hố được chuyển thành tiền thực hiện vịng chu
chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục
vụ cho nhu cầu xã hội.Tiêu thụ hàng hóa là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh
doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
.1.2.

Vị trí

Tiêu thụ sản phẩm là một trong sáu chức năng hoạt động cơ bản của doanh

nghiệp: Tiêu thụ, sản xuất, hậu cần kinh doanh, tài chính, kế tốn và quản trị doanh
nghiệp. Mặc dù sản xuất là chức năng trực tiếp tạo ra sản phẩm song tiêu thụ lại
đóng vai trị là điều kiện tiền đề khơng thể thiếu để sản xuất có thể có hiệu quả.
Chất lượng của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ( doanh nghiệp sản xuất, thương mại )
phục vụ khách hàng ( doanh nghiệp dịch vụ, ngân hàng ...) quyết định hiệu quả của
hoạt động sản xuất hoặc chuẩn bị dịch vụ.
.1.3.

Vai trò

Đối với doanh nghiệp: Đối với các doanh nghiệp tiêu thụ hàng hóa đóng vai
trị quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhờ tiêu
thụ được sản phẩm hàng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới


3

diễn ra thường xuyên liên tục, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp bù
đắp dược những chi phí, có lợi nhuận đảm bảo cho q trình tái sản xuất và tái sản
xuất mở rộng.
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của doanh
nghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Bởi khi khối
lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình qn của một đơn vị sản phẩm
giảm từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng thị phần
của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ,
tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu
thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu
dùng và khối lượng hàng hóa tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanh nghiệp càng cao.
Thơng qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các kế

hoạch kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu của xã hội
trong thời gian tới.
Đối với xã hội: Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai
trị trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất với
những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm hàng hóa được tiêu
thụ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trơi trảy
tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.
.2.

Nhiệm vụ

Mục tiêu tiêu thụ là bán hết hàng với doanh thu tối đa và chí phí kinh doanh
cho hoạt động tiêu thụ là tối thiểu, để thực hiện mục tiêu này thì hoạt động tiêu thụ
sẽ có các nhiệm vụ sau: Tiêu thụ sản phẩm phải có nhiệm vụ chủ động từ việc
nghiên cứu thị trường xác định cầu của trị trường đối với sản phẩm, cho đến đánh
giá khả năng sản xuất của doanh nghiệp để từ đó có các quyết định đầu tư tối ưu.
Cần tiến hành các hoạt động quảng cáo nhằm giới thiệu và thu hút khách hàng.
Trong thời buổi bùng nổ thong tin như hiện nay thì vai trị của hoạt động quảng cáo
là rất lớn, nó sẽ khuếch trương sảm phẩm của doanh nghiệp, khơi gợi khả năng tiềm


4

ẩn của cầu.
Tổ chức bán hàng và thực hiện các dịch vụ sau bán hàng nhằm bán được nhiều
hàng nhất với chi phí thấp nhất: Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật,
do đó trình độ sản xuất của các doanh nghiệp gần như là đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm đối với các doanh nghiệp may mặc của nước ta hiện nay. Vì vậy, các doanh
nghiệp có dịch vụ trong và sau khi bán hàng tốt hươn sẽ tiêu thụ được nhiều sẩn
phẩm hơn.

.3.

Nội dung

.3.1.

Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập, xử lý và phân tích các số liệu về
thị trường một cách có hệ thống.
Nghiên cứu thị trường có thể được thực hiện ở từng doanh nghiệp hoặc trong
phạm vi toàn bộ ngành kinh tế –kỹ thuật nào đó theo schafer nghiên cứu thị trường
quan tâm dến ba lĩnh vực lớn là cầu về sản phẩm, cạnh tranh về sản phẩm và nghiên
cứu mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
.3.2.

Kế hoạch hoá tiêu thụ

Kế hoạch hoá là việc dự kiến trước cách phương án sử dụng nguồn lực để thực
hiện những hoạt động cụ thể nào đó trong khoảng thời gian nhất định nào đó nhằm
đạt được những mục tiêu đã đặt ra trước đó
Kế hoạch tiêu thụ trong các doanh nghiệp cơng nghiệp bao gồm một số nội
dung: Kế hoạch hố bán hàng, kế hoạch hoá Marketing, kế hoạch hoá quảng cáo,
kế hoạch hố chi phí kinh doanh tiêu thụ sản phẩm.
.3.3.

Chính sách marketing-mix trong doang nghiệp công nghiệp

Marketing-mix trong các doanh nghiệp cơng nghiệp có nhiệm vụ chủ yếu là
xác định các loại sẩn phẩm phù hợp nhu cầu của từng loại thị trường trong nước và

ngoài nước cho từng giai đoạn phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xác
định hợp lý giá cả của từng loại sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, nghiên cứu
và áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm bảo đảmvà nâng cao chất lượng sản phẩm
cũng như việc hạ giá thành, xác định mạng lưới tiêu thụ, xác định hợp lý các hình


5

thức yểm trợ và xúc tiến bán hàng.
Xuất phát từ nhiệm vụ triên các chính sách Marketing-mix bao gồm bốn
chính sách thường gọi là 4 P ( Product, Price, Promotion, Place.): Chính sách sản
phẩm, Chính sách giá cả, Chính sách xúc tiến, Chính sách phân phối sản phẩm của
các doanh nghiệp công nghiệp.
.3.4.

