Tải bản đầy đủ (.doc) (51 trang)

Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (319.07 KB, 51 trang )

MỤC LỤC
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết nghiên cứu.
Khi đổi mới nền kinh tế, nhất là bắt đầu từ những năm 90, Việt Nam chuyển mạnh
sang nền kinh tế thị trường và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và khu vực thì bộ
mặt của toàn nền kinh tế - xã hội có nhiều chuyển biến. Thị trường bán lẻ là một trong
những thị trường có nhiều thay đổi sâu sắc nhất trong toàn bộ nền kinh tế. Khi nền kinh tế
còn trong giai đoạn tập trung quan liêu bao cấp phương thức phân phối chủ yếu của thị
trường bán lẻ là tem phiếu. Số lượng, chủng loại, giá cả hàng hoá đều do sự chỉ đạo mang
tính chủ quan của Nhà nước. Sau những năm 90 thì hình thức phân phối này hoàn toàn bị
thay thế. Thay vào đó là hình thức phân phối mang tính chất thị trường. Giá cả, số lượng,
chủng loại hàng hoá sản xuất hay nhập khẩu đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Đồng
thời là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống chợ và các doanh nghiệp bán lẻ thuộc thành
phần kinh tế ngoài Nhà nước. Các doanh nghiệp bán lẻ Nhà nước mất dần vai trò phân
phối chủ đạo của mình trên thị trường bán lẻ. Lúc này, thị trường bán lẻ thực sự thể hiện
được vai trò của mình là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và góp phần thúc đẩy
sản xuất, tái sản xuất.
Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới
WTO. Sự kiện này mở ra nhiều cơ hội song không ít thách thức đối với thị trường bán lẻ
còn yếu kém của Việt Nam. Nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam để
đưa ra được những chiến lược phát triển phù hợp là việc rất cần thiết. Bởi vậy, em đã chọn
đề tài nghiên cứu:
“ Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO.”
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt


Nam, từ đó rút ra những điểm yếu điểm mạnh của thị trường, để đề xuất một số giải pháp
đổi mới, phát triển.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn phát triển các loại hình bán lẻ ở Việt Nam
trong bối cảnh gia nhập WTO.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu thị trường bán lẻ Việt Nam giai đoạn trước và sau khi gia nhập
WTO (2005 – 2009)
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp dựa trên các
tài liệu, sách báo có liên quan.
6. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở bài, kết luận kết cấu của bài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về thị trường bán lẻ.
Chương 2. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam.
Chương 3. Giải pháp phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
2
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ
1.1. Quan niệm chung về bán lẻ
1.1.1. Khái niệm thị trường bán lẻ
Bán lẻ là hoạt động bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dịch vụ cho người tiêu thụ để thỏa
mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình. Nói cách khác, bán lẻ gồm tất cả các hoạt
động liên quan đến việc bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử
dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh.

Người bán lẻ là các cá nhân hay tổ chức làm công việc bán lẻ thông qua các hình thức
đa dạng như bán hàng trực tiếp, bán qua điện thoại, bán hàng qua internet…
1.1.2. Các loại hình bán lẻ
Các loại hình bán lẻ vô cùng phong phú và đa dạng. Dựa trên các tiêu chí khác nhau
người ta có thể phân loại ra nhiều loại hình bán lẻ khác nhau. Ví dụ phân loại theo quy mô
thì các loại hình bán lẻ có các cơ sở bán lẻ lớn, vừa và nhỏ. Hay phân loại theo các chủ thể
tham gia bán lẻ thì các loại hình bán lẻ gồm có doanh nghiệp bán lẻ, hợp tác xã bán lẻ, cá
thể hộ gia đình... Tuy nhiên, phổ biến và dễ hiểu nhất thì người ta thường phân loại thị
trường bán lẻ theo tiêu thức cách thức bán hàng và hàng hoá kinh doanh.
Theo đó, trong thị trường bán lẻ các loại hình bán lẻ gồm có bán lẻ tại cửa hàng, bán lẻ
không qua cửa hàng và bán lẻ dịch vụ:
- Bán lẻ tại cửa hàng: Đây là loại hình bán lẻ phổ biến nhất hiện nay. Theo loại bán lẻ này,
các tổ chức hay cá nhân bán lẻ có một địa điểm kinh doanh cố định. Tại đây, người ta tổ
chức trưng bày hàng hoá và người tiêu dùng tới đây để mua và thanh toán trực tiếp. Các
địa điểm bán hàng này tuỳ theo quy mô, tính chất của từng loại cửa hàng mà người ta phân
loại ra các loại cửa hàng khác nhau. Hiện nay có các loại cửa hàng bán lẻ như sau:
Chợ: Chợ là một loại hình bán lẻ truyền thống lâu đời và phổ biến khắp nơi trên thế
giới. Chợ có thể hiểu là một nơi quy tụ nhiều người bán lẻ và người tiêu dùng để tiêu thụ
các loại hàng hoá khác nhau. Hoạt động buôn bán của chợ có thể diễn ra hàng ngày hoặc
định kỳ theo một khoảng thời gian nhất định.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
4
Siêu thị: Siêu thị là một loại hình bán lẻ hiện đại, mới xuất hiện tại Việt Nam. Siêu thị
được hiểu là một cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, được trang bị
cơ sở vật chất tương đối hiện đại, bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhu cầu phong phú của
người dân. Giá cả tại siêu thị thường cố định theo sự ấn định của người kinh doanh không
linh hoạt như giá cả tại chợ là kết quả thương lượng giữa người bán và người mua. Siêu thị
thường phải đáp ứng được một số quy định nhất định về cơ sở vật chất: quy mô, địa điểm,
kho... Quy định này tuỳ thuộc vào cơ quan quản lý.

