Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Khóa luận tốt nghiệp: Một số biện pháp chống thất thu thuế GTGT tại Chi cục thuế Quận 5

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.62 MB, 92 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HOC KINH TẾ TP.HCM
KHOA TÀI CHÍNH NHÀ NƯỚC
   

   KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
      Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT THU  

THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 5

GVHD: TS. Tôn Thất Cảnh Hoà
SVTH:   Nguyễn Thị Hoa
Lơp:      TCNN 03
́
Khoa:    33
́


Lời  

Tp.HCM, tháng 04 năm 2011
Tp.HCM, tháng 04 năm 2011

Cảm Ơn


Qua quá trình học tập tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM và thực tập tại Chi cục  
thuế  Quận 5 em đã học hỏi được rất nhiều kiến thức cả  về lý thuyết lẫn thực tiễn. Với  
lòng biết  ơn sâu sắc em xin chân thành cảm  ơn đến các Thầy, Cô giảng viên trường Đại 
Học Kinh Tế TP HCM đặc biệt là các quý Thầy, Cô là giảng viên của khoa Tài Chính Nhà 
Nước những người đã dìu dắt chúng em ngay từ  khi mới bước vào ngưỡng cửa của Đại  


học.
      Bước vào thời gian thực tập với biết bao bỡ ngỡ và bao sự  lo lắng. Tuy nhiên chúng  
em đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các cán bộ, công nhân viên tại Chi cục thuế 
Quận 5 đã giúp em hoàn thành tốt Chuyên đề Tốt nghiệp này. Để đi được tới chặng đường 
này, bên cạnh sự lỗ  lực của bản thân thì còn có sự  hướng dẫn và giúp đỡ  của rất nhiều 
người, những người Thầy, người Cô mà sau đây em muốn gửi lời chi ân sâu sắc. Cuối 
cùng em xin chân thành cảm ơn tới:
 Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM.
 Các Thầy, Cô là giảng viên thuộc khoa TCNN.
 Thầy chủ nhiệm Đặng Văn Cường.
 Giáo viên hướng dẫn thực tập Thầy Tôn Thất Cảnh Hoà.
 Ban Lãnh đạo Chi Cục Thuế Quận 5.
 Chú Nguyễn Minh Việt ­ Đội Trưởng Đội kiểm tra thuế số 3.
 Tập thể các Cô Chú, Anh Chị trong Đội kiểm tra thuế số 3.

 Chú Trương Ngọc Khoan Đội Nghiệp Vụ ­ Dự Toán.
       Một lần nữa em xin kính chúc Quý Thầy Cô cùng toàn thể Ban Lãnh Đạo, các Anh Chị 
trong Đội kiểm tra thuế  số  3 và Cán Bộ  Chi Cục Thuế  Quận 5 nhiều sức khoẻ  và luôn 
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


                                       Lời mở đầu
          Với sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế 
thị  trường có sự  quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Thuế  càng được  
quan tâm đặc biệt vì thuế chính là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Đồng thời Thuế 
là công cụ  tài chính hết sức quan trọng để  quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, 
điều hoà thu nhập, góp phần thực hiện công bằng xã hội, kiểm soát và giám sát mọi  
hoạt động của nền kinh tế. Bên cạnh đó Thuế  liên quan sâu sắc đến đời sống an  
ninh xã hội vì vậy trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay đòi hỏi phải có chính  
sách thuế thật chặt chẽ và dễ thực hiện đảm bảo đáp ứng được tốc động phát triển  

của nền kinh tế  hiện nay. Có như  vậy vai trò của Thuế  mới thực sự  là động lực 
thúc đẩy sản xuất và tạo điều kiện kích thích kinh doanh, liên kết trong nhiều lĩnh 
vực kinh tế. Song song với chính sách Thuế, cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ thu  
cho NSNN. Xuất phát từ  tầm quan trọng của Thuế, Nhà nước cần có biện pháp 
hoàn thiện chính  sách thuế mang tính chiến lược, đồng bộ và toàn diện nhằm phát 
huy tốt vai trò làm đòn bẩy phát triển kinh tế. Cụ thể là trong những năm qua Luật 
thuế được ban hành, liên tục sửa đổi và bổ sung, đặc biệt là thuế GTGT và TNDN  
từng bước được hoàn thiện và phù hợp với xu thế hiện nay và với các thành phần  
kinh tế, đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Điều này được minh chứng qua sự  phát 
triển kinh tế và nguồn thu trong những năm qua. Tuy nhiên, trước sự  quản lý kinh 
tế  ngày càng đa dạng thì đòi hỏi công tác quản lý thu thuế  phải được quản lý tốt 
hơn để tránh tình trạng thất thu thuế cho NDNN. Từ nhận định trên cùng với sự trải 
nghiệm thực tế tại Chi cục thuế Quận 5 và tình hình thu thuế, công tác chống thất 
thu tại đây. Em thự sự quan tâm với đề tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG THẤT 
THU THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN 5”. Nhằm hoàn thiện hơn công tác 

quản lý và chống thất thu tại Chi cục thếu quận 5 hoà nhập với thành phố Hồ Chí  
Minh cùng với xu thế phát triển chung của cả nước.


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GTGT 

Giá trị gia tăng

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp


TNHH

Trách nhiện hữu hạn

DNTN

Doanh nghiệp tư  nhân

QLDN

Quản lý doanh nghiệp

NSNN

Ngân sách nhà nước

TTTM

Trung tâm thương mại

CBCC

Cán bộ công chức

LP

Liên phường

DN


Doanh nghiệp

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

SXKD

Sản xuất kinh doanh

NTD

Người tiêu dùng

CCT

Chi cục thuế


CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA 
TĂNG
I. TỔNG QUAN VỀ THUẾ GTGT.
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành thuế GTGT.
1.1.1 Khái niệm.
         Thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch  
vụ  phát sinh trong quán trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế  GTGT có 
nguồn gốc từ thuế doanh thu, được nghiên cứu và áp dụng nhằm khắc phục những  
hạn chế  của thuế  doanh thu. Đây là một luật thuế  thu vào mỗi giai đoạn của sản  
xuất, lưu thông sản phẩm, hàng hoá, đi từ  khâu nguyên liệu đến khâu sản phẩm 
hoàn thành và cuối cùng là tiêu dùng. Do đó thuế  GTGT còn được xem là thuế 

doanh thu có khấu trừ số thuế phải nộp ở giai đoạn trước đó.
1.1.2 Nguồn gốc ra đời của thuế GTGT.