Tổ chức hoạt động tiêu thụ và dịch vụ sau bán

Tổ chức hệ thống kênh phân phối: Để tổ chức hệ thống kênh phân phối phù
hợp có tác dụng thúc đẩy hoạt động tiêu thụ trong doanh nghiệp cơng nghiệp. Trước
tiên phải xác định tính chất của từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp chuẩn bị sản
xuất hoặc đang sản xuất, phải xác định xem nó là hàng hoá tiêu dùng hay hàng hoá
tư liệu sản xuất hoặc hàng hoá xa xỉ, nếu là hàng hoá tiêu dùng thì doanh nghiệp
nên chọn kênh phân phối gián tiếp, trao quyền cho các nhà phân phối cơng nghiệp.
Với hàng hố tư liệu sản xuất hoặc hàng hố xa xỉ thì các doang nghiệp thường tổ
chức kênh phân phối trực tiếp, nhằm tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để giới thiệu
sản phẩm và thu nhập thông tin về phiá cầu.Sau khi thiết lập được hệ thống kênh
phân phối doanh nhiệp phải thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm duy trì và phát
huy tác dụng của kênh để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp. Vấn đề cốt
lõi là việc giải quyết các mâu thuẫn và xung đột trong kênh như thế nào để vùa bảo
tồn, duy trì được kênh vừa giải quyết thoả đáng lợi ích của mỗi thành viên

Tổ chức hoạt động bán hàng: Để tổ chức hoạt động bán hàng cần xác định số
trang thiết bị bán hàng cần thiết, số lượng nhân viên phục vụ cho công tác bán hàng,
do đặc điểm của công tác bán hàng là hoạt động giao tiếp thương xuyên với khách
hàng nên vệc lưạ chọn nhân viên bán hang là hoạt động quan trọng nhất
Tổ chức hoạt động dịch vụ sau bán: Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm
duy trì và củng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm, thị trường của doanh
nghiệp nó bao gồm các hoạt động chính sau: lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, bảo hành
cung cấp các dịch vụ thay thế phụ tùng, sửa chữa, cùng với việc duy trì mối quan hệ
thông tin thường xuyên với khách hàng để thu nhập ý kiến phản hồi và sự thay đổi
trong nhu cầu của khách hàng


6

2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ
2.1.1 Các nhân tố về kinh tế
Tỷ giá hối đoái: Nếu tỷ giá hối đối tăng thì tiền Việt Nam mất gía so với
đồng ngoại tệ. Như vậy nhập khẩu giảm, xuất khẩu tăng, du lịch vào trong nước
tăng nên rất thuận lợi cho hoạt động tiêu dùng ở trong nước.
Tốc độ tăng trưởng cao sẽ kích cầu thuận lợi cho tiêu thụ
Lãi xuất cho vay giảm đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào các trang thiết bị, nhà
xưởng nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và ngược lại.
2.1.2 Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ càng hiện đại thì càng đảm bảo về chất lượng sản phẩm,
giá thành sản phẩm giảm, chi phí sản xuất giảm như vậy giá bán sẽ giảm thuận lợi
cho việc tiêu thụ sản phẩm
2.1.3 Khách hàng
Khách hàng là những người mua hàng của công ty đối với doanh nghiệp
thương mại, khách hàng là yếu tố quan nhất quyết định đến hoạt động tiêu thụ hàng
hóa cũng như sản phẩm sự sống cịn của doanh nghiệp bởi vì khách hàng tạo nên thị

trường. Những biến động tâm lý khác hàng thể hiện qua sự thay đổi sở thích, thij
hiếu, tói quen làm cho số lượng sản phẩm tiêu thụ tăng lên hay giảm đi. Việc định
hướng hoạt động kinh doanh hướng vào nhu cầu của khách hàng sẽ đem lại kết quả
khả quan cho doanh nghiệp và thói quen tổ chức dịch vụ phục vụ khách hàng, đánh
đúng tâm lý tiêu dùng là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
2.1.4 Chiến lược và giá bán
Giá cả hàng hóa là một trong những nhân tố hết sức nhậy bén và chủ yếu tác
động đến tiêu thụ hàng hóa. Giá cả có thể kích thích hay hạn chế cung cầu và ảnh
hưởng đến tiêu thụ. Xác định giá đúng sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm và
thu lợi hay chánh được ứ đọng, hạn chế thua lỗ. Giá cả cũng được sử dụng như một
vũ khí trong cạnh tranh. Song song điều kiện hiện tại công cụ chủ yếu vẫn là chất
lượng trong cạnh tranh. Nếu lạm dụng vũ khi giá cả nhiều trường hợp “gậy ông đập


