Tải bản đầy đủ (.docx) (52 trang)

Giải pháp mở rộng thị trƣờng nhập khẩu mặt hàng thiết bị ngoại vi của công ty TNHH công nghệ TMDV và tƣ vấn max

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (308.71 KB, 52 trang )

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Giải pháp mở rộng thị trường
nhập khẩu mặt hàng thiết bị ngoại vi của Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư
vấn Max”, ngoài quá trình lao động của bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình từ phía thầy cô giáo của Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Ban Giám
Hiệu Trường Đại học Thương Mại và Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn
Max.
Em xin gửi lời cảm ơn tới ThS. Nguyễn Thùy Dương Bộ môn Kinh tế quốc
tế - Đại học Thương mại, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ và định
hướng cho em, giúp em hoàn thành luận văn này.
Đồng thời, em muốn gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc và toàn thể nhân viên
Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max đã tạo điều kiện cho em trong
quá trình thực tập tại công ty, giúp em có cơ hội được tiếp xúc với những nghiệp vụ
thực tế và hỗ trợ em rất nhiều trong quá trình thực tập tại công ty.
Cuối cùng, em xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Thương mại và
các thầy cô Bộ môn….đã cho em cơ hội đi thực tập để tiếp xúc với công việc thực
tế, để vận dụng những kiến thức đã học trên ghế nhà trường, phục vụ công việc
trong tương lai.
Mặc dù đã cố gắng hết mình để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, nhưng do sự
hạn chế về thời gian, kinh nghiệm thực tế, kiến thức chuyên ngành và những hạn
chế về năng lực của bản thân nên bài luận văn vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét, đánh giá của Quý thầy, cô và các bạn để
em hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình.
Em trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Bắc

1

1



MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Tiêu chí chất lượng của một số loại thiết bị ngoại vi...............................22
Bảng 3.1. Cơ cấu lao động của công ty....................................................................30
Bảng 3.2. Tổng mức và cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của Công ty Công ty TNHH
Công nghệ TMDV và tư vấn Max...........................................................................31
Bảng 3.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Công ty TNHH Công nghệ
thương mại dịch vụ và tư vấn Max..........................................................................32
Bảng 3.4. Kim ngạch nhập khẩu theo mặt hàng giai đoạn 2015-2017.....................33
Bảng 3.5. Kim ngạch nhập khẩu của Công ty theo thị trường 2015-2017...............35
Bảng 3.6.Chỉ tiêu chất lượng một số loại thiết bị ngoại vi của công ty....................36
Bảng 3.7. Bảng giá trung bình một số thiết bị ngoại vi nhập khẩu của công ty.......38
Bảng 3.8.Thuế NK một số thiết bị ngoại vi từ Trung Quốc, Hàn Quốc,..................39
Nhật Bản.................................................................................................................. 39
Sơ đồ 3.1.Sơ đồ cơ cấu tổ chức...............................................................................29
Biểu đồ 3.1. Kim ngạch nhập khẩu theo mặt hàng giai đoạn 2015-2017.................34
Biểu đồ 3.2.Thị trường nhập khẩu của Công ty theo thị trường 2015-2017............35
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

9
10
11
12
2

Viết tắt
TNHH
TMDV

TC

USD
VND
NK
TBNV
BKHCN
CNTT
BGĐ

Tên đầy đủ
Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại dịch vụ
Cao đẳng
Trung cấp
Lao động
Đô la Mỹ
Việt Nam đồng
Nhập khẩu
Thiết bị ngoại vi

Bộ Khoa học và Công nghệ
Công nghệ thông tin
Ban giám đốc
2


13

XNK

Xuất nhập khẩu

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
STT
1
2
3
4
5
6

3

ASEAN
FTA
GATT/WTO
GDP
VAT
HS


3


CHƯƠNG I. TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong thập kỉ vừa qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nền
kinh tế thế giới nói chung và sự chuyển mình của nền kinh tế Việt Nam nói riêng
nhờ tiến trình mở cửa thị trường đã có phần nới lỏng, và quá trình tự do hóa thương
mại diễn ra như một xu thế tất yếu của thời đại mới. Trong đó, hoạt động thương
mại quốc tế đã chứng tỏ vai trò then chốt của mình trong nền kinh tế của mỗi quốc
gia, là bản lề để mỗi nước thâm nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
Xuất khẩu và nhập khẩu là hai hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế.
Nếu thương mại quốc tế là sự trao đổi mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ nhằm
mục tiêu lợi nhuận giữa các thương nhân có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác
nhau và nói rằng xuất khẩu là một hình thức tất yếu của các công ty kinh doanh
quốc tế khi xâm nhập thị trường quốc tế thì nhập khẩu cũng đóng vai trò không kém
phần quan trọng bởi vì xuất khẩu của nước này sẽ là nhập khẩu của nước kia và
ngược lại, nó là một mặt không thể tách rời của nghiệp vụ ngoại thương.
Để có thể kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu, doanh nghiệp phải nắm vững
các nghiệp vụ, thủ tục xuất nhập khẩu, am hiểu về thị trường trong và ngoài nước,
nắm bắt được xu thế kinh doanh và tiêu dùng toàn cầu, có năng lực điều hành và
quản lý hoạt động XNK một cách hiệu quả,… Hiện nay, nước ta vẫn là một quốc
gia nhập khẩu khá nhiều, đặc biệt là các thiết bị điện tử, các sản phẩm công nghệ
cao vì chưa đủ năng lực và các điều kiện cần thiết để sản xuất. Công ty TNHH
Công nghệ TMDV và tư vấn Max ra đời và ngày càng phát triển, từng bước khẳng
định vị trí của mình trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động dịch vụ công nghệ thông
tin và dịch vụ khác liên quan đến máy vi tính. Các sản phẩm của công ty được nhập
khẩu nhiều nhất từ thị trường Trung Quốc, đặc biệt là máy vi tính, thiết bị ngoại vi,
linh kiện điện tử, viễn thông,… tiêu biểu là các loại thiết bị ngoại vi mà khóa luận

sẽ đề cập tới.
Thực tế hiện nay, Trung Quốc là một trong những nhà cung ứng thiết bị ngoại vi
lớn nhất cho thị trường Việt Nam nói chung và Công ty TNHH Công nghệ TMDV
và tư vấn Max nói riêng. Tuy nhiên các sản phẩm nhập khẩu từ thị trường này đều
là những mặt hàng bình dân, giá thấp. Trong khi đó, nhu cầu của người tiêu dùng
Việt Nam ngày càng một nâng cao, họ đòi hỏi những sản phẩm chất lượng hơn, bền
4

4


hơn, và là những sản phẩm có thương hiệu,… Bên cạnh đó, tâm lý kỳ thị, tẩy chay
hàng Trung Quốc cũng ngày càng tăng do nhiều người cho rằng hàng Trung Quốc là
hàng rởm, kém chất lượng. Chính vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra cho Công ty TNHH
Công nghệ TMDV và tư vấn Max hiện nay là phải làm sao để lựa chọn được những
thị trường cung cấp tốt hơn, chất lượng hơn để đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng,
nắm bắt được nhiều cơ hội, hạn chế những rủi ro trong quá trình kinh doanh và
giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp Trung Quốc. Xuất phát từ thực tế đó, bằng
những kiến thức tích lũy ở trường, quá trình nghiên cứu và đặc biệt là sự hướng dẫn
của ThS. Nguyễn Thùy Dương, em quyết định chọn đề tài “Giải pháp mở rộng thị
trường nhập khẩu mặt hàng thiết bị ngoại vi của Công ty TNHH Công nghệ
TMDV và tư vấn Max” làm khóa luận tốt nghiệp và mong rằng nó có thể giúp ích
một phần nào đó cho công ty trong việc lựa chọn những thị trường cung cấp tiềm
năng trong tương lai.
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lựa chọn nhà cung ứng phù hợp là một trong những bước đầu mang tính then
chốt đảm bảo cho sự thành công và kinh doanh hiệu quả của doanh nghiệp. Chính vì
vậy, trong những năm gần đây cũng đã có những công trình nghiên cứu xoanh
quanh vấn đề này:
Giáo trình marketing quốc tế, PGS.TS. Vũ Trí Dũng (Đồng chủ biên), GS.TS.