Cửa hàng bán lẻ độc lập: Loại hình bán lẻ này tồn tại rất phổ biến. Các cửa hàng này
thường thuộc sở hữu của cá nhân hay hộ gia đình. Nó tồn tại dưới hình thức các cửa hàng,
cửa tiệm nhỏ tại các mặt phố, khu dân cư. Các loại hàng hoá tại các cửa hàng này thường
là các hàng tiêu dùng, dân dụng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
Cửa hàng bán lẻ dạng hợp tác xã: Hợp tác xã bán lẻ được hình thành bởi một nhóm
người bán lẻ liên kết với nhau để cùng buôn bán, phân phối hàng hoá. Sự liên kết này dựa
trên sự tự nguyện, đồng thời các thành viên có quyền tự do gia nhập tách khỏi hợp tác xã
và tự cung ứng hàng hoá từ các nguồn ngoài hợp tác xã.
Cửa hàng bách hoá: Đây là loại hình cửa hàng lớn cả về quy mô và số lượng hàng hoá.
Các cửa hàng bách hoá thường được xây dựng tại các khu dân cư tập trung đông đúc. Hàng
hoá tại đây phong phú về chủng loại và mẫu mã nên thường được bày bán chuyên biệt tại
các khu vực riêng của cửa hàng
Cửa hàng đại lý: Các cửa hàng này được người sản xuất hoặc người phân phối trung
gian cho việc tiêu thụ hàng hoá trên cơ sở hợp đồng đại lý. Hoạt động của các cửa hàng
này thường độc lập và hưởng một khoản hoa hồng nhất định.
Cửa hàng nhượng quyền thương mại: Đây là một hình thức mới mẻ, nó bắt đầu xuất
hiện tại Mỹ từ đầu thế kỷ 20 và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cửa hàng này thường được
kí hợp đồng để được nhượng quyền kinh doanh một loại hàng hoá dịch vụ nhất định từ nhà
sản xuất. Các cửa hàng nhượng quyền là các cửa hàng có vốn sẵn và địa điểm kinh doanh.
Các cửa hàng này kinh doanh dựa vào thương hiệu của một hãng đã nổi tiếng trên thị
trường. Ngoài ra, các cửa hàng này cũng nhận được sự tư vấn, cung cấp bí quyết về
marketing, tổ chức quản lý, đào tạo nguồn nhân lực...từ đơn vị trao quyền kinh doanh. Để
đổi được điều đó, thì ngoài số tiền đóng lúc đầu ,các cửa hàng còn phải đóng thêm một
khoản phí nhất định.
Cửa hàng chuyên doanh: Đây là hình cửa hàng kinh doanh chuyên sâu. Nó chỉ cung
cấp một hay một nhóm hàng hoá nhất định hay chỉ phục vụ một nhóm người tiêu dùng nhất
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
5
định. Ví dụ:cửa hàng chuyên doanh là cửa hàng chỉ bán một loại hàng hoá như quần áo,

giày dép...hay một nhóm sản phẩm như hàng tươi sống, hàng đông lạnh, cửa hàng chuyên
bán hàng cho trẻ em, người già...
Cửa hàng giảm giá, hạ giá: Cửa hàng này bán các loại hàng hoá với giá thấp hơn với
giá bán lẻ theo yêu cầu của người sản xuất hoặc tính chất của sản phẩm.
Cửa hàng kho: Cửa hàng này mang tính chất như một kho hàng. Các cửa hàng này
thường không trưng bày hàng hoá, không quảng cáo nhằm tận dụng diện tích và chi phí.
Cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm: Cửa hàng thuộc sở hữu của người sản xuất. Đây
là kênh phân phối của trực tiếp của người sản xuất tới người tiêu dùng.
- Bán lẻ không qua cửa hàng: Theo đó các tổ chức và cá nhân bán lẻ không cần thiết phải
có một địa điểm bán hàng cố định. Người ta có thể bán hàng tận nhà, bán hàng qua bưu
điện, bán hàng qua mạng…
- Bán lẻ dịch vụ: Tức là, ở đây hàng hoá là dịch vụ chứ không phải là hàng hoá đơn thuần.
Các loại hình bán lẻ dịch vụ như: cho thuê phòng ở, giặt là, cho thuê phương tiện…
Cùng với sự phát triển của cuộc sống thì các loại hình bán lẻ không qua cửa hàng và
bán lẻ dịch vụ ngày càng phổ biến. Do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, công nghệ
viễn thông đặc biệt là mạng internet thì hiện nay hoạt động thương mại điện tử (giới thiệu,
bán hàng và thanh toán qua mạng) đang rất phát triển. Đồng thời, thu nhập của người tiêu
dùng tăng lên dẫn tới nhu cầu đi lại, nghỉ ngơi, ăn uống ... tăng lên kéo theo các loại hình
dịch vụ tăng lên không ngừng.
1.1.3. Vai trò của hoạt động bán lẻ
Khi hoạt động bán lẻ phát triển tốt, lành mạnh thì nhờ đó sản xuất tăng, phục vụ được
nhu cầu của người tiêu dùng và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Hoạt động bán lẻ có vai trò điều tiết hàng hoá. Nó điều tiết hàng hoá từ nơi sản xuất tới
người tiêu dùng. Nó điều tiết hàng hoá ở tất cả các vùng miền từ thành phố, nông thôn,
vùng sâu vùng xa bất kể nơi đâu có nhu cầu. Hoạt động bán lẻ phát triển nó đảm bảo cung
cấp hàng hoá công bằng cho mọi người dân trên khắp các vùng trên cả nước. Do vậy, hoạt
động bán lẻ cũng có vai trò góp phần vào việc giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các khu
vực.
Cơ cấu thương mại có những biến đổi sâu sắc khi mà hoạt động bán lẻ phát triển. Khi
đó thị trường ngày càng lành mạnh, cạnh tranh hiệu quả hơn.