7

lưng ông” không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà cịn bị thiệt hại vì doanh
nghiệp hạ giá bán thì đối thủ cạnh t anh cũng có thể hạ thấp (thậm chí thấp hơn) giá
cả cùng loại hoặc thay thế dẫn tới không thúc đẩy được tiêu thụ mà lợi nhuận cịn bị
giảm xuống. Do đó phải hết sức thận trọng trong cạnh tranh qua giá và giá bán là
một nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng. Người tiêu dùng đánh giá chất lượng sản
phẩm thông qua giá cả của nó khi đứng trước hàng hóa cùng loại hoặc thay thế.Do
đó đặt giá thấp khơng phải lúc nào cũng thúc đẩy được tiêu thụ. Cần đưa ra các
chiến lược về giá hợp lý để thúc đẩy hoạt động tiêu thụ
2.1.5 Số lượng nhà cung cấp
Đối với mỗi doanh nghiệp thì cả đầu vào đầu ra đều là hàng hóa. Hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là đạt hiệu quả tốt khi doanh nghiệp bán
hàng hóa ở múc giá xác định mà đạt hiệu quả cao nhất (chi phí thấp). Chi phí doanh
nghiệp bao gồm chi phí mua hàng và các dịch vụ khác. Việc lựa chọn nhà cung cấp
có ảnh hưởng đến chi phí mua hàng và việc bảo đảm nguồn hàng cung cấp một cách

đều đặn đạt kết quả cao cho doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp để đảm bảo bán tốt trước hết phải mua tốt. Như vậy việc
lựa chọn nhà cung cấp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản xuất. Khi lựa
chọn nhà cung cấp các doanh nghiệp cần phải tổng hợp các thông tin để làm sao lựa
chọn nhà cung cấp đảm bảo khả năng tốt nhất về hàng hóa cho doanh nghiệp một cách
thường xuyên, hàng hóa đạt chất lượng cao. Phương châm là đa dạng hóa nguồn cung
cấp, thực hiện nguyên tắc “không nỏ tiền vào một ống”. Mặt khác trong quan hệ doanh
nghiệp cần thiết tìm một nhà cung cấp chủ yếu có đầy đủ sự tin cậy nhưng phải luôn
tránh sự lệ thuộc và chủ động xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình


8

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
MAY MẶC VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI
2.1.

Khái quát về tình hình sản xuất sản phẩm may mặc của Việt Nam

Việt Nam có trên 3719 doanh nghiệp dệt may và được phân chia theo các tiêu
chuẩn sau:

(Theo: />MaTinTuc=138&Matheloai=57)

Như vậy loại hình doanh nghiệp được phân loại theo vốn thì có 5 loại hình
doanh nghiệp: Nhà nước, trách nhiệm hữu hạn và cổ phần vốn nhà nước >50%, cổ
phần , TNHH vốn NN<50%, tư nhân, nước ngoài, hợp tác xã. Phân loại theo địa



9

phương thì có 3 loại hình doanh nghiệp sau: Miền bắc, miền trung, miền nam. Phân
loại theo nhóm sản phẩm thì cũng có 3 loại hình doanh nghiệp: Dệt và may, may,
kéo sợi . Ngồi ra Tổng cơng ty Dệt may cũng khuyến khích các loại hình kinh
doanh như: liên doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài và dệt vải in ấn, sản xuất và
nhuộm, phụ kiện sản xuất. Vinatex thành lập Trung tâm kinh doanh và cung cấp
phụ kiện ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. may.
Với sự đa dạng các loại hình doanh nghiệp và được phân bổ rộng khắp đất
nước. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên
trường quốc tế với năng lực sản xuất được đánh giá là cao cụ thể như sau:
Lĩnh vực

Số Doanh
nghiệp
Upstream

1.
Cotton ginning- Bông đã cán
Spinning- Sợi
145
2.
Midstream
Weaving- Dệt
401
Knitting- Dệt kim
105
Non- woven- Không dẹt
7
Dyeing & Finishing- Hồn tất

94
3.
Downstream
Garment- May mặc
2,424
Terry towel- Khăn bơng có
vịng tuyết

Số máy móc

3,789,000 suốt

Năng lực sản
xuất (theo năm)
60,000 tấn
350,000 tấn

1,109 đơn vị

1,000 triệu m2
200,000 tấn
5,000 tấn
700 triệu m2

918,700 đơn vị

2,400 triệu đơn vị

21,800 đơn vị
3,800 đơn vị


62,000 tấn

(Theo: />Thúc đẩy sản xuất trong nước của các phụ kiện may mặc là một trong những
chiến lược quan trọng nhất của dệt may của cả nước và ngành công nghiệp may mặc
trong những năm tới.Nội dung nội bộ trong các sản phẩm may mặc của Việt Nam
hiện nay đứng ở một số 43. Chi phí nguyên vật liệu may mặc nhập khẩu tăng 27%
so với năm 6.5bil USD, nhưng tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu trên các vật liệu địa
phương đã giảm, mà là một tín hiệu tích cực cho ngành cơng nghiệp.Trong tổng số
ngun liệu may mặc nhập khẩu vào, bông sợi chiếm USD 28mil. Tuy nhiên, ngành
cơng nghiệp sẽ khơng tìm cách tăng cường nội dung địa phương ở mức nào, từ các
nhà sản xuất may mặc không buộc phải sử dụng vật liệu địa phương và các phụ