Năm 1918, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Siemens ,  là thành viên 
gia đình sáng lập tập đoàn Siemens A­G, tập đoàn sản xuất hàng kim khí điện máy 
lớn nhất nước Đức, đưa ra khái niệm về thuế GTGT và đề xuất với nhà nước Đức 
thay thế loại thuế thương vụ đa bậc.
Năm 1920, thuế  doanh thu được áp dụng cho tất cả  các khâu trong quá trình 
lưu thông hàng hóa, dịch vụ  tại Pháp. Cách tính thuế  này đã tạo ra nguồn thu lớn  
cho NSNN Pháp, nhưng đồng thời đã làm phát sinh tình trạng “thuế  chồng thuế”.  
Năm 1938, Pháp cải tiến thuế doanh thu chỉ đánh một lần vào công đoạn cuối cùng  
của quá trình sản xuất. Năm 1948, thuế  doanh thu tiếp tục được hoàn thiện đánh 
vào từng công đoạn của quá trình sản xuất.
Đến năm 1954, ông Maurice Laure, một viên chức thuế  Pháp đã hoàn chỉnh  
đạo luật thuế GTGT, thuế GTGT chính thức ra đời vào ngày 10/04/1954. Tại Việt 
Nam, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế GTGT vào năm 1973 sau khi áp dụng và 
sửa đổi một số sắc thuế như thuế Khiêm ước, thuế Song Hành. Đến năm 1975, khi  
miền Nam hoàn toàn giải phóng, luật thuế  này đã được bãi bỏ. Năm 1993, thuế 


GTGT áp dụng thí điểm cho 19 doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp ngành mía 
đường và doanh nghiệp quốc doanh) nhưng chương trình thí điểm đã bị  thất bại. 
Trước nhu cầu bức bách của hội nhập nền kinh tế, ngày 01/01/1999 thuế  GTGT 
được áp dụng tại Việt Nam sau một thời gian nghiên cứu, hoc hỏi kinh nghiệm từ 
các nước trong khu vực và thế giới.
Do những  ưu điểm vốn có của thuế  GTGT so với các loại thuế gián thu đánh 
vào tiêu dùng, thuế  GTGT sau đó được áp dụng phổ  biến  ở  các nước liên minh  
Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Châu Á. Tính đến nay đã có hơn 130 quốc  
gia áp dụng sắc thuế này.
1.2 Bản chất và cơ chế vận hành thuế GTGT.

Thuế GTGT chỉ thu vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ theo phân đoạn 
trong quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa từ  khâu đầu tiên tới người tiêu dùng,  
tổng số thuế thu được ở phân đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hóa  
hoặc dịch vụ  cho người tiêu dùng. Do đó thuế  GTGT tránh được hiện tượng đánh  
thuế trùng lắp.
Thuế GTGT mang tính chất động viên và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội,  
sản phẩm quốc dân, nguồn tài chính tiền tệ  khác do các tổ  chức kinh doanh, tổ 
chức kinh tế và các thành viên trong xã hội tạo ra nhằm hình thành quỹ tiền tệ của 
Nhà Nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của xã hội.
Trong những năm qua, thuế  mang lại nguồn thu  ổn định thường xuyên cho 
NSNN. Sức động viên của thuế  ngày càng cao trên tổng thu của NSNN. Điều này  
càng chứng tỏ sự quan trọng của thuế trong quản lý vi mô và vĩ mô. Đối với Nhà  
nước  thuế  là  đòn bẩy  thúc  đẩy sản  xuất  kinh  doanh  phát triển  theo  đúng  định 
hướng XHCN.
1.3  Vai trò của thuế GTGT.
         Thuế  GTGT tạo nên môi trường công bằng, qua đó góp phần thúc đẩy sản 
xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ.
Thuế  doanh thu với sự trùng lắp đã gây  ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và  
lưu thông hàng hoá. Trong khi đó, thuế GTGT lại có ưu điểm là chỉ thu vào phần giá 


trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng 
hoá cho đến tiêu dùng, hoàn toàn không thu thuế trên toàn bộ doanh thu như mô hình 
thuế   doanh thu.  Việc   áp  dụng  thuế  GTGT  thay  cho thuế   doanh thu  không  ảnh  
hưởng tới giá cả sản phẩm tiêu dùng, không gây khó khăn, trở ngại cho các khâu từ 
sản xuất lưu thông hàng hoá và tiêu dùng cuối cùng.
Thuế  GTGT không có hiện tượng thuế  trùng thuế, giúp cho giá cả  hàng hoá, 
dịch vụ  được xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần  ổn định giá cả, khuyến 
khích và thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá.
Thuế  GTGT động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN, 

góp phần hình thành khoản thu lớn vào  ổn định cho NSNN. Với phạm vi áp dụng 
rộng rãi trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng nộp thuế và chịu thuế đều dễ 
dàng chấp nhận, tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT 
thực hiện vai trò này một cách rõ rệt trên thực tế.
          Thuế GTGT áp dụng thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu và được khấu trừ 
hoặc hoàn lại toàn bộ số thuế GTGT của các yếu tố mua vào nên có tác dụng giảm 
chi phí, hạ  giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hoá  
xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
          Đối với hàng nhập khẩu, thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng chi  
phí cho các nhà nhập khẩu. Nếu thuế  nhập khẩu là hàng rào thuế  quan thứ  nhất 
bảo hộ  mậu dịch thì thuế  GTGT  ở  khâu nhập khẩu cũng có thể  xem là hàng rào  
thuế quan thứ hai góp phần bảo hộ mậu dịch dù mức độ bảo hộ  có thấp hơn thuế 
nhập khẩu.
Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc  
mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ. Kỹ  thuật tính thuế  GTGT đầu ra và thuế 
GTGT đầu vào là biện pháp kinh tế  góp phần thúc đẩy người mua và người bán 
thực hiện tốt hơn chế độ  hoá đơn, chứng từ. Góp phần thực hiện hệ thống chính 
sách thuế   ở  nước ta phù hợp với sự  vận động và tăng trưởng của nền kinh tế  thị 
trường, tạo điều kiện mở rộng hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới.
1.4  Ưu, nhược điểm của thuế GTGT.