________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
6
Sự phát triển của hoạt động bán lẻ cũng tăng cường khả năng tự điều tiết ít chịu ảnh
hưởng của nhà nước của thị trường hơn. Khi hoạt động bán lẻ phát triển tức là hàng hoá
phong phú và với nhiều nhà phân phối cộng với các quy định cạnh tranh lành mạnh thì
chắc chắn người tiêu dùng sẽ nhận được những hàng hoá tốt nhất với giá cả hợp lý nhất.
Trong nền sản xuất hàng hoá kinh tế thị trường có xuất hiện mâu thuẫn cơ bản giữa
một nền sản xuất hàng hoá lớn và nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. Sở dĩ có mâu
thuẫn đó là do vô số người tiêu dùng khác nhau lại có những nhu cầu, sở thích khác nhau.
Khi xã hội càng phát triển thì sự đa dạng của những nhu cầu này ngày càng tăng. Trong khi
đó các doanh nghiệp phải tăng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận. Và hoạt động bán
lẻ có vai trò giải quyết được mâu thuẫn cơ bản đó.
1.1.4. Chức năng của hoạt động bán lẻ
Hoạt động bán lẻ có rất nhiều chức năng. Nhưng các chức năng chính của bán lẻ là
mua, bán, vận chuyển, lưu kho, phân loại, tài chính, chịu rủi ro và thông tin thị trường.
- Chức năng cơ bản nhất của hoạt động bán lẻ là chức năng mua và bán: Chức năng mua
tức là tìm kiếm, đánh giá, so sánh giá trị các loại hàng hoá dịch vụ. Chức năng bán là tiêu
thụ, phân phối các loại sản phẩm này. Lợi nhuận của các nhà bán lẻ chính là nhờ vào sự
chênh lệch giữa giá hàng hoá bán ra và mua vào. Do đó để tối đa hoá lợi nhuận các nhà bán
lẻ cố gắng mua hàng với giá rẻ và bán ra với số lượng lớn và giá cao.
- Chức năng cung cấp tài chính: Chức năng này thể hiện ở việc các nhà bán lẻ cung cấp tài
chính tín dụng cần thiết cho một hoạt động sản xuất hàng hoá nào đó. Có thể nhà bán lẻ
cung cấp tài chính trước một phần cho nhà sản xuất. Việc thực hiện chức năng này tuỳ
thuộc vào khả năng tài chính của nhà bán lẻ và mối quan hệ giữa nhà bán lẻ và nhà sản
xuất.
-Chức năng thông tin: Chức năng thông tin của hoạt động bán lẻ được thể hiện ở hai chiều.
Thông qua các hoạt động quảng bá, marketing của các nhà bán lẻ thì các thông tin về sản
phẩm được giới thiệu tới người tiêu dùng. Đồng thời, qua hoạt động bán lẻ các nhà bán lẻ
là người tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Họ là những người hiểu rõ nhu cầu, thị

hiếu, thu nhập của người tiêu dùng nhất. Qua đó, nhà bán lẻ sẽ cung cấp những thông tin
phản hồi tới nhà sản xuất để nhà sản xuất có thể điều chỉnh sản xuất để đưa ra những sản
phẩm tốt nhất, phù hợp nhất với nhu cầu của người tiêu dùng.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
7
- Chức năng vận tải: dựa vào việc mua bán hàng hoá của nhà sản xuất để bán cho người
tiêu dùng thì nhà bán lẻ có thể tự mình thực hiện chức năng vận tải hàng hoá trong hệ
thống phân phối của mình.
- Chức năng phân loại và tiêu chuẩn hoá các loại hàng hoá: Người tiêu dùng có nhu cầu,
thu nhập rất đa dạng. Người tiêu dùng ở nông thôn có thu nhập khác với người tiêu dùng ở
thành thị. Người trẻ có yêu cầu về mẫu mã chất lượng hàng hoá khác với người già. Hoạt
động bán lẻ đã thực hiện chức năng sắp xếp, phân loại số lượng hàng hoá gần nhất với nhu
cầu của người tiêu dùng. Tiêu chuẩn hoá là công việc tìm kiếm những sản phẩm đồng nhất
giữa các nhà sản xuất có thể thay thế cho nhau.
- Chức năng lưu kho, bảo quản sản phẩm: Đối với mọi hàng hoá đều có thời hạn sử dụng
và điều kiện bảo quản nhất định. Chức năng này của hoạt động bán lẻ là đảm bảo hàng hoá
đảm bảo chất lượng nguyên gốc nhất có thể khi đến tay người tiêu dùng. Thước đo của
chức năng này là khả năng đảm bảo sự ăn khớp về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng.
- Chức năng chia sẻ rủi ro: Mức độ chia sẻ rủi ro tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa nhà bán
lẻ và nhà sản xuất. Nếu như nhà sản xuất tự phân phối hàng hoá của mình thì sự chia sẻ rủi
ro bằng không. Nếu như nhà bán lẻ mua đứt hàng hoá của nhà sản xuất thì sau đó họ sẽ tự
chịu trách nhiệm về bảo hành, vận chuyển hàng hoá cho khách hàng. Khi đó rủi ro đối với
nhà sản xuất đã được chuyển tới nhà bán lẻ tại thời điểm bán xong sản phẩm đó. Trong
trường hợp các nhà sản xuất gửi bán sản phẩm, hay nhà bán lẻ là đại lý hoa hồng, tiêu thụ
cho nhà sản xuất thì rủi ro được chia sẻ đối với cả người sản xuất và bán lẻ đến khi bán,
bảo hành xong sản phẩm.
- Một số chức năng khác: Các nhà bán lẻ như các siêu thị hiện đại còn thực hiện chức năng
chế biến nhất là đối với hàng thực phẩm. Ngoài ra, các nhà bán lẻ còn thực hiện các công
việc khác như đóng gói, gắn nhãn mác...