10

kiện, và họ có thể chọn để nhập khẩu những mặt hàng đó để duy trì khả năng cạnh
tranh của họ. Nếu vật liệu địa phương có giá 10% cao hơn so với hàng nhập khẩu
cùng chất lượng, các nhà sản xuất địa phương có thể lựa chọn khơng cho các nguồn
địa phương do sự sẵn có dễ dàng và giao hàng kịp thời. Cho đến nay, các nhà sản
xuất vật liệu địa phương có thể cung cấp chỉ có 20% đến 60% nhu cầu, tùy thuộc
vào các loại mặt hàng. Ví dụ, vật liệu địa phương đáp ứng 20% nhu cầu sản xuất
hàng dệt kim, và 60% cho các sản phẩm dệt.
Bảng 1: Tình hình sản xuất một số mặt hàng may mặc của Việt Nam trong
giai đoạn 2006 – 2009. Đơn vị tính USD
Chủng loại
Áo thun
Áo sơ mi
Quần
Quần short

Áo Jacket
Áo
Váy
Đồ lót
Đồ bơi
Quần áo thể thao
Quần áo ngủ
Quần áo trẻ em
Vải

2006

2007

2008

2009

83,756,124 87,356,789 90,798,054 102,034,708
20,134,743 23,980,720 25,798,340 29,546,726
73,672,321 77,543,821 80,721,490 90,221,973
30,145,145 ,32,421,908 34,231,980 38,145,077
87,321,902 90,170,352 92,354,109 96,386,624
5,241,800 7,245,156 8,3367,826 10,744,469
10,902,435 13,802,435 14,205,207 16,968,783
5,245,185 6,029,934 7,243,901
9,174,484
790,253
823,156
925,729

1,416,780
7,832,541 9,026,819 10,135,770 13,990,793
67,245,035 68,560,268 72,378,923 79,324,134
6,245,710 7,790,125 9,436,890 11,071,049
5,873,245 7,312,094 8,021,376
9,912,856
(Theo: />
Dựa trên bảng số liệu trên ta thấy rằng chủng loại các mặt hàng may mặc
cũng rất đa dạng về chủng loại và ty lệ sản xuất cũng tăng vọt theo từng năm. Như
vậy các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được chiến lược hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm tạo ra các bước đột phá và hiệu quả cao. Nhiều doanh nghiệp đã
đầu vào việc thiết kế các sản phẩm mới có chất lượng hơn, thời trang hơn, có


11

thương hiệu. Thị trường ngày càng khởi sắc hơn và đã có nhiều doanh nghiệp
khẳng định được chỗ đứng của mình. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bộ Chính trị “
Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và thực hiện Chiến lược phát triển
thị trường nội địa của Bộ Cơng thương, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã có sự
đầu tư đáng kể cho thị trường này, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng của
năm 2009 như xây dựng và mua thương hiệu, phát triển và nâng cấp hệ thống siêu
thị và cửa hàng chuyên doanh, đầu tư phát triển hệ thống thiết kế sản phẩm thời
trang, tham gia thi, trình diễn thời trang trong và ngồi nước; tham gia vào chương
trình “đưa hàng về nơng thơn”, “ DN dệt may đồng hành cùng đồng bào biển đảo
của Tổ quốc”. Sự chuyển hướng và đầu tư mạnh mẽ đó đã bước đầu đem lại một
diện mạo mới, khởi sắc hơn cho thị trường nội địa. Người tiêu dùng cả thành thị và
nông thôn đã tin tưởng vào hàng nội địa. Nhiều DN không những tăng thêm được
doanh thu, lợi nhuận, ngồi ra cịn thiết lập, mở rộng được mạng lưới tiêu thụ rộng
khắp trong cả nước. Có thể kể tên các DN tiêu biểu như May Việt Tiến, May Nhà

Bè, May Sông Hồng, May 10, Thái Tuấn, Nino Maxx, An Phước,… và kết quả họ
đạt được là 58% người tiêu dùng Việt Nam quan tâm đến hàng Việt sau 1 năm thực
hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
Qua thời gian hoạt động tích cực và nghiêm túc đã chiếm được lịng tin của
người tiêu dùng ở các đơ thị vì hàng hóa bán ra đều là hàng có chất lượng với mẫu
mã thiết kế và kích cỡ phù hợp người Việt Nam. Về giá cả hàng sản xuất tại Việt
Nam đã có sức cạnh tranh, nếu so sánh với các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc
với chất lượng tương đương thì giá rẻ hơn. Một yếu tố làm cho hàng may mặc Việt
Nam có thế mạnh là khách hàng ln dành cho các nhà sản xuất trong nước những
tình cảm trân trọng, cổ vũ, động viên các nhà sản xuất đưa ra nhiều sản phẩm có
chất lượng, giá cả phù hợp bằng việc ủng hộ trực tiếp mua hàng giúp sản xuất phát
triển. Tại các siêu thị hàng hóa đa dạng phong phú, tập trung nhiều thương hiệu của
các DN dệt may của Tập đoàn và các thành phần kinh tế đã mang lại nhiều sự lựa
chọn cho khách hàng mỗi khi đi mua sắm, yếu tố tiện lợi này cũng có sức thu hút
người mua, đồng thời cũng trực tiếp giúp đỡ các DN vừa và nhỏ, tiềm lực yếu