Trần Minh Đạo, trình bày lý thuyết tổng quan về thị trường và mở rộng thị trường
trong thương mại quốc tế.
“Giải pháp mở rộng thị trường nhập khẩu của Công ty cổ phần TELEMATIC”
của tác giả Phạm Thị Tuyết, khóa luận 2014, phân tích thực trạng hoạt động mở
rộng thị trường nhập khẩu của công ty cổ phần TELEMATIC, từ đó đưa ra những
đánh giá và giải pháp nhằm mở rộng thị trường nhập khẩu của công ty.
“Phương hướng và giải pháp mở rộng thị trường nhập khẩu của Công ty cổ
phần điện tử và truyền hình cáp Việt Nam CEC”của tác giả Nguyễn Minh Tân, đánh
giá hiệu quả và đề xuất giải pháp mở rộng thị trường nhập khẩu của công ty.
“ Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị y tế từ thị trường
Trung Quốc của công ty cổ phần thiết bị y tế Đông Á”, của tác giả Võ Thị Ngọc
Huyền, khóa luận năm 2013, khoa Thương mại quốc tế, trường Đại học Thương
Mại đã phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị y tế từ thị

5

5


trường Trung Quốc cũng như đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh cho công ty cổ phần thiết bị y tế Đông Á.
“Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu mặt hàng thiết bị gia dụng của công
ty cổ phần XNK khoáng sản Minexport”, của tác giả Nguyễn Tiến Cường, khóa luận
năm 2013, khoa Thương mại quốc tế, trường Đại học Thương mại đã phân tích và
đánh giá hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thiết bị gia dụng.
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng mỗi công
trình lại có sự khác nhau về đặc điểm công ty, mặt hàng nhập khẩu, thị trường nhập
khẩu nên việc lựa chọn thị trường cũng như các tiêu chí lựa chọn thị trường cho
từng sản phẩm lại khác nhau. Chính vì vậy, em có thể khẳng định đề tài “Giải pháp
mở rộng thị trường nhập khẩu mặt hàng thiết bị ngoại vi của Công ty TNHH Công

nghệ TMDV và tư vấn Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max” là một đề
tài mới và chưa có ai nghiên cứu ở Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn
Max và Trường Đại học Thương mại.
Đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích hoạt động kinh doanh nhập khẩu và
các vấn đề xung quanh việc mở rộng thị trường nhập khẩu tại Công ty TNHH Công
nghệ TMDV và tư vấn Max.Đồng thời đưa ra một số đánh giá về những mặt đã đạt
được cũng như những hạn chế mà công ty đang gặp phải. Từ đó có những giải pháp
và đề xuất để công ty mở rộng thị trường nhập khẩu thiết bị ngoại vi một cách hiệu
quả hơn.
1.3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản
về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và mở rộng thị trường nhập khẩu. Phân tích
thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu và lựa chọn thị trường nhập khẩu của
Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max để thấy được những thành công
và hạn chế trong việc mở rộng thị trường nhập khẩu của công ty. Từ những vấn đề
lý luận và nghiên cứu thực trạng để đưa ra những giải pháp và một số đề xuất trong
quá trình nghiên cứu nhằm giúp công ty mở rộng thị trường nhập khẩu, nâng cao
hiệu quả kinh doanh.Các số liệu trong quá trình thực tập là cơ sở để nghiên cứu và
đưa ra giải pháp cho vấn đề này.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài cũng là cơ hội để em có thể đào sâu những
kiến thức đã học ở trường và vận dụng chúng vào thực tiễn.
1.4 Đối tượng nghiên cứu
6

6


Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động mở thị trường nhập khẩu
của Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max.

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về hoạt động kinh doanh nhập khẩu và mở rộng thị trường nhập khẩu. Trong đó tập
trung phân tích và nâng cao hiệu quả công tác lựa chọn thị trường nhập khẩu của
công ty.
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu về hoạt động mở rộng thị
trường nhập khẩu của Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max.
Mặt hàng nghiên cứu: Thiết bị ngoại vi của Công ty TNHH Công nghệ TMDV
và tư vấn Max.
Thời gian nghiên cứu: Khóa luận sử dụng các số liệu từ phòng Kinh doanh
xuất nhập khẩu của Công ty qua các năm từ 2015-2017
1.6 Phương pháp nghiên cứu
1.6.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc quan sát thực tế và qua sự giúp đỡ của anh,
chị Phòng Kinh doanh Xuất nhập khẩu của công ty, em đã thu thập được các dữ liệu
về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và hoạt động nhập khẩu
nói riêng
Thu thập dữ liệu thứ cấp cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, bao gồm:
Website: , thuvienphapluat.vn, Tổng cục Hải quan,…
Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max từ năm
2015-2017
Các văn bản, kế hoạch, mục tiêu phát triển và các quyết định của công ty.
Một số tài liệu về mở rộng thị trường nhập khẩu
1.6.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Đối với dữ liệu sơ cấp: Thu thập và chọn lọc những thông tin xác đáng, tránh
lan man, dài dòng, hoặc thiếu sót.
Đối với dữ liệu thứ cấp: Chọn lọc những thông tin cụ thể, mang tính cập nhật,
tổng hợp và đánh giá nhằm hỗ trợ quá trình nghiên cứu.
Các số liệu của Công ty: Sắp xếp, thống kê, biểu đồ, sơ đồ hóa dữ liệu thể hiện
sự tăng trường của công ty theo các năm, từ đó đưa ra hướng giải quyết vấn đề.

1.7 Kết cấu của khóa luận
Căn cứ vào nội dung đề tài và mục tiêu mà đề tài hướng đến, kết cấu khóa luận
được trình bày theo 4 chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Lý luận chung về nhập khẩu và mở rộng thị trường nhập khẩu
7

7


Chương 3. Thực trạng mở rộng thị trường nhập khẩu thiết bị ngoại vi của
Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max.
Chương 4.Định hướng phát triển và một số đề xuất nhằm mở rộng thị trường
nhập khẩu của Công ty TNHH Công nghệ TMDV và tư vấn Max.