1.4.1  Ưu điểm.

Ưu điểm quan trọng nhất của thuế  GTGT là khắc phục được tính trùng lắp  
của thuế  doanh thu bởi lẽ khi tính thuế  GTGT  ở  mỗi giai đoạn của quy trình sản  
xuất, kinh doanh sẽ được khấu trừ số thuế GTGT  ở giai đoạn trước. Trong khi đó 
thuế doanh thu tính lên cả số thuế doanh thu ở khâu đã nộp.
Ưu điểm thứ hai của thuế GTGT lá góp phần tăng cường công tác hạch toán,  
thúc đẩy việc mua bán có hoá đơn, chứng từ. Bởi vì thếu GTGT yêu cầu nếu muốn  

được khấu trừ  thuế  của các khâu trước cần thiết phải có đẩy đủ  hoá đơn GTGT  
đầu ra và đầu vào.
Ưu điểm thứ  ba của thuế  GTGT chính là sự  đơn giản của nó trong công tác 
quản lý thu thuế. Người nộp thuế có thể tự mình xác định số thuế phải nộp và trực 
tiếp nộp cho cơ quan thuế, cơ quan thuế chỉ thực hiện công tác kiểm tra sổ sách kế 
toán của doanh nghiệp.
Ưu điểm thứ tư của thuế GTGT là đối tượng và phạm vi chịu thuế GTGT rất  
rộng.  Ưu điểm này cho phép Chính phủ  có thể  vận dụng để  khuyến khích hoạt 
động xuất khẩu, cũng như  áp dụng thuế  suất vừa phải, hợp lý hơn là tăng thuế 
suất, một biện pháp dễ bị phê phán.
1.4.2 Nhược điểm.
 Luật thuế GTGT  ở Việt Nam giai đoạn đầu áp dụng gặp không ít khó khăn, 
vướng mắc cần có một quá trình điều chỉnh, sửa đổi, bổ  sung khá vất vả. Luật 
thuế  GTGT với 2 phương pháp tính thuế  tồn tại song song tạo ra mội trường kinh  
doanh không bình đẳng giữa đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp  
và đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
Tồn tại nhiều hóa đơn khác nhau: hóa đơn bán hàng thông thường, hóa đơn  
GTGT và hóa đơn thu mua hàng hóa trực tiếp của người không có hóa đơn. Gây khó  
khăn cho việc kiểm tra, xác minh của cơ quan thuế.
Thuế suất chỉ có ba nhóm : 0%, 5%, 10% nhưng không có tiêu thức rõ ràng để 
xác định một mặt hàng hoặc dịch vụ thuộc nhóm nào. Thuế suất áp dụng chưa thực  


sự  phù hợp với nhiều ngành nghề. Do đó thường điều chỉnh hoặc miễn giảm nên 
chưa thể hiện tính ổn định.
Người tiêu dùng Việt Nam chưa thực sự có lợi ích khi mua hàng hóa, dịch vụ 
tiêu dùng khi có hóa đơn nên gây thất thu thuế không nhỏ cho NSNN.
Số  lượng văn bản có liên quan đến   thuế  GTGT đã ban hành quá nhiều gây 
lúng túng cho NNT cũng như các cơ quan chức năng trong quá trình quản lý và điều  
hành.

Từ  khi áp dụng luật thuế  GTGT thì các hành vi trốn thuế  của doanh nghiệp 
cũng tinh vi hơn nhằm thu tiền của Nhà nước thông qua việc hoàn thuế GTGT.
Cơ  cấu thu NS giữa trung  ương và NS địa phương có sự  thay đổi. Trước đây  
thuế doanh thu được phân chia giữa NS trung ương và NS địa phương. Nhưng hiện  
nay, nguồn thu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu tập trung toàn bộ vào NS trung ương,  
thuế GTGT ở khâu còn lại sẽ được phân chia giữa hai đơn vị trên. Thu thuế GTGT  
từ khâu nhập khẩu có giá trị lớn trong khi số thu thuế GTGT trong nước lại giảm so  
với thuế  doanh thu cho nên phần phân chia ngân sách của địa phương không còn  
như trước đây.
1.5  Nội dung cơ bản của thuế GTGT tai Việt Nam.
Ở  Việt Nam Luật thuế  GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua vào ngày 
19/05/1997. Có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Tiếp đến là Luật sửa đổi bổ sung một 
số điều của luật thuế GTGT QH khoá XI  thông qua ngày 17/06/2003, có hiệu lực 
từ ngày 01/01/2004. Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế GTGT  
ngày 03/06/2008 thay thế  cho Luật thuế GTGT 1997 và Luật thuế  GTGT sửa đổi,  
bổ sung năm 2003 và 2005. Có thể khái quát nội dung luật thuế như sau:
1.5.1

Đối tượng chịu thuế GTGT.
Đối tượng chịu thuế GTGT là tất cả hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh 

doanh và tiêu dùng  ở  Việt Nam, trừ  29 nhóm đối tượng hàng hoá, dịch vụ  không 
chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật thuế GTGT.
1.5.2

 Đối tượng nộp thuế GTGT.


Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu  
thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh  

(gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế 
GTGT (gọi chung là người nhập khẩu).
Tất cả  các tổ  chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ  từ  nước ngoài 
hoặc được xem như nhập khẩu hàng hoá từ  nước ngoài nếu các hàng hoá, dịch vụ 
này thuộc diện chịu thuế GTGT  ở Việt Nam thì các nhà nhập khẩu này cũng là đối 
tượng nộp thuế GTGT.
1.5.3

Căn cứ tính thuế: Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.