Tóm lại, hoạt động bán lẻ có vai trò, chức năng vô cùng quan trọng. Nó được coi là
một mắt xích không thể thiếu của quá trình tái sản xuất mở rộng đảm bảo cho quá trình này
thông suốt từ đó đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
1.2. Thị trường bán lẻ.
1.2.1. Khái niệm thị trường bán lẻ
Thị trường bán lẻ là thị trường ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ. Những người bán lẻ và
người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường. Những người bán lẻ (cá nhân, tổ
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
8
chức) và người tiêu dùng tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn khổ
khung pháp lý nhất định.
1.2.2. Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ.
Sơ đồ 1.1. Cấu trúc kênh phân phối của thị trường bán lẻ.
* Dù hàng hoá được phân phối như thế nào thì kênh phân phối của thị trường bán lẻ về
cơ bản bao gồm 3 thành viên: người sản xuất, người trung gian và người tiêu dùng cuối
cùng.
- Người sản xuất: là người trực tiếp sản xuất ra hàng hoá đó. Đôi khi người sản xuất cũng
là người bán thẳng hàng hoá đó tới tay người tiêu dùng không cần qua trung gian.
- Người trung gian: là những người tham gia vào việc phân phối hàng hoá tới người tiêu
dùng. Người trung gian có thể gồm: đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ (cửa
hàng tiện dụng, siêu thị và đại siêu thị, cửa hàng bách hoá, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng
chuyên doanh, trung tâm thương mại...).
Sơ đồ 1.2 : Minh hoạ cho các cửa hàng làm người trung gian bán lẻ.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
9
Người sản
xuất
Người

trung gian
Người tiêu
dùng
Người
sản
xuất
Người
tiêu
dùng
Môi giới
Cửa hàng nhượng
quyền thương mại
- Người tiêu dùng: là người cuối cùng nhận được hàng hoá đó. Họ nhận hàng hoá đó với
mục đích để tiêu dùng.
* Do sự đa dạng của khâu trung gian mà hàng hoá có thể đến tay của người tiêu dùng theo
nhiều con đường dài ngắn khác nhau:
- Người sản xuất trực tiếp đưa hàng hoá của mình tới tận tay người tiêu dùng mà không
qua một khâu trung gian nào khác. Hàng hoá được bán tại các cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm của mình hoặc qua điện thoại, qua mạng, qua đơn đặt hàng...
+ Ưu điểm: Ưu điểm của trường hợp này là hàng hoá tiêu thụ nhanh chóng. Vì hàng hoá
đến thẳng tay người tiêu dùng nên giá cả hợp lý hơn. Đồng thời, do không phải qua khâu
trung gian nên nhà sản xuất có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Đặc biệt, ưu điểm lớn
nhất đó là nhà sản xuất có thể dễ dàng nắm bắt, nhận biết nhu cầu của khách hàng.
+Nhược điểm: Để thực hiện đưa hàng hoá theo con đường này và đảm bảo được nguyên
tắc lợi nhuận thì người tiêu dùng ở đây phải là người có nhu cầu tiêu thụ lớn và ổn định.
Trên thực tế, rất khó doanh nghiệp có thể tìm kiếm được những người tiêu dùng đáp ứng
được yêu cầu đó. Dễ gây xung đột lợi ích giữa nhà bán sản phẩm cho công ty và công ty.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
10

Cửa hàng bán và giới thiệu
sản phẩm
Cửa hàng bán lẻ độc lập
Cửa hàng đại lý, cửa
hàng htx bán lẻ….
+ Ứng dụng: Con đường trực tiếp thường được áp dụng trong trường hợp bán những hàng
hoá có giá trị lớn, những hàng hoá có tính chất thương phẩm đặc biệt (hàng tươi sống, hàng
lâu bền)... Ví dụ: bán ô tô, cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm.
- Người sản xuất đưa hàng hoá của mình tới tay người tiêu dùng thông qua khâu trung gian
là những nhà bán lẻ hoặc là thông qua nhà bán buôn rồi đến người bán lẻ cuối cùng là đến
người tiêu dùng.
Trường hợp hàng hoá theo con đường ngắn chỉ có một người trung gian là người bán lẻ:
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này thì người sản xuất có thể tận dụng được vị trí bán hàng,
hệ thống phân phối của người bán lẻ. Qua đó, nhà sản xuất có thể tăng được uy tín của
hàng hoá. Ngoài ra, người sản xuất cũng dễ dàng điều chỉnh hoạt động bán hàng của mình.
+ Nhược điểm: Rõ ràng trong trường hợp này lợi nhuận đã bị phân chia một phần cho nhà
bán lẻ. Người sản xuất cũng khó điều phối hàng hoá của mình do các địa điểm bán hàng
thuộc sở hữu nhiều người bán lẻ khác nhau.
+ Ứng dụng: Các người sản xuất có quy mô nhỏ nên thường kiêm cả hoạt động bán buôn
thì áp dụng trường hợp này. Các người bán lẻ cần phải đáp ứng được yêu cầu là phải có
vốn lớn và mạng lưới rộng rãi.
Trường hợp hàng hoá theo con đường trung bình là qua người bán buôn đến người
bán lẻ rồi đến người tiêu dùng.
+ Ưu điểm: Để mở rộng được thị trường của mình thì người sản xuất cần phải có vốn lớn,
quan hệ rộng rãi, có bí quyết trong sản xuất, phân phối, bảo quản hàng hoá. Không phải
người sản xuất nào cũng có thể đáp ứng được yêu cầu đó. Khi đó, để mở rộng thị trường
thì những người sản xuất này sẽ nhờ đến vai trò của người bán buôn.
+ Nhược điểm: Chi phí sản xuất hàng hoá chắc chắn sẽ tăng lên, từ dó người sản xuất bị
chia sẻ lợi nhuận nhiều hơn. Người sản xuất cũng không thể tự mình điều chỉnh được thị
trường phân phối của mình do còn phải phụ thuộc vào người bán buôn.

________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
11
+ Ứng dụng: Mở rộng thị trường phân phối hàng hoá.
- Ngoài ra, hàng hoá có thể đến tay người tiêu dùng qua những con đường dài hơn. Hàng
hoá đi từ nhà môi giới đến những nhà bán buôn rồi đến những nhà bán lẻ cuối cùng mới là
người tiêu dùng.
+ Ưu điểm: Trong trường hợp này người sản xuất có thể chuyên tâm vào sản xuất, khâu
phân phối được giao phối các người môi giới.
+ Nhược điểm: Chi phí tăng lên rất nhiều.
+ Ứng dụng: Trường hợp này áp dụng khi hàng hoá phải thâm nhập vào những thị trường
có những luật lệ quy tắc khó khăn hoặc là những thị trường đầu tiên mà người sản xuất bán
hàng hoá của mình. Tại những thị trường này, để có thể bán được hàng hoá thì cần những
người am hiểu sâu sắc thị trường, có mối quan hệ tốt với các người bán buôn. Người đó
chính là người môi giới.
Cụ thể phân tích trên thành sơ đồ như sau:
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
12
Sơ đồ 1.3: Các kênh phân phối sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Trên thực tế, người sản xuất không chỉ áp dụng duy nhất một con đường để đưa hàng
hoá của mình tới tay người tiêu dùng. Họ có thể bán hàng trực tiếp tới tay người tiêu dùng
thông qua các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm, bán buôn cho những người bán lẻ để
phân phối được nhiều sản phẩm, đồng thời họ có thể bán hàng thông qua môi giới khi đưa
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
13
Người
sản xuất
Người