8

8


CHƯƠNG 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU VÀ MỞ RỘNG
THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU
2.1 Lý luận về hoạt động nhập khẩu
2.1.1 Khái niệm hoạt động nhập khẩu
Theo luật Thương mại Việt Nam số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc
hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, “Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng
hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm
trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp
luật”
Wikipedia định nghĩa, "Nhập khẩu là bao gồm các giao dịch về hàng hoá và

dịch vụ qua đường biên giới quốc gia từ một nguồn bên ngoài.Hàng nhập khẩu của
nước tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ là hàng xuất khẩu của một nước gửi đi bán hàng
hóa, dịch vụ đó. Nhập khẩu và Xuất khẩu là những giao dịch tài chính của Thương
mại Quốc tế”
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình
trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền
tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các
quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.
Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế,
các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa
hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau.
2.1.2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế. Kinh doanh
nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi
nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp
ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực
hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu
quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Như vậy có thể khái quát vai trò của nhập khẩu sẽ bao gồm:
Thứ nhất, nhập khẩu đem lại nguồn hàng hóa bổ sung cho lượng hàng hóa thiếu
hụt trong nước, hoặc thay thế cho những mặt hàng mà quốc gia đó không thể sản
xuất hoặc sản xuất với chi phí cao hơn, không đảm bảo chất lượng, nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng nội địa một cách tốt nhất.
Thứ hai, nhập khẩu làm đa dạng, phong phú hàng hóa tiêu dùng trong nước về
chủng loại, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người dân.
9

9



Thứ ba, nhập khẩu có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc cung cấp các
nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng như góp phần định
hướng sản phẩm, định hướng thị trường.
Thứ tư, nhập khẩu sẽ giảm thiểu tình trạng độc quyền trong nền kinh tế, xóa bỏ
nền kinh tế tự cung tự cấp vì nhập khẩu là cầu nối cho sự hợp tác quốc tế, thúc đẩy
nền kinh tế, làm tiền đề phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia.
Thứ năm, nhập khẩu thúc đẩy sản xuất trong nước không ngừng vươn lên,
không ngừng tìm tòi nghiên cứu để sản xuất ra hàng hóa chất lượng hơn, nâng cao
khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập.
Thứ sáu, nhập khẩu tạo ra sự chuyển giao công nghệ, do đó tạo ra sự phát triển
vượt bậc của sản xuất xã hội, tiết kiệm chi phí và thời gian, tạo ra sự đồng đều về
trình độ phát triển trong xã hội.
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu đối với sự
phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và
mở rộng hợp tác quốc tế.
2.1.3 Các hình thức nhập khẩu
2.1.3.1 Nhập khẩu trực tiếp
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp còn gọi là hoạt động nhập khẩu tự doanh là việc
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá do doanh nghiệp mình sản xuất
hay thu gom được cho khách hàng nước ngoài và ngược lại. Để tiến tới ký kết hợp
đồng kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu
vật tư, thiết bị trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh
doanh nhập khẩu có hiệu quả, đàm phán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với
bên xuất khẩu, thực hiện theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế.
Hoạt động nhập khẩu được tiến hành một cách đơn giản. Bên nhập khẩu phải
nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng
hợp đồng, phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao
nhận,… cùng các chi phí có liên quan đến tiêu thụ hàng hóa, thuế nhập khẩu…
2.1.3.2 Nhập khẩu ủy thác.
Nhập khẩu ủy thác là hình thức nhập khẩu trong đó đơn vị tham gia nhập khẩu

đóng vai trò trung gian cho một đơn vị kinh doanh khác tiến hành đàm phán ký kết
hợp đồng bán hàng hoá với đối tác bên ngoài. Nhập khẩu uỷ thác hình thành giữa
một doanh nghiệp trong nước có nhu cầu tham gia nhập khẩu hàng hoá nhưng lại
không có chức năng tham gia vào hoạt động nhập khẩu trực tiếp và phải nhờ đến
một doanh nghiệp có chức năng nhập khẩu được doanh nghiệp có nhu cầu uỷ
10

10


quyền.Doanh nghiệp nhập khẩu trung gian này phải làm thủ tục và được hưởng hoa
hồng.
Như vậy, doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không phải bỏ
vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nhập,
giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch XNK không được tính vào doanh
thu. Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá, vật
tư với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác ở trong nước.
2.1.3.3 Nhập khẩu tái xuất
Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất, nhưng đều thống nhất một quan
điểm về tái xuất là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây được
nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Có nghĩa là tiến hành nhập khẩu
không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ ba nhằm thu lợi
nhuận. Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một
lượng ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn thu hút ba nước: nước
xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.
Đặc điểm của loại hình này:
+Doanh nghiệp tái xuất phải tính toán toàn bộ chi phí nhập hàng và xuất hàng
sao cho thu hút được lượng ngoại tệ lớn hơn chi phí ban đầu bỏ ra.
+Doanh nghiệp tái xuất phải tiến hành hai loại hợp đồng: Một hợp đồng nhập
khẩu và một hợp đồng xuất khẩu nhưng không phải nộp thuế XNK.

+Doanh nghiệp tái xuất được tính kim ngạch trên cả hàng tái xuất và hàng nhập,
doanh số tính trên giá trị hàng hoá tái xuất do đó vẫn chịu thuế.
+Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển
thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu theo hình thức chuyển khẩu, nhưng
tiền phải do người tái xuất trả cho người nhập khẩu và thu từ người nhập khẩu.
2.1.3.4 Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu.Phương tiện thanh
toán trong hoạt động này không dùng tiền mà chính là hàng hóa. Mục đích từ hàng
đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu vừa xuất khẩu được hàng
hóa ra thị trường nước ngoài. Người nhập khẩu đồng thời cũng là người xuất khẩu.
Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải có giá trị tương đương nhau, đảm bảo
điều kiện cân bằng về mặt giá cả, điều kiện giao hàng và tổng giá trị hàng hóa trao
đổi.
2.1.3.5 Một số loại hình nhập khẩu khác
11

11


- Nhập kinh doanh tiêu dùng (Hàng hóa làm thủ tục tại Chi cục hải quan cửa
khẩu).
- Nhập kinh doanh sản xuất (Hàng hóa làm thủ tục tại Chi cục Hải quan khác
Chi cục Hải quan cửa khẩu).
- Nhập khẩu hàng xuất khẩu bị trả lại.
2.2 Khái niệm thiết bị ngoại vi
Thiết bị ngoại vi là tên chung nói đến một số loại thiết bị điện tử bên ngoài
thùng máy được gắn kết với máy tính với tính năng nhập xuất (IO) hoặc mở rộng
khả năng lưu trữ (như một dạng bộ nhớ phụ).
Thiết bị ngoại vi của máy tính có thể là:

- Thiết bị cấu thành lên máy tính và không thể thiếu được ở một số loại máy
tính
- Thiết bị có mục đích mở rộng tính năng hoặc khả năng của máy tính
Một số loại thiết bị ngoại vi phổ biến:
- Màn hình máy tính: là thiết bị điện tử gắn liền với máy tính với mục đích
chính là hiển thị và giao tiếp giữa người sử dụng với máy tính
- Đĩa mềm: một dạng bộ nhớ của máy tính, là thiết bị có chức năng cốt lõi của
máy tính
- Ổ đĩa quang là một loại thiết bị dùng để đọc đĩa quang, nó sử dụng một loại
thiết bị phát ra một tia laser chiếu vào bề mặt đĩa quang và phản xạ lại trên đầu thu
và được giải mã thành tín hiệu
- Ổ đĩa cứng, hay còn gọi là ổ cứng (Tên tiếng Anh là Hard Disk Drive) là thiết
bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ vật liệu từ tính
- USB là thiết bị lưu trữ dữ liệu sử dụng bộ nhớ flash (một dạng IC nhớ hỗ trợ
cắm nóng, tháo lắp nhanh) tích hợp với giao tiếp USB (Universal Serial Bus)
- Thẻ ghi nhớ là một dạng bộ nhớ mở rộng của các thiết bị số cầm tay như
PocketPC, SmartPhone, Điện thoại di động, Thiết bị giải trí số di động, Máy ảnh số,
Máy quay số...)
- Webcam (Website camera) là loại thiết bị ghi hình kỹ thuật số được kết nối với
máy vi tính để truyền trực tiếp hình ảnh nó ghi được lên một website nào đó, hay
đến một máy tính khác nào đó thông qua mạng Internet
- Các loại thiết bị khác: Loa, tai nghe, bàn phím, chuột, micro,…
2.3 Lý luận về mở rộng thị trường nhập khẩu
2.3.1 Khái niệm cơ bản về mở rộng thị trường
a. Thị trường
Thị trường ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, nó là môi trường để tiến
hành các hoạt động giao dịch mang tính chất thương mại của mọi doanh nghiệp
công nghiệp. Trong một xã hội phát triển, thị trường không nhất thiết chỉ là địa điểm
12


12


cụ thể gặp gỡ trực tiếp giữa người mua và người bán mà doanh nghiệp và khách
hàng có thể chỉ giao dịch, thoả thuận với nhau thông qua các phương tiện thông tin
viễn thông hiện đại. Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, khái
niệm thị trường ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.
Trong kinh tế học và kinh doanh, thị trường là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán
hàng hóa của các chủ thể kinh tế.Thị trường có tính không gian, thời gian, có mặt cả
người mua và người bán cùng đối tượng được đem trao đổi. Đây là khái niệm sơ
khai nhất và đơn giản nhất về thị trường.
Philip Kotler quan niệm, “Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn
cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao
đổi để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó”
Theo từ điển kinh tế Việt Nam, “Thị trường là nơi lưu thông tiền tệ, là toàn bộ
các giao dịch mua bán hàng hóa”
Hiệp hội quản trị Hoa Kỳ định nghĩa, “Thị trường là tổng hợp các lực lượng và
các điều kiện trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển
hàng hóa dịch vụ từ người bán sang người mua”
Như vậy, thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu, trong đó những người mua
và người bán bình đẳng cùng cạnh tranh. Số lượng người mua và người bán nhiều
hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Việc xác định nên mua hay bán
bàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do quan hệ cung cầu quyết
định. Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp giữa hai khâu sản xuất
và tiêu dùng hàng hoá.
b. Phát triển, mở rộng thị trường
Phát triển, mở rộng thị trường là tổng hợp các cách thức của doanh nghiệp
nhằm đưa khối lượng sản phẩm kinh doanh đạt mức tối đa, mở rộng quy mô kinh
doanh, tăng thêm lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Mở rộng thị trường nhập khẩu là quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá và

lựa chọn nhà cung cấp dựa trên hệ thống các chỉ tiêu nhằm tìm ra những thị trường
nhập khẩu mới.
Trong thời đại cạnh tranh như hiện nay, phát triển, mở rộng thị trường nhập
khẩu vừa là mục tiêu, vừa là phương thức quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và
phát triển.Mở rộng thị trường nhập khẩu tạo ra những mối quan hệ mới, gia tăng số
lượng nhà cung cấp chất lượng, từ đó củng cố hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp khi
có nguồn hàng chất lượng cao, ổn định, giảm thiểu rủi ro vì không lệ thuộc vào chỉ
một nhà cung cấp.
2.3.2 Các phương thức mở rộng thị trường của doanh nghiệp
13

13


a. Phát triển sản phẩm
Mỗi doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh đều muốn đa dạng hóa chủng loại,
mẫu mã sản phẩm để đáp ứng nhu cầu muôn hình vạn trạng của thị trường, đặc biệt
là sản phẩm mới, chất lượng cao, tiện ích, và hiện đại.
Doanh nghiệp có tiến hành phát triển, mở rộng sản phẩm theo hai hướng. Một
là phát triển một sản phẩm hoàn toàn mới, chưa từng xuất hiện trên thị trường.
Những sản phẩm này có thể mới hoàn toàn theo công năng và giá trị sử dụng. Tất
nhiên điều này đòi hỏi phải có sự đầu tư và nghiên cứu kĩ càng mới có thể đưa sản
phẩm cuối cùng vào kênh phân phối của thị trường. Hai là cải tiến sản phẩm hiện
có, có thể về chất lượng, mẫu mã, bao bì, hình ảnh, thay đổi tính năng hoặc tạo
những tính năng mới cho sản phẩm, đổi mới và hoàn thiện dịch vụ khách hàng,
thanh toán, bảo hành, sửa chữa,… Đây là hướng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn
để tạo ra sự khác biệt so với các sản phẩm cạnh tranh trên thị trường.
b. Phát triển về khách hàng
Khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng và người tiêu thụ trung gian. Trong
đó, người tiêu dùng cuối cùng là người mua sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của bản

thân, người tiêu dùng trung gian là bất kỳ người mua nào giữa các nhà sản xuất và
người tiêu dùng cuối cùng, có thể là các nhà bán buôn, bán lẻ, mua đi bán lại nhằm
mục đích kiếm lời.
Theo đó, phát triển thị trường về khách hàng là gia tăng khách hàng của doanh
nghiệp về số lượng, chất lượng, địa lý, về không gian, thời gian và cả đối tượng
khách hàng.
c. Phát triển về phạm vi địa lý
Khi quyết định mở rộng thị trường, doanh nghiệp không chỉ phát triển sản phẩm
hoặc tập khách hàng hiện tại mà phát triển cả về không gian địa lý.Theo cách thức
này, doanh nghiệp sẽ phát triển thị trường về không gian, vùng lãnh thổ bằng những
phương thức khác nhau. Nghĩa là thị trường sẽ không chỉ tập trung ở một vùng địa
lý nhất định mà có sự bành trướng sang những thị trường khác dựa trên cơ sở
nghiên cứu, phân tích đánh giá sự tương thích giữa thị trường đó và doanh nghiệp.
2.3.3 Vai trò của việc mở rộng thị trường nhập khẩu
Trong mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter, bên cạnh đối thủ cạnh
tranh, khách hàng, sản phẩm thay thế, các doanh nghiệp nội bộ ngành, nhà cung cấp
cũng là một trong những nhân tố gây áp lực và ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Số lượng và quy mô của nhà cung cấp càng nhỏ thì khả năng gây
áp lực, quyền lực thương lượng, đàm phán của họ càng cao, thậm chí nhà cung cấp
14

14


có thể ảnh hưởng tới toàn bộ ngành nếu họ giữ vị trí độc quyền trong việc cung cấp
một sản phẩm nào đó.
Như vậy càng có thể thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động mở rộng thị trường
nhập khẩu đối với doanh nghiệp.Thứ nhất, mở rộng thị trường nhập khẩu gia tăng
khả năng thành công của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nguyên nhân là do nó mang lại nguồn hàng chất lượng, đảm bảo yếu tố đầu vào ổn