12

không đủ điều kiện mở cửa hàng. Ðây cũng là chỗ dựa cho các DN dệt may trước
sức ép cạnh tranh ngày càng tăng.
Hàng dệt may Việt Nam đang tìm chỗ đứng trên chính thị trường nội địa. Với
một chiến lược cạnh tranh hợp lý, lấy chất lượng sản phẩm là tiêu chí cạnh tranh
hàng đầu cùng với việc ln cải tiến mẫu mã, đa dạng màu sắc sản phẩm, thương
hiệu thời trang Việt Nam đã từng bước vượt qua định kiến, chiếm lĩnh thị trường
nội địa. Thúc đẩy sản xuất vật liệu hữu cơ trong nước, Việt Nam nên giữ lại những
ngành dệt may có doanh thu cao đồng thời xây dựng một cơ sở mạnh mẽ hơn cho
tương lai. Mở rộng quy mô sản xuất, chủ động đầu tư trang thiết bị, công nghệ hiện
đại nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành. Trong
những năm qua, các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp cổ phần và FDI đã có sự

đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm may mặc: 2,6-2,8 tỷ sản phẩm,
trong đó khoảng 70% dành cho sản xuất xuất khẩu.
Trong công cuộc chiếm lĩnh thị trường nội địa một số doanh nghiệp luôn đi
đầu, đưa ra các chiến lược táo bạo để nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo dựng một
thương hiệu mạnh, đưa người tiêu dùng đến với may mặc Việt Nam “Người Việt
Nam dùng hàng Việt Nam”. Một số doanh nghiệp điển hình như sau:
Tổng cơng ty cổ phần may Việt Tiến (VTEX) dẫn đầu các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam trong vấn đề chiếm lĩnh thị trường nội địa. Với một chiến lược cạnh
tranh hợp lý, lấy chất lượng sản phẩm là tiêu chí cạnh tranh hàng đầu cùng với việc
ln cải tiến mẫu mã, đáp ứng cho nhiều phân khúc thị trường cho người tiêu dùng
có thu nhập từ trung bính, khá đến cao cấp, nâng cao năng lực cạnh tranh đã tạo nên
những thương hiệu thời trang VTEX chiếm lĩnh thị trường nội địa. Những thương
hiệu đã mang lại thành công cho doanh nghiệp tại thị trường nội địa, đó là thương
hiệu thời trang cao cấp San Sciaro mang phong cách I-ta-li-a, và thương hiệu
Manhatta mang phong cách Mỹ, sang trọng dành cho doanh nhân, nhà quản lý,
người thành đạt, sành điệu. Thương hiệu Manhatta được VTEX mua bản quyền của
tập đoàn Perry Ellis International và Perry Ellis International Europe của Mỹ;
thương hiệu Viettien phục vụ cho phân khúc thị trường thu nhập khá, thương hiệu


13

này trở thành thương hiệu uy tín, dẫn đầu về thời trang công sở phục vụ khách hàng
nam giới tuổi từ 22 đến 55; Viettien Smartcasual là thương hiệu nhánh của thương
hiệu Viettien mang phong cách thoải mái, tiện dụng, hiện đại với những sản phẩm
đa dạng như sơ-mi, quần ka-ki, quần jeans, áo thun, quần short, giắc-két; dòng sản
phẩm thời trang cao cấp dành cho nữ như váy, sơ-mi, quần thời trang, vét-tông
mang thương hiệu T-up. Ðầu năm 2010, VTEX xây dựng một thương hiệu mới Việt
Long hướng tới Ðại lễ kỷ niệm1000 năm Thăng Long - Hà Nội và hưởng ứng thiết
thực cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam". Sản phẩm