 Giá tính thuế: Giá tính thuế được quy định như sau:

Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa  
có thuế GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ  đặc biệt là giá bán đã  
có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng.
  Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế  nhập 
khẩu (nếu có), cộng với thuế  tiêu thụ  đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu  
được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
 Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho 
là giá tính thuế  giá trị  gia tăng của hàng hóa, dịch vụ  cùng loại hoặc tương đương  
tại thời điểm phát sinh các hoạt động này. 
 Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị gia  
tăng. Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền 
thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế  là tiền cho thuê trả  từng kỳ  hoặc trả 
trước cho thời hạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng.
Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại 
trong nước chưa sản xuất được để  cho thuê lại, giá tính thuế  được trừ  giá thuê  
phải trả cho nước ngoài.
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả  chậm là giá tính theo giá  
bán trả một lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó, không bao gồm khoản  

lãi trả góp, lãi trả chậm.


Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với  
hoạt động  xây dựng, lắp đặt là giá trị  công trình, hạng mục công trình hay phần 
công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế  giá trị  gia tăng. Trường hợp xây dựng, 
lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị 
xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị.
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có 
thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp  
ngân sách nhà nước.
Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ  hưở ng hoa 
hồng là tiền hoa hồng thu đượ c từ  các hoạt động này chưa có thuế  giá trị  gia 
tăng.
Đối với hàng hoá, dịch vụ  được sử  dụng chứng từ  thanh toán ghi giá thanh 
toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức  
sau: 

Giá chưa có thuế                                         Giá thanh toán
giá trị gia tăng             =     
                                                     1 +  thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)

Giá tính thuế  đối với hàng hoá, dịch vụ  quy định tại khoản 1 bao gồm cả 
khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng. 
Giá tính thuế  được xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp người nộp  
thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao  
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt 
Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.
 Thuế suất thuế GTGT: Thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dich vụ được 


áp dụng như sau:
 Thuế suất 0%: 


Áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm cả  hàng hóa gia công xuất 
khẩu, hoạt động  xây dựng, lắp đặt các công trình ở  nước ngoài, hàng hóa bán cho 
cửa hàng miễn thuế, dịch vụ  tín dụng, đầu tư  tài chính, đầu tư  chứng khoán ra 
nước ngoài, và các hàng hóa dịch vụ  không chịu thuế  GTGT tại Điều 5 của Luật  
thuế  GTGT khi xuất khẩu, trừ  các trường hợp không áp dụng mức thuế  suất 0%  
sau:
Tái bảo hiểm ra nước ngoài, chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền 
sở  hữu trí tuệ  ra nước ngoài, chuyển nhượng vốn cấp tín dụng, đầu tư  chứng  
khoán ra nước ngoài, dịch vụ  tài chính phái sinh, dịch vụ  bưu chính viễn thông 
chiều đi ra nước ngoài, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chế 
biến, chưa chế biến thành sản phẩm khác, hàng hoá dịch vụ  cung cấp cho cá nhân  
không đăng kí kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy  
định của Thủ tướng Chính phủ.
 Thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sau đây:
 Phân bón, quặng để sản xuất phân bón, kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng.
 Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
 Đào đắp, nạo vét kênh phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi, trồng, chăm sóc, phòng 

trừ sâu bệnh cho cây trồng, thu, hái, sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp.
 Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua  

chế biến, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật thuế GTGT.
 Máy móc thiết bị  dùng cho sản xuất nông nghiệp: máy cày, bừa, máy thu hoạch  
sản phẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừ sâu.
 Đường, phụ phẩm trong sản xuất đường, gồm gỉ đường, bã mía, bã đường.


 Sản phẩm bằng đay, cói, tre, song mây, nứa, lá là các loại sản phẩm được sản 
xuất, chế biến từ nguyên liệu chính là đay, cói, tre, song, mây, nứa.
 Thiết bị, máy móc và các dụng cụ chuyên dùng trong y tế như: máy soi, máy chụp  
dùng trong khám và điều trị  bệnh, xe cứu thương, bơm kim tiêm, truyền máu, 
dụng cụ phòng tránh thai, bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh dùng trong y tế.
 Thuốc chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi.


 Giáo cụ  dùng để  giảng dạy và học tập, dụng cụ  chuyên dùng cho giảng dạy,  
nghiên cứu, thí nghiệm khoa học.
 Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, biểu diễn nghệ thuật, nhập khẩu, phát hành 
và chiếu phim.
 Đồ  chơi trẻ  em, sách các loại (trừ  sách quy định tại khoản 15 Điều 5 của luật 
thuế GTGT).
 Thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại mức 
thuế suất 0% và 5%.

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.
2.1  Phương pháp khấu trừ.

2.1.1. Đối tượng áp dụng.
Áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện đầy đủ  các điều kiện về sổ sách 
kế toán, hóa đơn chứng từ theo quy định của pháp luật về  kế toán, hóa đơn, chứng 
từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
2.1.2. Xác định số thuế GTGT phải nộp.
Đối với hàng hóa dịch vụ  do cơ  sở sản xuất kinh doanh bán ra giá tính thuế  là giá  
bán chưa có thuế GTGT.
Số thuế GTGT