định, không làm gián đoạn quá trình kinh doanh. Hơn nữa, lựa chọn nhà cung cấp
tốt và xác định đúng nhà cung cấp là nền tảng để doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
người tiêu dùng, gia tăng sản phẩm bán ra, từ đó tăng doanh thu và lợi.
Thứ hai, mở rộng thị trường nhập khẩu hạn chế những rủi ro có thể gây ra cho
doanh nghiệp mà biểu hiện rõ nhất là số lượng nhà cung cấp càng nhiều thì áp lực
họ có thể gây ra càng giảm.Doanh nghiệp có thể có đa dạng sự lựa chọn và không lệ
thuộc vào một nhà cung cấp nhất định. Ngoài ta, mở rộng thị trường nhập khẩu
giảm thiểu rủi ro trong trường hợp số ít nhà cung cấp hiện tại của doanh nghiệp phá
sản, làm ăn thua lỗ, hoặc vì lý do nào đó đẩy giá bán lên cao, yêu cầu những điều
kiện ngặt nghèo,… Tuy nhiên, duy trì một số lượng lớn nhà cung cấp có thể đem lại
những hạn chế nhất định như không tập trung vào một nhà cung cấp nên không
được hưởng nhiều ưu đãi, tranh chấp giữa các nhà cung cấp, doanh nghiệp không có
khả năng duy trì tốt mối quan hệ với họ,… Chính vì vậy, khi tiến hành hoạt động
mở rộng thị trường, doanh nghiệp cần xem xét nhiều yếu tố khác nhau để xác định
đúng số lượng, quy mô nhà cung cấp sao cho phù hợp với điều kiện và khả năng
của doanh nghiệp.
Thứ ba, mở rộng thị trường nhập khẩu góp phần khai thác nội lực của doanh
nghiệp.Trong phạm vi kinh doanh của một doanh nghiệp, nội lực bao gồm các yếu
tố thuộc về quá trình sản xuất như đối tượng lao động, tư liệu lao động, sức lao
động; Các yếu tố thuộc về tổ chức quản lý xã hội, tổ chức quản lý kinh tế. Hoạt
động mở rộng thị trường nhập khẩu đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu,
phân tích, tìm tòi, nhìn nhận, đánh giá xác đáng các yếu tố để lựa chọn nhà cung cấp
phù hợp. Hoạt động này chỉ có thể được thực hiện bằng sự lao động của con người
– nhân tố nội lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Quá trình đó buộc họ phải
tiếp xúc nhiều hơn, nghiên cứu nhiều hơn, am hiểu sâu hơn về thị trường các nước.
Và hơn nữa, bất kỳ sự mở rộng nào cũngluôn yêu cầunhiều hơn trong hoạt động tổ
15

15



chức và quản lý. Mở rộng nhiều thị trường nhập khẩu đồng nghĩa với việc doanh
nghiệp có nhiều nhà cung cấp hơn, nhiều mối quan hệ mới được thiết lập, điều đó
đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao công tác quản lý và tổ chức nội bộ một cách
hiệu quả.
2.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc mở rộng thị trường nhập khẩu
2.3.4.1 Các yếu tố bên ngoài
a, Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của hoạt động mở rộng thị
trường nói chung và mở rộng thị trường nhập khẩu nói riêng. Môi trường kinh tế
bao gồm các yếu tố như GDP, lãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá
hối đoái, cán cân thương mại, mức độ thất nghiệp, tín dụng, giá cả, thu nhập bình
quân đầu người, đầu tư, tài chính,…
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị ngoại vi, bên cạnh chất lượng sản
phẩm, giá là yếu tố cần quan tâm nhất. Trên thị trường Việt Nam hiện nay, giá của
thiết bị ngoại viđều giữ ở mức trung bình thấp do phần lớn nguồn hàng được nhập
khẩu từ Trung Quốc. Do vậy, khi lựa chọn một thị trường mới, các doanh nghiệp sẽ
phải cân nhắc tới mức giá trong mối tương quan với chất lượng sản phẩm. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế, GDP/đầu người, thu nhập bình quân của người dân tác động tới
khả năng chi trả và nhu cầu đối với thiết bị ngoại vi. Thu nhập càng cao thì nhu cầu
sử dụng các sản phẩm cao cấp sẽ tăng lên, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo
sự tăng lên trong nhu cầu thiết bị điện tử để trang bị cho văn phòng, doanh nghiệp
hoặc tiêu dùng cá nhân.
b, Môi trườngchính trị - pháp luật
Môi trường chính trị, pháp luật được thể hiện thông qua hệ thống thống luật
pháp, cơ chế, chính sách của nhà cầm quyền.Trong hoạt động thương mại quốc tế,
nhân tố này cho phối tới toàn bộ kế hoạch và mục tiêu mở rộng thị trường của
doanh nghiệp. Đối với hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu thiết bị ngoại vi,
chính trị, pháp luật tác động tới sự thuận lợi khi tiến hành giao dịch giữa các bên,
như quy định của Chính phủ các nước về thủ tục xuất nhập khẩu thiết bị điện tử,

quy định về thuế suất,…
Thiết bị ngoại vi khi nhập khẩu, ngoài tuân thủ các quy định chung về nhập
khẩu hàng hóa, còn phải tuân thủ các quy định riêng cho nhóm mặt hảng này. Bao
gồm thủ tục kiểm tra chất lượng sản phẩm theo Thông tư 07/2017/TT-BKHCN của
Bộ KH&CN về việc kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm
16

16


quản lý của Bộ KH&CN. Theo đó, thiết bị ngoại vi, nằm trong mục thiết bị điện và
điện tử, sau 03 lần nhập khẩu liên tiếp trong 06 tháng, có kết quả đánh giá phù hợp
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia sẽ được cơ quan kiểm tra có văn bản xác nhận miễn
kiểm tra nhà nước về chất lượng trong thời hạn 01 năm.
Đối với quy định về thuế nhập khẩu thiết bị ngoại vi, linh kiện điện tử mức thuế
thông thường là 5%, VAT 10%. Nhưng khi Việt Nam ký kết các hiệp định thương
mại với các nước trong khu vực và tham gia các tổ chức thương mại khác, mức thuế
đều được giảm xuống 0% đối với các nước thuộc khối ASEAN.
Các loại thiết bị ngoại vi đã qua sử dụng đều thuộc diện cấm nhập khẩu theo
quy định của Nhà nước về hàng hóa cấm nhập khẩu.
c, Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông công cộng như đường xá, nhà ga,
bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc,… Các nước có hệ thống cơ sở hạ tầng phát
triển sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động XNK và ngược lại, ở những nước chưa phát
triển, cơ sở hạ tầng còn thấp kém sẽ gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động kinh doanh,
giao dịch thương mại quốc tế.
d, Các yếu tố khác
Hoạt động mở rộng thị trường nhập khẩu cũng có thể chịu ảnh hưởng bới các
yếu tố khác như văn hóa – xã hội, yếu tố môi trường tự nhiên mặc dù sự tác động
không quá lớn nhưng nếu nó ảnh hưởng tới nhà cung cấp thì cũng gián tiếp ảnh