ngay khi đưa ra thị trường đã được người lao động thành thị và nông thôn lựa chọn
bởi chất lượng, giá cạnh tranh, kiểu dáng và mẫu mã đa dạng với mức giá bán từ 80
nghìn đồng đến 180 nghìn đồng cho mỗi sản phẩm.
Theo Tổng Giám đốc Bùi Văn Tiến, VTEX chú trọng các yếu tố như văn hóa
từng vùng, miền, thói quen ăn mặc để đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất với thị
hiếu của người tiêu dùng Việt Nam. Ðặc biệt các yếu tố kích cỡ, kiểu dáng của sản
phẩm được thiết kế phù hợp với người Việt Nam. Những năm qua, VTEX đẩy
mạnh thiết kế sản phẩm thời trang để nâng giá trị gia tăng của sản phẩm, xây dựng
thương hiệu mạnh và tăng cường đầu tư thiết bị và nhân sự cho công tác thiết kế
mang tính chuyên nghiệp cao, thu hút nhiều nhà thiết kế thời trang có tên tuổi của
Việt Nam như Quốc Bình, Trọng Ngun, Tấn Phát... chun mơn hóa thiết kế theo
từng thương hiệu, tạo ra đa dạng mẫu mã sản phẩm cho từng thương hiệu, phục vụ
cho nhiều đối tượng tiêu dùng ở nhiều phân khúc khác nhau.
Những sản phẩm mang thương hiệu của VTEX hiện có mặt ở tất cả các kênh
phân phối hiện đại từ cửa hàng, đại lý với thiết kế thống nhất để người tiêu dùng dễ
dàng nhận diện. Tiếp tục phát triển kênh phân phối đối với thương hiệu hiện có.
Chú trọng đến phát triển kênh phân phối hiện đại. Hiện nay, Việt Tiến là một trong
những doanh nghiệp có hệ thống cửa hàng lớn nhất trong ngành với 1.300 cửa hàng
giới thiệu và bán sản phẩm trên khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có
riêng thương hiệu Viettien, Viettien Smartcasual được bán tại 67 cửa hàng, 1.159
đại lý; thương hiệu San Sciaro và Manhatta có mặt tại 12 cửa hàng và mười đại lý


14

mang phong cách riêng hai dòng sản phẩm này bán hàng ở các thành phố: Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Ðồng Tháp, Sóc Trăng, Thái Bình... Thương hiệu T-up
có hai cửa hàng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; thương hiệu Việt Long mới đưa ra
thị trường nhưng đã có mặt tại 50 đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
Thị trường nội địa đang được DN ngành dệt may tập trung quan tâm. Việc

quan tâm đầu tư vào thị trường này đã mang lại cho DN hiệu quả kinh tế cao. Năm
2009, VTEX đạt doanh thu trong nước hơn 500 tỷ đồng, năm 2010 phấn đấu tăng
trưởng 30%. Ðáp ứng nhu cầu thị trường, sản phẩm có giá bán cạnh tranh, tăng
doanh thu trong nước, VTEX đầu tư trang thiết bị máy móc, kỹ thuật, mở rộng nhà
xưởng sản xuất theo xu hướng chuyển dịch về các địa phương để thu hút nhân lực,
tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương.
Công ty CP Tập Đồn Thái Tuấn cũng là một trong khơng nhiều DN dệt
may có chiến lược phát triển sản phẩm và chiếm lĩnh thị trường nội địa từ rất sớm.
Kể từ khi được thành lập vào cuối năm 1993, Thái Tuấn không ngừng nỗ lực mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư xây dựng các nhà máy dệt,
nhuộm, may, phát triển hệ thống phân phối, chi nhánh, hệ thống Showroom…trong
và ngoài nước. Mức tăng trưởng doanh thu và kênh phân phối bình quân từ 15 –
20% qua mỗi năm.
Tính đến nay, tại thị trường nội địa, Thái Tuấn đã có 3 nhà máy, 3 chi nhánh
Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ, 10 Showroom và trên 300 nhà phân phối, đại lý cung
cấp cho hơn 3.500 điểm bán lẻ trải đều trên toàn quốc. Đặc biệt trong năm 2009,
mặc dù nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng từ suy thối kinh tế tồn cầu nhưng
cơng ty vẫn hoàn thành vượt chỉ tiêu.


15

Xác định rõ đối tượng khách hàng mà công ty hướng đến là giới nữ từ 22 – 45
tuổi, công ty đã định hình các dịng sản phẩm chủ lực như vải Jacquard, Plain, gấm,
lụa, tơ tằm, Silk thun, voan... làm từ sợi polyester, spandex, visco,... với công nghệ
sản xuất tiên tiến được chuyển giao từ Nhật Bản và Châu Âu. Chính vì vậy, sản
phẩm vải Thái Tuấn được khách hàng trong nước ưa chuộng và đánh giá cao. Bên
cạnh đó, Thái Tuấn cũng tỏ ra rất nhanh nhạy trong việc nắm bắt tâm lý khách hàng
khi quyết định đưa ra các sản phẩm thời trang may sẵn với nhãn hiệu ROSSHI,
nhãn hiệu cao cấp SILKI bao gồm các mẫu trang phục cơng sở và trang phục gia