sản xuất
Người
môi
giới
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
sản xuất
Người
sản xuất
Người
tiêu
dùng
Người
tiêu
dùng
Người
tiêu
dùng
Người
bán lẻ
Người

tiêu dùng
hàng hoá của mình sang thị trường nước ngoài. Kết hợp nhiều con đường phân phối khác
nhau giúp người sản xuất vừa am hiểu nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất vừa
tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn. Khi lựa chọn các con đường phân phối hàng hoá của mình
thì người sản xuất cần căn cứ vào:
+ Nhu cầu của thị trường: Nhu cầu của thị trường được xem xét trên các góc độ sau: số
lượng của hàng hoá thị trường cần nhiều hay ít; quy mô, những khu vực có nhu cầu đối với
sản phẩm hàng hoá; chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Điều kiện của người sản xuất: Điều kiện ở đây là thực tế về vốn, về mạng lưới phân phối
của người sản xuất. Điều kiện cũng có thể hiểu đó là người sản xuất muốn tung ra sản
phẩm mới hay là mở rộng thị trường.
+ Chiến lược phân phối hàng hoá của người sản xuất.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tới thị trường bán lẻ.
+ Các chính sách của Nhà nước: Đây là yếu tố có tác động quyết định tới sự hình thành và
phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Các phương thức hoạt động của thị trường
bán lẻ như: phân phối kế hoạch hoá; tự do buôn bán hay hoạt động theo cơ chế thị trường
có quản lý... Các chính sách của Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật sẽ quyết định
phương thức hoạt động của thị trường bán lẻ. Hiện nay, chính sách của Nhà nước Việt
Nam là thị trường bán lẻ phát triển theo kiểu kinh tế thị trường có quản lý. Chính sách của
Nhà nước cũng thể hiện định hướng, chiến lược phát triển thị trường bán lẻ theo từng
nhóm hàng; nhóm đối tượng ... tham gia vào thị trường. Ví dụ như tại Việt Nam các chính
sách liên quan tới thị trường bán lẻ đều có những quy định hạn chế tiêu dùng những mặt
hàng cao cấp hay hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp, cơ sở bán lẻ trong nước.
Các chính sách của Nhà nước còn có vai trò trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh giữa
các nhóm đối tượng tham gia vào thị trường bán lẻ. Các thị trường bán lẻ càng phát triển
thị các chính sách của Nhà nước càng có xu hướng thông thoáng và tạo ra môi trường kinh
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
14
doanh công bằng hơn. Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước cũng thể hiện mức độ can

thiệp của vào các hoạt động kinh doanh thương mại.
+ Các yếu tố kinh tế: Đối với thị trường bán lẻ thì các yếu tố kinh tế được hiểu là tổng
cung và cầu về hàng hoá dịch vụ bán lẻ. Một số yếu tố kinh tế có liên quan tới thị trường
bán lẻ:
Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: thể hiện mức độ gia tăng lượng hàng hoá dịch vụ cung
ứng trên thị trường bán lẻ.
Lạm phát: tác động giá cả hàng hoá.
Tình hình thu hút vốn FDI: thể hiện lượng vốn, sức cạnh tranh trên thị trường bán lẻ.
+ Dân cư (người tiêu dùng): Đây là yếu tố tác động tới sự sống còn của thị trường bán lẻ.
Thị trường bán lẻ được coi là thị trường trung gian giữa các nhà sản xuất cung ứng với
người tiêu dùng. Do vậy, sức mua thị hiếu mua sắm của người tiêu dùng là yếu tố định
hướng sự phát triển của thị trường. Rõ ràng, nơi có mật độ dân cư đông thì trường bán lẻ sẽ
phát triển thuận lợi hơn nơi có mật độ dân cư thưa. Nơi người dân giàu có, mức chi tiêu
lớn thị trường bán lẻ sẽ phát triển hơn nơi dân cư nghèo đói, mức chi tiêu nhỏ bé.
+ Cơ sở hạ tầng: các yếu tó về cơ sở hạ tầng có liên quan sản xuất kinh doanh trong hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân tham gia thị trường bán lẻ. Sự phát
triển của cơ sở hạ tầng góp phần to lớn vào sự phát triển của thị trường bán lẻ. Cơ sở hạ
tầng của nền kinh tế liên quan tới sự phát triển của thị trường bán lẻ bao gồm một số yếu tố
sau:
Trình độ hiện đại của hệ thống giao thông đường xá, bến bãi, thông tin liên lạc...
Chi phí vận chuyển bảo quản hàng hoá.
Chi phí xây mới thuê, mua mặt bằng kinh doanh.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
15
+ Yếu tố khoa học kỹ thuật: Các yếu tố khoa học kỹ thuật quyết định và chi phối việc ứng
dụng KH&KT trên thị trường; quyết định sự ra đời của sản phẩm mới, hình thành phương
thức kinh doanh mới, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu dùng của người dân. Một số yếu tố KH&
KT tác động đến thị trường bán lẻ:
Trình độ trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.