hưởng tới doanh nghiệp.
2.3.4.2 Các yếu tố bên trong
a, Yếu tố con người
Con người là nguồn lực quan trọng của tổ chức, là yếu tố quyết định tới sự
thành bài của công ty. Một doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên có trình độ, năng lực,
tâm huyết thì doanh nghiệp đó dễ dàng đạt được mục tiêu hơn, các kế hoạch sẽ
được triển khai một cách hiệu quả hơn. Chính vì vậy mà bất kỳ một công ty nào
cũng luôn coi trọng tới hoạt động đào tạo, bổ trợ kiến thức, kĩ năng cho nhân viên
trong nội bộ, tích cực tìm kiếm nguồn lực triển vọng bên ngoài.
Nhân tố con người ảnh hưởng tới sự phát triển, mở rộng thị trường nhập khẩu
bởi đội ngũ nhân viên trong công ty, bằng sự hỗ trợ của các công cụ khác nhau, là
người trực tiếp tham gia vào hoạt động tìm kiếm thị trường, tiến hành phân tích,
đánh giá và lựa chọn thị trường nhập khẩu thiết bị ngoại vi. Chất lượng nhà cung
cấp phụ thuộc vào trình độ và năng lực đánh giá của nhân viên công ty.
b, Tiềm lực tài chính và trang thiết bị vật chất
17

17


Năng lực tài chính định hình sức mạnh tổng hợp của công ty thông qua việc sử
dụng vốn để nuôi sống doanh nghiệp.Các yếu tố về vốn có liên quan và ảnh hưởng
trực tiếp tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, bao gồm cả hoạt động
mở rộng thị trường.Mở rộng thị trường nhập khẩu sẽ cần tới sự hỗ trợ của nguồn tài
chính và các trang thiết bị phục vụ quá trình tìm kiếm, nghiên cứu thị trường như
máy tính, các phần mềm ứng dụng,…Nguồn tài chính đủ lớn cùng với năng lực
quản lý và sự phân bổ nguồn vốn hợp lý cho việc đầu tư thiết bị, cơ sở vật chất là cơ
sở để thực hiện tốt các nhiệm vụđó.
c, Năng lực tổ chức, quản lý
Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của khâu tổ chức, quản lý trong

doanh nghiệp, mà về mặt bản chất nó được thể hiện thông qua năng lực của nhân tố
con người – những cá nhân lãnh đạo trong công ty. Khi tiến hành mở rộng thị
trường nhập khẩu hay bất cứ một hoạt động nào khác trong phạm vi doanh nghiệp
cũng cần phải có kế hoạch cụ thể, rõ ràng dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo và giám sát từ
phía lãnh đạo. Tổ chức hợp lý, quản lý một cách khoa học sẽ góp phần giảm thiểu
chi phí không cần thiết và tránh được những rủi ro không đáng có, định hướng và
giám sát quá trình mở rộng thị trường nhập khẩu theo đúng mục tiêu và kế hoạch
của tổ chức.
2.4 Nội dung mở rộng thị trường nhập khẩu
2.4.1 Nghiên cứu thị trường
Thị trường là nơi các giao dịch kinh doanh diễn ra, là điểm gặp gỡ của cung và
cầu. Do đó, để hiểu rõ tính chất của thị trường, nhu cầu thị trường, các quy luật vận
động của thị trường nhằm mục đích thích ứng kịp thời và làm chủ nó, cần phải tiến
hành nghiên cứu thị trường.
Về cơ bản, nghiên cứu thị trường sẽ bao gồm các vấn đề sau:
Một lànhận biết nhu cầu thị trường.Các quan điểm marketing hiện đại đều cho
rằng, phải bán cái thị trường cần chứ không bán cái mình có. Như vậy bước đầu tiên
khi nghiên cứu thị trường đó là cần xác định đúng nhu cầu thiết bị ngoại vi của
người tiêu dùng, dựa trên các chỉ tiêu như chủng loại, giá cả, chất lượng, kích cỡ,
tính năng,…cũng như tập trung vào thị hiếu của khách hàng ở từng khu vực thị
trường cụ thể.
Việc nghiên cứu thị trường cũng đòi hỏi phải nắm rõ sản phẩm kinh doanh đang
nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ sống vì nó gắn liền với khả năng tiêu thụ của
sản phẩm trên thị trường. Thông thường, sản phẩm trong quá trình sản xuất gắn liền
18

18


với việc xuất khẩu, giới thiệu sản phẩm đó ra thị trường.Đó là giai đoạn thâm nhập,

việc phát triển sản phẩm sẽ mang lại nhiều lợi nhuận, đặc biệt khi sản phẩm bước
vào quá trình tăng trường. Tuy nhiên, trong giai đoạn bão hòa đến suy thoái, rất khó
để giữ vững doanh thu nếu công ty không có những biện pháp xúc tiến hiệu quả.
Hai lànghiên cứu dung lượng thị trường. Dung lượng thị trường là khối lượng
hàng hóa được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định trong một khoảng
thời gian nhất định, thường là 1 năm. Nghiên cứu dung lượng thị trường của thiết bị
ngoại vilà ước tính khối lượng nhu cầu của khách hàng đối với các loại thiết bị
ngoại vi, lượng dự trữ và xu hướng biến động của chúng trong từng thời kỳ. Đồng
thời, xác định khả năng cạnh tranh và khả năng cung ứng của đối thủ cạnh tranh,
các mặt hàng thay thế thiết bị ngoại vi trên thị trường,…
Dung lượng thị trường không cố định và thường xuyên thay đổi theo thời gian,
không gian dưới sự tác động của nhiều yếu tố. Dưới góc độ thời gian có thể chia các
nhân tố ảnh hưởng thành ba nhóm:
- Các nhân tố ảnh hưởng tới dung lượng thị trường có tính chất chu kỳ: Tăng
trưởng kinh tế, thời vụ,…
- Các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến động của thị trường: Chính sách
của Nhà nước, các phát minh, sang chế,…
- Các nhân tố ảnh hưởng tạm thời tới dung lượng thị trường như đình công, biểu
tình, hạn hán, thiên tai, đầu cơ tích trữ,…
Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố, phải đặt chúng trong từng thời
kỳ và hoàn cảnh cụ thể để xác định đúng dung lượng thị trường và có những biện
pháp thích ứng phù hợp.
Thứ ba nghiên cứu giá cả các loại hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng.Trong
thương mại giá cả hàng hoá bao gồm giá vốn của hàng hoá, bao bì, chi phí vận
chuyển, chi phí bảo hiểm và các chi phí khác tuỳ theo các bước thực hiện và theo sự
thoả thuận giữa các bên tham gia.
Để có thể dự đoán một cách tương đối chính xác về giá cả thiết bị ngoại vi trên
thị trường thế giới, trước hết phải đánh giá một cách chính xác các nhân tố ảnh
hưởng đến giá cả và xu hướng vận động của giá cả.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới giá cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế.