đình mang kiểu dáng thanh lịch, trang nhã . Thái Tuấn còn cung ứng cho thị trường
đồng phục học sinh bộ sưu tập chất liệu áo dài cao cấp nhãn hiệu LENCII mang
phong cách ấn tượng, cá tính, nổi bật và sang trọng và nhãn hiệu Hoa Áo Trắng cho
tuổi học trò. Đối với nam sinh, Thái Tuấn có bộ sưu tập trang phục nam sinh
Menni’s với chất liệu Kate, ashmere thoáng mát, ít nhăn mang lại sự thoải mái,
năng động.
May 10, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tổng giám đốc công ty cho biết, năm
nay sẽ tăng tỷ lệ tiêu thụ nội địa lên 30%, bằng việc khai trương chuỗi sáu cửa hàng
lớn tại Hà Nội, Hải Phịng, Hạ Long và Thái Bình. Đồng thời, công ty này cũng đầu
tư ba xưởng sản xuất Veston cao cấp với dây chuyền thiết bị hiện đại được nhập từ
Nhật Bản, Italia.
Tổng công ty cổ phần May Nhà Bè có kế hoạch tăng trưởng thị trường nội
địa cho năm nay dự kiến là 200%. Đây là một tỷ lệ ấn tượng trong bối cảnh sức mua
của nhiều mặt hàng đều suy giảm. Mạng lưới bán hàng rộng khắp đang từng giờ
mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm tinh tế của NBC với những nhãn
hàng như Novelty, Style of Living... NBC nỗ lực để khách hàng khơng chỉ hài lịng
với chất lượng mà cịn vì sự tiện lợi trong mua sắm và thái độ tận tụy của đội ngũ
bán hang.
Công ty cổ phần May Đức Giang cũng xác định tăng thị phần trong nước
trong năm 2009 từ 20-25%.


16

2.2.

Thực trạng tiêu thụ sản phẩm may mặc Việt Nam trên thị trường nội
địa

. Đối với hàng may mặc người tiêu dùng sẵn sàng mua sắm từ 150.000 500.000 đồng/tháng, chiếm 18% tổng chi tiêu hàng tháng. Trong đó, người tiêu

dùng ở độ tuổi từ 20-25 tuổi mua quần áo nhiều nhất với 46,4%, tiếp đến là độ tuổi
từ 26-35 tuổi chiếm 23,8%. 70% người mua sắm thời trang hằng tháng. Con số
lượng người mua sắm khoảng 2 - 3 tháng/lần cũng chiếm số đơng.Hình thức khuyến
mại được ưa chuộng nhất là giảm giá với 73,1% so với hình thức tặng phiếu mua
hàng (16%) và tặng quà (10,9%). Như vậy đây là một thị trường tiềm năng. Các
doanh nghiệp đã khai thác và thu được các kết quả cao.
Chất liệu và mẫu mã có thể đã được khách hàng chấp nhận, giá cả đôi khi
cũng cạnh tranh... các mặt hàng sản xuất trong nước, đặc biệt như hàng may mặc,
hiện đã thu hút được khá đông người tiêu dùng Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn
những băn khoăn của người tiêu dùng mà qua đó thể hiện những hạn chế của hàng
Việt, trong đó có hàng dệt may. Có rất nhiều thơng tin trái chiều nhau.Có người thì
cho rằng “thời gian trước, người tiêu dùng Việt Nam cũng tương đối thích hàng
ngoại. Nhưng hàng ngoại thì giá cả khơng phù hợp, mẫu mã đôi khi cũng không phù
hợp. Hàng Việt Nam thì có nhiều lợi thế: mẫu mã đa dạng, giá cả hợp lý, gần với
phong cách và văn hóa người Việt Nam”… Nhưng người khác thì lại chia sẻ
“Nhiều người sang nước ngoài mua quà về giở ra là “made in Vietnam”, giày dép,
quần áo… Nếu là hàng made in Vietnam thì chất lượng là cực tốt. Người nước
ngồi sang đây cũng thích”. Thậm chí, thời gian gần đây cịn xuất hiện cả hiện
tượng hàng quần áo “ngoại” chất lượng kém được nhập lậu về Việt Nam rồi gắn
mác hàng “nội” – Made in Vietnam lên, để đánh lừa người tiêu dùng dễ tiêu thụ
hơn. Theo chị Nguyễn Minh Yến, Quận Đống Đa, Hà Nội, hàng Việt Nam có chất
lượng tốt thường chỉ được được bày bán trong các cửa hàng, cịn ở ngồi chợ thì
khó tìm hàng có chất lượng. Một khách hàng khác lại lo lắng vì bây giờ có nhiều
cửa hàng Made in Vietnam, bày bán những sản phẩm hàng nhái. Ngoài ra, Việt
Nam là một thị trường rất đặc thù. Khi vẫn còn tồn tại những con phố bán phụ liệu