=


phải nộp

Thuế GTGT
đầu ra

=

Thuế GTGT
đầu ra

­

Thuế GTGT đầu vào
được khấu trừ

Giá   tính   thuế   của  

Thuế   suất   thuế   GTGT  

hàng hóa dịch vụ chịu   x

của hàng hóa,

thuế bán ra

 dịch vụ đó


Thuế GTGT đầu ra được xác định trên cơ sở hàng hoá, dịch vụ tính thuế và giá  

tính thuế. Hàng hoá dịch vụ tính thuế là số lượng tiêu thụ  trong kỳ tính thuế kể cả 
một số  trường hợp tính thuế  theo quy định. Giá tính thuế  GTGT đầu ra là giá bán 
chưa có thuế GTGT, trên thực tế cơ sở kinh doanh hoạt động với nhiều ngành nghề 
với đặc điểm kinh doanh khác nhau. Do đó khi hướng dẫn thi hành luật thuế Bộ Tài 
Chính và Tổng Cục Thuế có những hướng dẫn cụ thể để xác định thuế GTGT phù  
hợp với đặc điểm của cơ sở kinh doanh.
Đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất trong nước và dịch vụ chịu  
thuế  TTĐB  ở  khâu kinh doanh trong nước thì giá tính thuế  GTGT là giá bán bao 
gồm cả thuế TTĐB nhưng chưa bao gồm thuế GTGT.
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp thì giá tính thế được tính theo  
giá bán của sản phẩm được tính trả  một lần chưa bao gồm thuế GTGT không bao  
gồm lãi trả góp.
Hàng hóa sản xuất tiêu dùng không phục vụ  sản xuất, kinh doanh sản phẩm  
không chịu thuế GTGT thì phải tính thuế đầu ra, giá tính thuế của những hàng hóa, 
dịch vụ này được tính theo giá tính thuế của những hàng hóa, dịch vụ cùng loại.
Đối với hàng hóa, dịch vụ  có tính đặc thù dùng các chứng từ  như  tem bưu  
chính, vé cước xe tải, vé số kiến thiết,… ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT 
thì giá chưa có thuế GTGT được xác định:

Giá thanh toán
Giá tính thuế  =

1 + Thuế suất


Thuế  GTGT đầu vào được khấu trừ  bằng tổng thuế  GTGT đầu vào ghi trên  
hóa đơn GTGT của các yếu tố  đầu vào mua trong nước và thuế  GTGT ghi trên 
chúng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu dùng vào lao động sản 
xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ chịu thuế GTGT.
 Điều kiện để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào :

 Là đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
 Hàng hoá, dịch vụ mua vào phải có hoá đơn GTGT, hoặc hoá đơn tự in, hoặc chứng  

từ đặc thù được cơ quan thuế hay BTC chấp nhận. Hàng hoá nhập khẩu phải có  
chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu.
 Số thuế GTGT đầu vào phải được ghi rõ trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ 

và thuế  suất GTGT ghi trên hoá đơn phải phù hợp với mức thuế  suất quy định 
tương ứng với hàng hoá, dịch vụ mua vào.
2.2  Phương pháp trực tiếp.

2.2.1. Đối tượng áp dụng.
Được áp dụng đối với các cá nhân kinh doanh chưa có đủ  điều kiện áp dụng  
tính thuế  theo phương pháp khấu trừ  và các cơ  sở  kinh doanh vàng, bạc, đá quý,  
ngoại tệ, tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam nhưng không thành 
lập pháp nhân tại Việt Nam và chưa thực hiện đầy đủ  các điều kiện về  kế  toán,  
hoá đơn, chứng từ  để  làm căn cứ  tính thuế  theo phương pháp khấu trừ  thuế. Với  
phương pháp này, thuế GTGT phải nộp được xác định như sau:
Số thuế GTGT
phải nộp

GTGT của hàng 
=

hóa, dịch vụ chịu 
thuế

Thuế suất 
x


thuế GTGT của 
hàng hóa, dịch vụ đó

 2.2.2. Cách xác định thuế GTGT phải nộp:  Đối với những cơ sở kinh doanh thực 
hiện đầy đủ việc mua bán hàng hóa, có hóa đơn, áp dụng công thức sau:


GTGT của hàng 
hóa, dịch vụ 

Doanh số của 
=

chịu thuế

hàng hóa, dịch vụ 

Giá vốn hàng 
­

chịu thuế

hóa, dịch vụ 
bán ra

 Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện hóa đơn chứng từ bán hàng hóa, 
dịch vụ nhưng không đủ hóa đơn mua vào áp dụng công thức sau;

GTGT của hàng  
hóa, 


    =

Doanh thu

x

dịch vụ 

Tỷ lệ (%) GTGT tính 
trên doanh thu

 Đối với những hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và có nhưng mặt hàng tiêu  
thụ đặc biệt, thì áp dụng công thức sa

Thuế GTGT 

    =

phải nộp 

Giá tính 
thuế 
GTGT

Giá tính thuế 
GTGT

Giá tính 
=


thuế nhập 
kh ẩu

x

Thuế suất

Thuế nhập  
+

khẩu

Thuế 
+

tiêu thụ 
đặc biệt


III. HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG.
3.1 Định nghĩa.
Hoàn thuế là việc NSNN trả lại cho cơ sở kinh doanh số thuế GTGT khi mua  
hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh chưa được khấu trừ  trong kỳ tính thuế. Về 
nguyên tắc khi phát sinh thuế GTGT được khấu trừ, Nhà nước phải khấu trừ  đầy  
đủ, kịp thời cho đối tượng nộp thuế, nếu khấu trừ không hết thì phải hoàn lại cho 
NNT. Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế 
được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau :



Cơ  sở  kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở  lên (không phân biệt niên độ  kế 
toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết thuế.



Cơ  sở  kinh doanh trong tháng có hàng hoá, dịch vụ  xuất khẩu nếu có số  thuế 
GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ  xuất khẩu phát sinh trong tháng chưa  
được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng.



Đối với cơ  sở  kinh doanh đầu tư  mới tài sản cố  định đã đăng ký kinh doanh, 
nộp thuế  theo phương pháp khấu trừ  thuế  trong giai đoạn đầu tư  chưa đi vào 
hoạt động, chưa phát sinh thuế GTGT đầu ra. Nếu đầu tư  từ  một năm trở  lên  
thì được xét hoàn thuế  theo từng năm, nếu thuế  GTGT đầu vào có giá trị  lớn 
hơn 200 triệu thì được xét hoàn thuế theo quý.