Người ta có thể phân loại các nhân tố ảnh hưởng tới giá cả theo nhiều phương diện
khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nhu cầu. Thông thường những nhà hoạt động
chiến lược thường phân chia thành nhóm các nhân tố sau:
19

19


+ Nhân tố chu kỳ: Là sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế, đặc biệt là
sự biến động thăng trầm của nền kinh tế các nước.
+ Nhân tố lũng đoạn của các công ty xuyên quốc gia (MNC). Đây là một trong
những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành của giá cả của các
loại hàng hoá trên thị trường quốc tế.Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá khác
nhau trên thị trường cho một loại hàng hoá. Lũng đoạn cạnh tranh: Cạnh tranh bao
gồm cạnh tranh giữa người bán với nhau, người mua với người mua. Trong thực tế
cạnh tranh làm cho giá rẻ đi và chất lượng nâng cao.
+ Nhân tố cung cầu: Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung
cấp hay lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường, do vậy có ảnh hưởng rất lớn
đến sự biến động của giá cả hàng hoá.
+ Nhân tố lạm phát: Giá cả hàng hoá không những phụ thuộc vào giá trị của nó
mà còn phụ thuộc vào giá trị của tiền tệ. Vậy cùng với các nhân tố khác sự xuất hiện
của lạm phát làm cho đồng tiềm mất giá do vậy ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá của
một quốc gia trong trao đổi thương mại quốc tế.
+ Nhân tố thời vụ: Là nhân tố tác động đến giá cả theo tính chất thời vụ của sản
xuất và lưu thông.
Ngoài ra các chính sách của Chính phủ, tình hình an ninh, chính trị của các
quốc gia… cũng tác động đến giá cả. Do vậy việc nghiên cứu và tính toán một cách
chính xác giá cả của hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là một công việc khó
khăn đòi hỏi phải được xem xét trên nhiều khía cạnh, nhưng đó lại là một nhân tố
quan trọng trong quyết định hiệu quả thực hiện các hoạt động kinh doanh thương

mại quốc tế.
2.4.2 Nghiên cứu thị trường cung ứng
Việc nghiên cứu về thị trường cung cấp hàng cho công ty để công ty lựa chọn
được nguồn hàng phù hợp có ý nghĩa rất lớn.Dựa trên cơ sở nắm chắc nhu cầu của
thị trường, các công ty tiến hành nghiên cứu và xác định được các nguồn hàng để
thoả mãn các nhu cầu đó. Đối với các công ty nhập khẩu thiết bị ngoại vi có thể kể
đến các nguồn hàng sau:
+ Nguồn hàng tồn kho đầu kỳ ở công ty. Xác định theo phương pháp ước tính.
+ Nguồn hàng thu gom không tập trung
+ Nguồn hàng thu gom tập trung.
Việc nghiên cứu về nguồn hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi về nguồn cung
cấp mà đòi hỏi phải xác định rõ về khả năng cung ứng của từng nguồn cụ thể như:
+ Khối lượng hàng hoá mà mỗi nguồn có thể cung cấp.
+ Quy cách, chủng loại hay chất lượng của hàng hoá.
20

20


+ Thời điểm hàng hoá có thểthu mua.
+ Đơn giá ứng với từng loại hàng hoá và phương thức mua.
+ Đặc điểm kinh doanh của từng chân hàng.
Khả năng cung cấp hàng được xác định bởi nguồn hàng thực tế và nguồn hàng
tiềm năng. Nguồn hàng thực tế là nguồn hàng đã có và đang sẵn sàng đưa vào lưu
thông. Với nguồn hàng này doanh nghiệp chủ cần đóng gói là có thể xuất khẩu
được.
Nguồn hàng tiềm năng là nguồn hàng chưa xuất hiện, nó có thể có hoặc không
xuất hiện trên thị trường.Đối với các nguồn này đòi hỏi doanh nghiệp XNK phải có
đầu tư, có đặt hàng hợp đồng kinh tế … thì người sản xuất mới tiến hành sản xuất.
Việc nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn có mục đích xác định mặt hàng dự định

kinh doanh xuất khẩu có phù hợp và đáp ứng những nhu cầu của thị trường nước
ngoài về những chỉ tiêu như vệ sinh thực phẩm hay không dựa trên cơ sở đó người
XNK có những hướng dẫn cho người cung cấp điều chỉnh phù hợp với yêu cầu của
thị trường nước ngoài.
Mặt khác nghiên cứu nguồn hàng nhập khẩu phải xác định được giá cả của hàng
hoá trong nước so với giá cả quốc tế như thế nào. Để từ đây có thể tính được doanh
nghiệp sẽ thu được lợi nhuận là bao nhiêu từ đó đưa quyết định chiến lược kinh
doanh của từng công ty.
Sau khi đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường, công ty tiến hành đánh
giá, xác định các tiêu chí phù hợp với nguồn lực và các điều kiện hiện có của công
ty để tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả nhất.
2.4.3 Xây dựng các tiêu chí lựa chọn thị trường nhập khẩu
2.4.3.1 Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm luôn là tiêu chí hàng đầu để lựa chọn thị trường cho hàng
hóa, của doanh nghiệp. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm như các tiêu
chuẩn chất lượng mà nhà cung ứng phải tuân thủ, chế độ - chính sách bảo hành
cũng như cam kết chất lượng…
Việc xem xét chất lượng sản phẩm không những ảnh hưởng tiêu cực tới chất
lượng sản phẩm cũng như uy tín của công ty bạn. Tuy nhiên, không phải lúc nào
cũng cần chọn những nhà cung ứng có chất lượng tốt nhất, cao nhất mà nó còn phải
phù hợp với chiến lược kinh doanh, phân khúc thị trường, sản phẩm của công ty bạn
nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

21

21


Điều đó cũng có nghĩa, không phải cứ sản phẩm chất lượng cao là doanh nghiệp
sẽ có khách hàng.Mức chất lượng của sản phẩm phải phù hợp với nhu cầu của

khách hàng mục tiêu mà doanh nghiệp hướng tới.
Chất lượng của mốt số loại thiết bị ngoại vi:

Bảng 2.1. Tiêu chí chất lượng của một số loại thiết bị ngoại vi
Loại
TBNV
Màn
hình

Chỉ tiêu
Loại màn
hình
Độ phân
giải
Kích thước

Màu sắc
hiển thị
Độ tương
phản
(Contrast)


cứng

Độ sáng
(Brightnes)
Loại ổ cứng

Dung lượng

lưu trữ
Tốc độ
truyền

Dung lượng
bộ nhớ
cache
Tỷ lệ hư
22

CRT, LCD (sử dụng công nghệ đèn LED hiện đại/không sử dụng
đền LED)
Độ phân giải cho biết số điểm ảnh hiển thị trên màn hình, được tính
bằng pixel. Độ phân giải càng cao thì hình ảnh càng được trình
chiếu mịn màng và sắc nét hơn.
Kích thước màn hình càng lớn thì giá thành càng cao và được tính
theo chiều dài đường chéo, mức được ưa chuộng trên thị trường
nằm trong khoảng 22 – 24 inch.
Thể hiện thông qua hình ảnh được hiển thị tự nhiên, rõ nét và sống
động.
Là sự khác biệt giữa màu sáng trắng mạnh nhất và màu tối nhất trên
màn hình máy tính. Độ tương phản càng cao thì khả năng hiển thị
các chi tiết trong vùng tối và sáng sẽ sẽ tốt hơn. Độ tương phản
1.000:1 hay 3.000:1 được hiểu như giá trị điểm ảnh sáng gấp 1.000
lần hay 3.000 lần chính bản thân nó tại độ sáng tối thiểu
Chỉ số độ sáng thường được tính bằng đơn vị cd/m2 hoặc nits. Độ
sáng tốt nhất sẽ vào khoảng 300 đến 350cd/m2.
SSD (Solid – state drive): Tốc độ đọc ghi dữ liệu nhanh, tiết kiệm
điện, không gây ồn, độ bền cao
HDD (Hard drive disk): Dung lượng lớn, giá thành rẻ