17

may mặc rất sầm uất ngay giữa thủ đô, nghĩa là khi người dân vẫn cịn tập qn là

nếu khơng mua được thì có thể tự may hoặc đặt may quần áo cho mình, hoặc có thể
sử dụng những sản phẩm may gia công được tung ra từ các mô hình sản xuất nhỏ lẻ.
"Hàng VN tốt thật nhưng ít, giá lại cao quá. Có những chiếc quần cũng cửa hàng ấy,
vài năm trước mua rồi, năm nay ra vẫn thấy cùng chất liệu, cùng kiểu dáng thì mua
sao được!" là cách giải thích của một khách hàng. Khi bạn đi mua quần áo ở chợ
Ngã Tư Sở bạn sẽ khơng tìm nổi mặt hàng có chữ VN. "Hàng thùng" bày như rau
như cỏ trên các sạp đầy bụi với giá từ vài chục tới hơn trăm nghìn đồng. Quần, áo,
khăn, tất, giày, dép... mẫu mã đa dạng, màu sắc bắt mắt, đặc biệt giá ở mức chấp
nhập được khiến những người có thu nhập thấp bằng lịng dù chất lượng sản phẩm
bị đặt xuống thứ yếu.
Vừa qua, tại cuộc họp Ban chỉ đạo cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên
dùng hàng Việt Nam” TP Hà Nội do Ủy ban MTTQ Hà Nội tổ chức có nhiều ý kiến
cho rằng, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (CVĐ) là
cơ hội cho doanh nghiệp nâng cao chất lượng cũng như đẩy mạnh tiêu thụ sản
phẩm, chiếm lĩnh thị phần với các sản phẩm nhập khẩu. Theo Ban chỉ đạo CVĐ TP
Hà Nội, đến nay Tổng Công ty thương mại Hà Nội và một số doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp trên địa bàn thành phố đã thực hiện được 14 chuyến hàng về nông
thôn, tổ chức được 7 “Phiên chợ hàng Việt” tại 5 huyện ngoại thành. Chương trình
này sẽ được đẩy mạnh trong dịp 2/9, Đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, Tết
dương lịch... Tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, các sở Công thương đã tổ chức
được 68 đợt bán hàng về nông thôn với 857 lượt doanh nghiệp tham gia và 1.124
gian hàng, thu hút hơn 4,7 triệu lượt khách tham quan, mua sắm, đạt doanh thu lên
tới 1.467 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 7 năm 2010, có 46 phiên chợ “Hàng Việt về
nông thôn” được tổ chức tại 18 tỉnh thành trên cả nước, thu hút 132 doanh nghiệp
tham gia, tổng doanh thu bán hàng đạt 31 tỷ đồng.
Theo nhận định của Bộ Cơng thương, hàng hóa trong nước đã tạo được dấu
ấn. Điều tra mới nhất của Công ty TV Plus sau 1 năm hưởng ứng cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thì đã có 58% người tiêu dùng Việt



18

Nam quan tâm đến hàng Việt. Kết quả khảo sát của Cơng ty Nielsen Việt Nam vừa
cơng bố thì hầu hết các doanh nghiệp kỳ vọng tăng trưởng ngành của họ cao hơn
trước, ở mức khoảng 13,6% trong 12 tháng tới, mức tăng trưởng ngành được kỳ
vọng sẽ cao gấp đôi mức tăng 6% của năm 2010.
Khách hàng tiêu dùng thời trang có thể tạm chia làm 3 nhóm: nhóm có thu
nhập thấp thường sử dụng hàng may sẵn, rẻ tiền nhưng nhanh hỏng; nhóm có thu
nhập cao sử dụng sản phẩm của các hãng thời trang cao cấp; nhóm trung lưu chiếm
số lượng khá đông đảo, không chấp nhận lối mặc đại trà, hàng kém chất lượng của
Trung Quốc, nhưng lại không quan tâm tới các loại hàng hiệu. Đối tượng này khá
khó tính, nhưng lại có nhu cầu lớn về thời trang. Thời trang của họ phải đẹp, độc
đáo, sang trọng, lại hợp túi tiền. Phục vụ nhóm khách hàng trung lưu chủ yếu vẫn là
các nhà may, cửa hàng thời trang đơn lẻ. Một số DN có tên tuổi đã cơ bản đáp ứng
được nhu cầu nhóm này, nhưng lại chuyên về thời trang của "phái mạnh" như Việt
Tiến, May 10, Thành Công, Nhà Bè... mà chưa đáp ứng được nhu cầu rất lớn của
"phái đẹp" mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của nam giới. Phân đoạn thị trường với
những người trung tuổi
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để chiếm lĩnh thị trường nội địa nhưng với sự
cạnh tranh khốc liệt thì hàng ngoại vẫn đang chiếm lĩnh thị trường. Hiện tại, các
trung tâm thương mại lớn ở các thành phố lớn như Tp.HCM và Hà Nội là nơi tập
trung đông đảo của hầu hết các thương hiệu thời trang nước ngòai như Valentino
Rydy, Guess, Ungaro, Levis's, Gucci, Calvin Klein, Bossini, Giordano. Khơng ít
các sản phẩm của những nhãn hiệu này có giá bán khơng dưới 1 triệu đồng/sản
phẩm, và doanh thu bán hàng của các trung tâm mua sắm vẫn giữ được mức tăng
trưởng đều đều hàng năm. So về giá cả, hàng may mặc của các thương hiệu trong
nước rẻ hơn rất nhiều lần hàng ngoại, nhưng người chuộng hàng hiệu không tiếc
tiền mua sắm vì họ thích kiểu dáng bắt mắt tinh xảo, chất liệu vải, màu sắc đẹp.
Hàng Trung Quốc đang "đánh" mạnh ở khu vực bán buôn ở các chợ, hệ thống
của hàng thời trang, đây lại là kênh thu hút phần lớn người tiêu dùng. Gần đây lại có

thơng tin về nhiều mặt hàng quần áo và đồ dùng cho trẻ em sản xuất ở Quảng Đông



×