Đối với cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi 
vào hoạt động, chưa đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, có số  thuế  GTGT 
đầu vào sử  dụng cho dự  án từ  200 triệu đồng trở  lên được xét hoàn thuế  theo 
quý.



Cơ  sở  kinh doanh quyết toán thuế  khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể,  
phá sản, chuyển đổi sở hữu, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp có số thuế 
GTGT nộp thừa cũng được giải quyết hoàn thuế.





Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền 
theo quy định của pháp luật.



Hoàn thuế GTGT đã trả đối với các dự án sử dụng vốn ODA.



Hoàn thuế    đối với các tổ  chức  ở  Việt Nam mua hàng hoá tại Việt Nam để 
viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.

3.2 Quy trình hoàn thuế GTGT.   
Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế.
Việc tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế  của NNT được thực hiện theo quy định của  
Quy chế hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải 
quyết các thủ tục hành chính thuế của NNT theo cơ chế một cửa ban hành kèm theo  
Quyết định số 78/2007/QĐ­BTC. Cụ thể như sau:
1. Đối với hồ  sơ  NNT gửi đến cơ  quan thuế  qua đường bưu chính: Bộ  phận 
HCVT tiếp nhận hồ sơ thực hiện.
2. Đối với hồ sơ NNT trực tiếp đến nộp tại cơ quan thuế (và hồ  sơ  do bộ  phận  
tiếp nhận hồ sơ qua đường bưu chính chuyển đến), bộ phận một cửa thực hiện.
3. Đối với hồ sơ NNT gửi đến cơ quan thuế thông qua giao dịch điện tử: bộ phận 
được giao tiếp nhận hồ sơ thực hiện tiếp nhận, kiểm tra thông qua hệ thống xử lý 
dữ  liệu điện tử  theo quy định. Hồ  sơ  NNT gửi đến cơ  quan thuế  thông qua giao  
dịch điện tử phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
4. Bộ  phận tiếp nhận hồ  sơ  nêu trên có trách nhiệm chuyển hồ  sơ  đã đầy đủ,  

đúng thủ tục đến bộ phận có liên quan ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là 
đầu giờ ngày làm việc tiếp theo kể từ khi nhận được hồ sơ hoàn thuế của NNT tại  
cơ quan thuế.
Bước 2: Phân loại hồ  sơ  hoàn thuế:   Bộ  phận phân loại hồ  sơ  hoàn thuế  thực 
hiện.
 Kiểm tra, đối chiếu với quy định hiện hành để phân loại hồ sơ hoàn thuế  thuộc 
diện hoàn thuế  trước, kiểm tra sau hoặc kiểm tra trước khi hoàn thuế  và các 
trường hợp hoàn thuế khác.


 Trong quá trình phân loại nếu xác định hồ sơ không thuộc trường hợp được hoàn 

thuế. Lập Phiếu phân loại hồ sơ hoàn thuế.
 Đối với hồ  sơ thuộc diện hoàn thuế  trước, kiểm tra sau: Chuyển đến bộ  phận  
giải quyết hồ sơ hoàn thuế trước, kiểm tra sau.
 Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn thuế: Dự  thảo Thông báo hồ 

sơ  thuộc diện kiểm tra trước khi hoàn thuế  kèm theo hồ  sơ, trình thủ  trưởng  
CQT duyệt ký gửi NNT và chuyển đến bộ phận giải quyết hồ sơ kiểm tra trước,  
hoàn thuế sau.
 Thời gian thực hiện các công việc nêu trên chậm nhất không quá 02 ngày làm 
việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ do bộ phận tiếp nhận hồ sơ chuyển đến.
Bước 3: Giải quyết hồ sơ hoàn thuế.
 Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế  trước, kiểm tra sau : Bao gồm hai bước 

như sau:
 Phân tích hồ sơ hoàn thuế.
 Đề xuất hoàn thuế.

 Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau:

 Kiểm tra hồ sơ tại CQT.
 Kiểm tra hoàn thuế tại trụ sở NNT.
 Đề xuất hoàn thuế.

 Thẩm định hồ sơ hoàn thuế do Chi cục Thuế chuyển đến để trình lãnh đạo  
Cục Thuế quyết định:
Kiểm tra căn cứ pháp luật áp dụng để xác định đối tượng, điều kiện, số thuế 
được hoàn; Kiểm tra nội dung Tờ trình và các văn bản phát sinh trong quá trình giải 
quyết hồ sơ hoàn thuế  của Chi cục Thuế và hồ  sơ  hoàn thuế  của người nộp thuế 
để xác định số thuế đủ điều kiện hoàn, số thuế không được hoàn, số nợ tiền thuế,  
tiền phạt.
Dự  thảo lệnh hoàn trả  và thông báo về  việc hoàn thuế  đối với trường hợp 
không được hoàn thuế. Sau khi nhận được ý kiến thẩm định của bộ phận Pháp chế:  
Bộ phận thẩm định hồ sơ hoàn thuế tổng hợp ý kiến và thực hiện:


 Nếu kết quả  thẩm định nhất trí với nội dung dự  thảo: trình thủ  trưởng CQT 
duyệt, ký Lệnh hoàn trả.
 Nếu kết quả thẩm định không nhất trí với nội dung dự thảo: tổng hợp ý kiến và  
đề xuất hướng xử lý trình thủ trưởng CQT xem xét quyết định.
Bước 4: Thẩm định pháp chế.
Bộ phận Pháp chế thực hiện thẩm định về pháp chế đối với hồ sơ hoàn thuế 
theo nội dung thẩm định quy định tại Quy chế  thẩm định dự  thảo văn bản quy 
phạm pháp luật và văn bản hành chính tại cơ  quan thuế  các cấp của Tổng cục 
Thuế.
Bộ phận Pháp chế chuyển trả kết quả thẩm định kèm theo toàn bộ hồ sơ đến  
bộ phận đã đề nghị thẩm định.
Thời gian thẩm định hồ sơ chậm nhất không quá 02 (hai) ngày làm việc kể từ 
ngày nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định hoàn thuế.
Bước 5: Quyết định hoàn thuế. (tuân theo 3 bước quy định)

 Phê duyệt hoàn thuế.
 Lưu hành văn bản hoàn thuế.
 Lập chứng từ thu chi liên quan đến hoàn thuế.