Mức độ đầu tư khoa học công nghệ và tốc độ triển khai của ứng dụng mới trên nền kinh tế.
Chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM.
2.1. Thị trường bán lẻ Việt Nam theo các cam kết gia nhập WTO.
Các cam kết trong WTO của Việt Nam về mở cửa thị trường bán lẻ:
Trong cam kết WTO, Việt Nam cam kết mở cửa lĩnh vực dịch vụ trong đó ngành dịch
vụ phân phối hàng hóa được thương lượng rất kỹ. Quá trình mở cửa thị trường phân phối
hàng hóa gồm 3 giai đoạn cơ bản
1
:
Giai đoạn 1: trước ngày 1/1/2008 các doanh nghiệp nước ngoài muốn tham gia cung
cấp dịch vụ phân phối hàng hóa sẽ phải liên doanh với các doanh nghiệp của Việt Nam.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, phần vốn góp của nước ngoài sẽ bị giới hạn ở mức tối
đa là 49%.
Giai đoạn 2: 1/1/2008. Tỷ lệ góp vốn 49 % sẽ được dỡ bỏ. Các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài được phép làm đại lý, là nhà bán buôn và kinh doanh bán lẻ tất cả các mặt hàng
nhập khẩu hợp pháp và các sản phẩm trong nước theo quy định của pháp luật, ngoại trừ xi
măng và clinker, lốp (bào gồm cả lốp máy bay), sản phẩm giấy, các loại máy kéo, xe tải, xe
con và xe máy, sắt và thép, thiết bị nghe nhìn, rượu các sản phẩm có cồn, phân bón.
Giai đoạn 3: Tại thời điểm 1/1/2009, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được
phép tham gia làm đại lý, kinh doanh bán buôn và bán lẻ các loại sản phẩm: máy kéo, xe
tải, xe con và xe máy. Sau 3 năm tính từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, tất cả những
1
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
16
hạn chế trên sẽ được dỡ bỏ. Việc thành lập các đại lý cung cấp dịch vụ bán lẻ sẽ được cho
phép trên cơ sở “xem xét nhu cầu nền kinh tế”.
2.2. Khái quát chung về thị trường bán lẻ Việt Nam.

2.2.1. Thị trường bán lẻ từ năm 1968 - nay
Hình thức phân phối hàng hoá ở Việt nam trước năm 1986 đa phần theo hình thức tem
phiếu. Khi đó hầu hết các hàng hoá đều do nhà nước thu thập rồi phân phối theo kiểu phổ
thông đầu phiếu. Vớ kiểu phân phối này người dân đều được nhận một số lượng hàng hoá
như nhau. Ban đầu, hình thức này tỏ ra vô cùng hiệu quả đặc biệt trong trường hợp chiến
tranh. Nhưng sau này, khi giành được độc lập cuộc sống của người dân bắt đầu thay đổi thị
hình thức phân phối này không còn phù hợp nữa.
Sau năm 1986 cùng với sự thay đổi của đất nước thị thị trường bán lẻ Việt Nam cũng
có sự thay đổi. Hàng hoá đã bắt đầu được phân phối theo kiểu thị trường tức là theo nhu
cầu, thu nhập của người dân. Hệ thống cửa hàng bán lẻ và các chợ phát triển nở rộ. Hàng
hoá được tự do lưu thông trên thị trường. Trên thị trường bắt đầu xuất hiện nhiều mặt hàng
ngoại nhập. Cùng với sự nở rộ của thị trường hàng loạt các doanh nghiệp bán lẻ và tầng
lớp thương gia được hình thành.
Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu làm quen với các kênh phân phối hiện đại từ năm
1993, khi một siêu thị nhỏ Minimart khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh. Siêu thị đầu
tiên ở Hà Nội cũng là siêu thị Minimart ở tầng hai chợ Hôm được khai trương vào năm
1995. Do nền khinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng và đặc biệt sau cuộc khủng
hoảng kinh tế châu Á năm 1997 thị hệ thống siêu thị ở Việt Nam phát triển nở rộ. Trong
thời gian này, nổi danh trong lĩnh vực bán lẻ như Saigonco.op với hệ thông siêu thị
Co.opmart; công ty Đông Hưng với hệ thống siêu thị Citimart...
Đến năm 1999, thị trường bán lẻ Việt Nam bắt đầu có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với
các nhà đầu tư nước ngoài, đi đầu là tập đoàn Bourbon của Pháp với siêu thị đầu tiên BigC
tại Đồng Nai. Tiếp sau đó hàng loạt các tên tuổi khác Metro Cash& Carry (Đức),
Parkson( Malaixia)... thâm nhập thị trường bán lẻ Việt Nam.
Đến năm 2007 là mốc quan trọng của thị trường bán lẻ Việt Nam. Năm 2007, Việt
Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giớ WTO và mở cửa hoàn toàn
thị trường bán lẻ năm 2009. Thị trường bán lẻ Việt Nam có sự góp mặt của các doanh
nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định

17
Sau 25 năm đổi mới, thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển nhanh chóng. mức tăng
tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2001 là 11,3% và năm 2005
là 20,53% (bình quân tăng 16,86%/năm), cao gấp 2,25 lần tốc độ tăng GDP, năm 2008
tăng kỷ lục 31%, cao gấp 4,71 lần tốc độ tăng GDP (bình quân 3 năm 2006 - 2008 tăng
26,32%/năm, cao gấp 3,46 lần tốc độ tăng GDP).
2.2.2. Nhu cầu đa dạng về hàng hóa
Cùng với sự phát triển của kinh tế nhu cầu về hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú,
do thu nhập của người dân tăng lên cùng với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ con
người có thể sản xuất được nhiều loại hàng hóa khác nhau để thỏa mãn nhu cầu ngày càng
cao của xã hội. Trong nền kinh tế thị trường quan hệ cung cầu sẽ định hình thị trường, “có
cầu ắt có cung” thế giới có hơn 6 tỷ người với những tầng lớp người sẽ có nhu cầu về hàng
hóa khác nhau. Tầng lớp thượng lưu có nhu cầu khác với tầng lớp trung lưu về 1 mặt hàng
nào đó. Mà để tồn tại và phát triển con người lại có vô số nhu cầu khác nhau từ ăn mặc, ở,
đi lại,học hành,....và có hàng triệu triệu công ty, mỗi công ty cung cấp các nhu cầu chưa
được thỏa mãn của con người. Chỉ từ nhu cầu đi lại có nhu cầu sử dụng xe máy, xe đạp, ô
tô, máy bay, tàu thủy,.... trong lĩnh vực sản xuất ô tô lại có rất nhiều công ty sản xuất nhằm
thỏa mãn từng đoạn thị trường. Trên thực tế nhu cầu của con người là vô tận như họ bị giới
hạn bởi khả năng tài chính vì vậy nghiên cứu xem nhu cầu nào chưa được đáp ứng để cung
cấp các sản phẩm phục vụ nhu cầu đó thì doanh nghiệp sẽ thành công trong lĩnh vực của
mình.
2.3. Thực trạng thị trường bán lẻ Việt Nam.
Từ năm 2005 cho tới nay thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển nhanh chóng với tốc độ
tăng trên 20% mỗi năm.Trong giai đoạn này có sự tham gia của các tập đoàn bán lẻ lớn
trên thế giới. Chính những doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài này đã đem tới động lực mới,
phương thức kinh doanh mới… cho thị trường bán lẻ Việt Nam Cùng với chu kỳ suy thoái
kinh tế thế giới đã tạo ra 1 bức tranh muôn mầu về thị trường bán lẻ trong nước.
2.3.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ.
Theo số liệu của tổng cục thống kê thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả
nước luôn đạt tốc độ tăng trưởng trên 20%. Số liệu chi tiết thể hiện thông qua biểu đồ.

Biểu đồ 2.1. Tổng mức bán lẻ giai đoạn 2005-2009.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
18
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 2005 – 2009 đều đạt trên 20%. Mức tăng trung bình
của thời kỳ này là 26% cao gấp hơn 3 lần so với tốc độ tăng GDP. Đặc biệt năm 2008 tốc
độ tăng đạt kỷ lục 34.9% và tổng giá trị đạt 1007.2 ngàn tỷ đồng gấp hơn 2 lần so với tổng
mức bán lẻ 2005. Sang năm 2009 tốc độ tăng giảm mạnh xuống còn 20.6% điều này được
giải thích bởi tác động của suy thoái kinh tế dẫn đến người dân ít chi tiêu hơn. Tốc độ tăng
trưởng kỷ lục vào năm 2008 là do đó là năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO các rào cản
dần được xóa bỏ doanh nghiệp nước ngoài ra nhập thị trường dễ dàng hơn tạo ra sự cạnh
tranh gay gắt làm cho giá giảm mạnh cộng với cầu tiêu dùng của người dân ngày một cao
và tốc độ tăng giá tiêu dùng ở mức cao 22,97%.
Tuy nhiên, tổng mức bán lẻ này không có sự đóng góp đồng đều từ các vùng miền trên
cả nước. Do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau nên hoạt động bán lẻ trên các vùng miền
trên cả nước cũng có sự khác biệt.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ tính theo các vùng miền được thống kê ở
bảng dưới đây
Bảng 2.1. Tổng mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ tính theo các vùng trên cả nước
Đơn vị: tỷ đồng
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
19
2005 2006 2007 2008 2009
cả nước 480293,5 596207,1 746159,4 1007213,5 1214532,1
Đồng bằng sông Hồng 106737,9 136853,8 171585,0 237424,5 280100,9
Trung du và miền núi phía Bắc 24783,7 29803,0 38015,8 50541,0 60663,8
Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung

76728,3 95477,0 119845,0 156810,5 187346,1
Tây Nguyên 17398,2 21681,0 27870,1 40170,8 48583,1
Đông Nam Bộ 157144,2 196027,9 244059,1 336668,2 414797,2
Đồng bằng sông Cửu Long 97501,2 116364,4 144784,5 185598,5 223041,0
Nguồn : Tổng cục thống kê
Nhìn chung, sự phát triển hoạt động bán lẻ của các vùng trên cả nước đều có tốc độ
tăng trưởng đồng đều cùng với sự tăng trưởng chung của hoạt động bán lẻ trên cả nước.
Trong tất cả các năm, tất cả các vùng thì tổng mức bán lẻ tăng trung bình các năm là
khoảng 26,3%
Mức tăng của khu vực Tây Nguyên cao nhất trung bình 29,5% /năm và mức tăng thấp
nhất thuộc về đồng bằng sông Cửu Long với mức tăng 23%/ năm.
Mức tăng trung bình của các vùng trong 2008 là 35,3% trong đó Tây Nguyên có mức
tăng cao nhất 44,1% thấp nhất là đồng bằng sông cửu 28,1%
Tổng mức bán lẻ đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long luôn chiếm
khoảng 1/3 tổng mức bán lẻ của cả nước. Khu vực Đông Nam Bộ với các thành phố mà
mức tiêu dùng lớn ( thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Bình Dương...) thì tổng mức bán lẻ
lớn nhất so với các vùng khác trên toàn quốc. Tổng mức bán lẻ của Đông Nam Bộ gần
bằng tổng mức bán lẻ tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long cộng lại.
Như vậy, tổng mức bán lẻ tại ba vùng này đã chiếm tới 2/3 tổng mức bán lẻ của cả nước.
Hầu hết các siêu thị lớn, trung tâm thương mại hiện đại đều được xây dựng tại những vùng
này. Giải thích cho vấn đề này có hai lí do chính. Thứ nhất, tại những vùng này giao thông
đi lại và vận chuyển hàng hoá dễ dàng (ở đây là các vùng đồng bằng đường xá thuận tiện,
có những cảng biển lớn như Sài Gòn, Hải Phòng...). Thứ hai, tại những vùng này là những
trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, dân cư tập trung đông đúc, thu nhập của người dân
cũng cao hơn các vùng khác nên sức tiêu thụ sẽ lớn hơn.
Ngược lại, tại những vùng giao thông khó khăn, đời sống của người dân còn nhiều khó
khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc thì tổng mức bán lẻ rất khiêm tốn. Tổng mức bán lẻ Trung
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
20