IV. KHÁI NIỆM VỀ THẤT THU THUẾ GTGT.
4.1 Khái niệm về thất thu thuế.
Thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức 
có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay có những điều kiện cơ sở vật 
chất nhất định so với khả  năng của họ  cần phải động viên vào NSNN, song vì 
những lý do xuất phát từ phía nhà nước hay người nộp thuế mà những khoản tiền  
đó không được nộp vào NSNN.
Đây là một hiện tượng thực tế khách quan vốn có trong bất cứ  một hệ thống 
thuế nào, nó phản ánh hai mặt của một vấn đề đó là lợi ích của Nhà nước và lợi ích 
của người nộp thuế. Trên thực tế hai nhóm lợi ích này thường mâu thuẫn nhau bởi 
về phía Nhà nước thì luôn muốn tăng số thuế phải nộp của người nộp thuế, còn về 
phía người nộp thuế  thì luôn muốn giảm số  thuế  phải nộp. Vì vậy mà có thể  nói 


rằng ở đâu có thuế thì ở đó có thất thu. Thất thu thuế biểu hiện rất đa dạng và ngày 
càng phức tạp tùy vào điều kiện về  KT­ XH của mỗi quốc gia, xong có thể  khái  
quát hoá thành 2 dạng thất thu thuế  đó là: thất thu thuế  thực tế  và thất thu thuế 
tiềm năng.
 Thất thu thuế  thực tế  có nghĩa là nhiều khoản thu được quy định rõ ràng trong 
luật thuế  nhưng do nhiều nguyên nhân nên số  tiền thuế  không được tập trung 
vào NSNN.
 Thất thu thuế  tiềm năng có nghĩa là thực tế  có nhiều nguồn thu cần thiết phải  
động viên vào NSNN nhưng lại không thu được vì chưa có quy định của pháp 
luật.
Thực tế cho thấy dù chính sách thuế có hoàn thiện đến đâu thì vẫn luôn tồn tại tình  
trạng thất thu thuế, nó không chỉ  xảy ra  ở  Việt Nam mà còn  ở  hầu hết các nước 

trên Thế Giới, càng những nước phát triển thì hiện tượng này càng phổ biến và tinh 
vi hơn.
4.2 Nguyên nhân gây thất thu thuế.
4.2.1  Hạn chế từ chính sách thuế.
Chính sách và chế độ thuế vẫn còn nhiều chỗ còn chưa hợp lý như thuế suất, 
biểu thuế  cũng tương đối phức tạp và chi li chưa phù hợp với thực tiễn và chưa  
phù hợp với khả  năng đóng góp của các tầng lớp dân cư. Chính vì vậy mà chính  
sách thuế chưa thực sự đem lại sự công bằng giữa các ngành nghề mà trên thực tế 
các ngành nghề này chưa có cơ sở để phân biệt rõ ràng việc vận dụng thuế suất là  
đúng hay sai, điều này đã tạo khe hở  trong việc áp dụng thấp hơn mức thuế  suất  
quy định. Biểu thuế tuy nhiều mặt hàng nhưng đôi khi một số sản phẩm nhập về 
nhưng vẫn khó khăn trong việc áp dụng thuế suất trong khâu hải quan đơn cử như 
là máy xử lý làm sạch gà, trên thực tế thì loại máy này không có tên trong biểu thuế 
xuất nhập khẩu vì vậy tuỳ thuộc vào ý kiến chủ quan của từng cán bộ hải quan áp 
dụng mức thuế  suất là bao nhiêu, nếu áp dụng sai mức thuế  suất thì sẽ  gây thất  
thoát không nhỏ  cho NSNN. Khối lượng hàng xuất nhập khẩu thường lớn do vậy  


cần một sự  chặt chẽ trong quy trình quản lý thu thuế  tại Việt Nam để  giảm thất 
thu cho NSNN.
Hệ thống thuế nước ta hiện nay còn nhiều chế độ miễn giảm, ưu đãi đối với 
kinh tế quốc doanh và các công ty nước ngoài nên cũng phải gánh chịu những mục  
tiêu xã hội. Ai cũng muốn hưởng những quyền lợi về miễn giảm thuế nên tạo nên  
sự chênh lệch lớn giữa thuế suất quy định và thuế suất áp dụng thực tế cho các đơn 
vị sản xuất kinh doanh. Sự thiếu công bằng trong chính sách động viên về thuế  đã  
làm cho những đơn vị  không được miễn giảm sẽ  tìm cách làm giảm số  thuế  của 
mình phải nộp. Vì thế  nếu miễn giảm thuế  quá nhiều sẽ  dẫn đến tình trạng thất  
thu thuế ngày càng nhiều ở hai đối tượng được và không được miễn giảm thuế.
Luật thuế  sửa đổi bổ  sung thiếu tính kịp thời và hợp lý sẽ  không bao quát 
được hết nguồn thu từ đó dẫn đến bỏ sót những nguồn thu không nhỏ cho NSNN.

Các giải pháp về quản lý kinh tế xã hội chưa được cải cách đồng bộ, chưa tạo  
cơ  sở cho công tác quản lý thuế  và môi trường kiểm toán còn nhiều hạn chế. Các  
yếu tố trên tựu trung lại cũng làm NSNN mất đi một phần động viên lớn.
4.2.2  Nguyên nhân khách quan.
Do khách quan hay chủ  quan dẫn đến tình trạng cơ  quan và cán bộ  quản lý 
thiếu sót một số  lượng lớn hộ  đăng ký kinh doanh,  nguyên nhân là do không bao 
quát hết số cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra còn do các cơ sở này xin tạm nghỉ 
kinh doanh nhưng thực tế  vẫn tiến hành các hoạt động sản xuất. Một số  doanh  
nghiệp kê khai nộp thuế nhưng lại tính sai cơ sở tính thuế điển hình như tính sai về 
số  lượng, giá bán hàng hoá, áp dụng không đúng thuế  suất theo quy định đối với  
từng ngành nghề và các mặt hàng theo xu hướng áp dụng thuế  suất thấp làm thất  
thu thuế cho NSNN.
Bên cạnh đó, cán bộ thuế chưa quan tâm đúng mức tới công tác thanh tra, kiểm  
tra đôn đốc các cơ sở kinh doanh để họ nộp thuế  đầy đủ, kịp thời vào NSNN. Các  
doanh nghiệp thường qua mắt cơ quan thuế bằng cách khai thiếu hay giấu doanh  
thu, khai khống chi phí làm tăng chi phí đầu vào để  giảm số  thuế  phải nộp hay  
thậm chí không phải nộp thuế. 