du miền núi phía bắc chỉ chiếm hơn kém 5% tổng mức bán lẻ của cả nước. Vùng Tây
Nguyên tổng mức bán lẻ cũng luôn chỉ chiếm khoảng 3-4 % tổng mức bán lẻ của cả nước.
Do vậy, những vùng này cần sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước để phát triển hoạt động
bán lẻ
2.3.2. Mạng lưới phân phối.
Mạng lưới bán lẻ ở Việt Nam chủ yếu được phân phối theo các kênh truyền thống như
chợ (bao gồm 8500 chợ), các cửa hàng bán lẻ truyền thống và cửa hàng tạp hóa chiếm trên
80%. Hàng hóa lưu thông qua kênh bán hàng hiện đại (trung tâm thương mại, siêu thị cửa
hàng tự chọn) chiếm khoảng 12% với 451 siêu thị trên cả nước tập trung chủ yếu ở 2 thành
phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra hàng hóa còn được lưu thông qua
các doanh nghiệp trược tiếp sản xuất hình thức này chiếm khoảng 6%. Hàng hóa ở các
vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh phía nam, miền trung và miền bắc, tiểu thương, tư thương
đảm nhận vai trò phân phối hàng là chủ yếu. Nếu đem so sánh với các nước khác trên thế
giới thì càng chứng tỏ hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam vẫn còn lạc hậu. Tại các
nước phát triển thị phần của siêu thị trong lĩnh vực bán lẻ chiếm tới 80-90%. Ở các nước
như Nam Mỹ, Đông Á trừ Trung Quốc thì lượng hàng hóa qua kênh phân phối hiện đại
chiếm tới 50-60%. Ngay cả các nước ở Đông Nam Á ( Thái Lan, Philipin) tỷ lệ này cũng là
30-50%.
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
21
2.3.3. Các doanh nghiệp bán lẻ.
Theo tổng cục thống kê số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ phân
phối năm 2005 là 22736 doanh nghiệp thì năm 2008 số lượng doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực này là 44609 tăng gần gấp đôi. Các doanh nghiệp bán lẻ gồm 13304 năm
2005 và năm 2008 là 24226 tăng 82% . Các doanh nghiệp bán lẻ (bao gồm tất cả các doanh
nghiệp bán lẻ chính thống và các doanh nghiệp thương mại khác thực hiện thêm chức năng
bán lẻ, chẳng hạn doanh nghiệp bán buôn nhưng vẫn tham gia bán lẻ) ở các thành phần
kinh tế khác nhau có mức đóng góp trong tổng mức bán lẻ cũng khác nhau. Có thể nhìn
vào biểu đồ cơ cấu các thành phần kinh tế trong tổng mức bán lẻ hàng hóa để thấy rõ hơn

điều đó.
Biểu đồ 2.3 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả nước phân theo
cơ cấu các thành phần kinh tế giai đoạn 2005 – 2009

( Nguồn tổng cục thống kê)
Thông qua biểu đồ có thể thấy thị trường bán lẻ đã có sự thu hút và tham gia của nhiều
thành phần kinh tế. Tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thấp thường ở mức dưới 4% và tốc độ tăng hàng năm
không cao và có sự sụt giảm vào các năm 2008 và 2009. Điều này được giải thích bởi
trước năm 2007 Việt Nam chưa là thành viên của WTO nên các doanh nghiệp nước ngoài
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
22
muốn tham gia thị trường phải dưới hình thức góp vốn liên doanh và luật pháp việt nam
vẫn còn hạn chế khu vực này. Sang năm 2008 tuy Việt Nam đã gia nhập WTO các dào cản
gia nhập dần được xóa bỏ việc gia nhập thị trường dễ dàng hơn tuy nhiên đây là thời kỳ
kinh thế thế giới bước vào chu kỳ suy thoái các doanh nghiệp nước ngoài không đẩy mạnh
gia nhập thị trường.
Tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ của thành phần kinh tế nhà nước giảm trong khoảng
2005 -2009 trung bình là 1,1% 1 năm do nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh theo
kiểu kinh doanh bao cấp làm ăn thua lỗ đã bị giải thế. Bởi vậy, năm 2005 tỷ trọng thành
phần kinh tế này là 12,9% thì đến năm 2009 là 9,7%.
Thành phần kinh tế ngoài nhà nước (bao gồm các doanh nghiệp bán lẻ trong nước, các
tổ chức, cá nhân, hộ gia đình bán lẻ) với sự năng động nhạy bén của mình thực sự đã
chiếm phần chi phối thị trường bán lẻ. Tỷ trọng trong tổng mức bán lẻ của thành phần kinh
tế này luôn trên 80% và tăng đều đặn qua các năm.
* Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam:
Dưới đây là một số doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam:
Liên hiệp tác xã thương mại Sài Gòn Co.op khi ra đời có vốn ban đầu 100 triệu đồng
2

đến nay tổng tài sản trị giá vài trăm tỷ đồng và hiện là DNBL hàng đầu tại Việt Nam. Đến
nay Sài Gòn Co.op đã có 47 siêu thị (tính đến tháng 11/2010) mang nhãn hiệu Co.op Mart
hoạt động chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quy Nhơn, Tiền Giang sắp tới là An
Giang, Vĩnh Long, Long An. Ngoài ra doanh nghiệp này còn mở rộng thêm kênh phân
phối là các cửa hàng tiện lợi mang tên Co.op.
Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ G7: Công ty chủ trương xây dựng hệ thống
chuỗi các cửa hàng tiện lợi G7 Mart. Công ty chủ trương không hình thành những cửa
hàng trong chuỗi các cửa hàng được trang bị quá hiện đại. Mỗi cửa hàng công ty chỉ đầu tư
khoảng từ 50-200 triệu. Chủ yếu các cửa hàng là các cửa hàng có sẵn cơ sở vật chất (địa
điểm cửa hàng) nhân công tại chỗ ( chủ cửa hàng). Điểm chung nhất của các cửa hàng này
là chuẩn hoá. Tức là công ty tiến hành nâng cấp, trang trí thiết kế lại cửa hàng; tổ chức
trưng bày lại hàng hoá; thống nhất và ổn định nguồn cung; chuẩn hoá các dịch vụ thông
qua đào tạo kỹ năng bán hàng, ứng dụng công nghê... Hiện nay dự án bán lẻ này phát triển
rất nhanh chóng đã có tới hơn 500 cửa hàng tiện lợi được thành lập.
2
________________________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Vũ Văn Định
23

×