Hiện nay cơ quan thuế vẫn thiếu những biện pháp kiểm tra, đối chiếu tờ khai  
của đối tượng nộp thuế  với tình hình kinh doanh thực tế  của doanh nghiệp, hơn  
nữa nếu có kiểm tra và phát hiện sai phạm thì cũng chỉ  là cảnh cáo chứ  chưa xử 
phạt triệt để. Việc chưa phối hợp chặt chẽ  giữa các cơ  quan như  UBND Quận, 
Công An quận, UBND Phường… cũng làm cho sự  quản lý thuế  của các doanh  
nghiệp bị rời rạc và lỏng lẻo hơn gây thất thu thuế cho NSNN. Thủ tục hành chính 
tuy có sự tinh giản hơn xong vẫn còn rườm rà, nhiều bước gây ra sự  khó khăn cho 
người nộp thuế. 
Công tác kiểm tra, thanh tra thuế tuy đạt được nhiều thành tựu tuy nhiên kết 
quả   ấy chưa phải là cao do tiến độ  thực thi các cuộc kiểm tra tương đối chậm, 
doanh nghiệp thì chậm trễ trong việc nộp phạt. Công tác kiểm tra tại bàn chưa thật  

kỹ  lưỡng vì có một số  doanh nghiệp có mức rủi ro ít không đáng kiểm tra thì lại  
tiến hành quyết định kiểm tra gây ra sự phiền hà cho doanh nghiệp. Trái lại nhiều 
doanh nghiệp vi phạm nhưng bằng nhiều thu đoạn tinh vi đã tránh được các cuộc 
kiểm tra của cơ quan thuế.
 Các hiện tượng khó tránh khỏi như thiên tai, lũ lụt, hạn hán, kinh tế kém phát 
triển, đời sống người dân gặp khó khăn gây giảm sút kết quả  sản xuất, mất mùa 
v.v… hay chính sách quy hoạch đô thị  cũng đều  ảnh hưởng xấu đến cơ  sở  tính 
thuế, đưa đến tình trạng thu thuế dây dưa và làm thất thu thuế.
4.2.3  Nguyên nhân chủ quan.
Trong lịch sử phát triển của xã hội nhà nước ra đời là tất yếu khách quan trong  
xã hội có giai cấp. Để có thể đảm bảo quyền lợi của giai cấp thống trị, nhà nước  
cần có nguồn  tài chính  để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình. Nguồn này được lấy 
bằng cách động viên một phần thu nhập của các tầng lớp trong xã hội. Với quyền  
lực của mình nhà nước đặt ra các loại thuế  buộc mọi cá nhân và tổ  chức trong xã 
hội phải tuân theo. Nhu cầu chi tiêu của nhà nước càng nhiều thì mức động viên  
của thuế càng cao. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các nhà kinh  
doanh là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm  
chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, mà thuế cũng là một khoản 


chi mà DN phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận mà họ  thu được. Vì  
lợi ích của mình nên các DN luôn tìm cách làm giảm số thuế đáng lẽ họ phải nộp. 
Như vậy trong thuế luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của  
người kinh doanh, vì lẽ đó tình trạng thất thu thuế là không thể tránh khỏi. 
4.3 Ảnh hưởng của việc thất thu thuế.
4.3.1

Về mặt xã hội.
Thất thu thuế gây ra tác động không nhỏ đối với đời sống KT­ XH của người 


dân, đặc biệt đối với việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Thất thu thuế có  
ảnh hưởng đến việc thực hiện công bằng xã hội do cá nhân cố tình trốn tránh nghĩa 
vụ  nộp thuế  nên trong một số  trường hợp việc phân phối lại thu nhập mà chính 
phủ dự định sẽ khó có thể thực hiện được. Bên cạnh đó, thất thu thuế còn tạo ra sự 
phân hoá giàu nghèo, bất đối xứng giữa các thành viên trong xã hội, những cá nhân  
làm ăn chân chính thì phải gánh chịu rủi ro trong kinh doanh, còn một số lớn khác thì 
lại trốn và tránh thuế. Từ đây nảy sinh các tệ nạn xã hội như quan liêu, bao cấp, cờ 
bạc và sự  tha hoá biến chất của một số  cán bộ  cơ  quan Nhà nước. Về  phía đối  
tượng nộp thuế  thì một số  bất chấp mọi hành vi, thủ  đoạn nhằm tạo lợi thế  cho  
riêng mình. Do đó thất thu thuế đã dẫn đến một hậu quả  là thiếu đi sự  công bằng 
trong xã hội.
4.3.2

 Về mặt kinh tế.
Thất thu thuế làm giảm trầm trọng nguồn thu của NSNN, ảnh hưởng tới công 

tác quản lý thu thuế, kế  hoạch thu và các chính sách phát triển định hướng trong 
tương lai sẽ khó thực hiện hơn tạo ra một cơ chế bất hợp lý ảnh hưởng đến môi  
trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế. Chính vì lý do  
này mà việc điều hành quản lý của nhà nước gặp phải nhiều khó khăn. Thất thu 
thuế  còn gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế vì qua đây cho thấy sự 
hoạt động kém hịêu quả của các cơ quan quản lý nhà nước.
4.3.3 Về mặt đạo đức. 


×