SSD: Tối đa 2TB
HDD: Tối đa 4TB
Thể hiện qua thông số vòng quay mối phút (RPM-round per
minute). RPM càng cao có nghĩa là tốc độ truyền dữ liệu nhanh hơn.
Ổ HDD loại 3,5 inch trên thị trường hiện nay thường là 7.200RPM
trong khi loại ổ HDD 2,5 inch thường là 5.400RPM.
Bộ nhớ cache càng lớn sẽ cho phép dữ liệu được chuyển càng nhanh
hơn. Ổ cứng HDD hiện nay có thể có kích thước bộ nhớ cache từ
8MB đến 128MB
Ổ SSD thường có tuổi thọ cao hơn vì không có các thành phần cơ
22


hỏng
Loa vi
tính

Tai
nghe

Chuột
máy
tính

học, trung bình lên đến 2 triệu giờ sử dụng so với 1,5 triệu giờ của ổ
HDD
Loại loa
Phân loại loa vi tính dựa vào số lượng loa thùng siêu trầm và loa vệ
tinh (Loa vi tính 2.1 là loại loa có 2 loa vệ tinh và 1 loa trầm). Loa
càng chất lượng nếu số loa vệ tinh càng nhiều. Một số loại loa

khác:2.0, 4.1, 5.1, 7.1, 9.1
Công suất
Thể hiện mức to/nhỏ của lo
Trở kháng
Ký hiệu: Z, đơn vị: Ω (Ohms)
Trở kháng có hưởng trực tiếp hay tỷ lệ nghịch với bộ khuếch đại.
giá trị trở kháng hợp lý nhất khoảng 80 Ohms.
Chất liệu
Thùng loa có thể được làm từ gỗ hoặc nhựa. Thông thường, thùng
thùng
gỗ sẽ đem lại chất lượng âm thanh nghe êm tai và ấm hơn hẳn so
với khi sử dụng thùng nhựa.
Tần số
Là dải tần số âm thanh tối đa được tái tạo bởi tai nghe, từ nốt trầm
(Dải tần đáp thấp nhất cho đến nốt cao cao nhất, biễu diến bởi các giá trị số. Dải
ứng)
tần tai người nghe được thông thường là trong khoảng 20 – 20,000
Hz, tuy nhiên nhiều tai nghe có thể đến tận 28,000 Hz
Đường kính Tỉ lệ thuận với chất lượng âm thanh. Hầu hết loa của tai nghe in-ear
loa phát
có đường kính 13.5 – 15.4mm. Các loại over-ear và on-ear thì có thể
nằm trong khoảng 30 – 53mm.
Trở kháng
Tỉ lệ nghịch với chất lượng âm thanh
Dây nối
Dây cáp thông thường có lõi là 99,5% đồng nguyên chất, nhưng để
truyền tín hiệu hiệu quả hơn, một số tai nghe sử dụng dây có lõi đến
99,996% đồng nguyên chất (các loại đồng không oxy hóa), hoặc các
nguyên liệu khác, thậm chí cả vàng. Ngoài ra, vỏ dây có thể được
bọc bằng vải hoặc vật liệu tổng hợp có tính đàn hồi cao.

Độ nhạy
Độ nhạy của chuột được tính bằng đơn vị dots per inch (DPI).
Thông thường những chuột tầm trung hay cao cấp có độ nhạy
khoảng 1200DPI hoặc cao hơn
Các nút
Hỗ trợ và tạo thuận tiện khi thao tác: Nút lăn chuột là nút hỗ trợ phỏ
chức năng
biến nhất hiện nay

(Nguồn: Thu thập của tác giả)
2.4.3.2 Giá cả, chi phí dịch vụ khác
Bên cạnh chỉ tiêu chất lượng sản phẩm thì giá cả là yếu tố thứ hai mà doanh
nghiệp cần quan tâm đến.Trong đó cần so sánh chi phí giá cả giữa các nhà cung cấp
sao cho phù hợp với ngân sách, tiết kiệm tối đa được chi phí từ đó tạo ra lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng cũng lả cản trở cho doanh
nghiệp khi lựa chọn thị trường.Một cách đơn giản, với cùng loại hàng hóa với chất

23

23


lượng như nhau, thị trường nào có thể cung cấp với chi phí mềm hơn thì đó sẽ là
một điểm cộng cho thị trường đó.
2.4.3.3 Giao hàng và khả năng sẵn sàng cung cấp
Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là thời gian giao hàng. Việc thống kê các dữ liệu
về thời gian giao hàng thực tế so với dự kiến cho nhà quản trị nắm chính xác năng
lực của từng nhà cung cấp cũng như mức độ tin cậy của họ đối với các đơn hàng

trong tương lai của mình. Nhà cung cấp cần có khả năng cung ứng sản phẩm đúng
thời gian, địa điểm, chất lượng cũng như số lượng hàng hóa, sản phẩm, phương tiện
vận chuyển,... Việc đảm bảo về mặt giao hàng giúp doanh nghiệp có thể tiến hành
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo đúng kế hoạch.
Trong thương mại quốc tế, khả năng giao hàng còn phụ thuộc vào hệ thống cơ
sở hạ tầng và giao thông nối liền giữa hai quốc gia.Sự thuận lợi của yếu tố này hỗ
trợ đắc lực cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường cung ứng một cách hiệu
quả.
2.4.3.4 Điều khoản thanh toán
Ngoài các chỉ tiêu trên, điều khoản thanh toán gián tiếp tác động tới các yếu tố
chi phí.Với điều khoản thanh toán một lần khi nhận hàng sẽ làm doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn hơn khi mua hàng và giải quyết công nợ và ngược lại, việc thanh
toán thành nhiều đợt sẽ giảm áp lực tài chính cho doanh nghiệp.Điều này càng có ý
nghĩa hơn nếu doanh nghiệp đang trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và nợ xấu.
2.4.3.5 Công nghệ và khả năng đổi mới
Công nghệ luônlả yếu tố doanh nghiệp cần chú trọng trong thời đại phát triển
như hiện nay.Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT,
yếu tố này càng thể hiện vai trò của nó trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Thiết bị ngoại vi bao gồm các sản phẩm công nghệ. Do đó chúng đòi
hỏi phải thường xuyên được đổi mới và nâng cấp, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường
và tương thích với những thiết bị công nghệ cao hiện nay. Chính vì thế, khi lựa chọn
thị trường nhập khẩu, cần đặt ra những vấn đề liên quan tới công nghệ cũng như khả
năng đổi mới của thị trường đó.
2.4.3.6 Sự thuận lợi của hệ thống luật pháp, thủ tục hành chính
Luật pháp ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Chính vì vậy
mà sự thuận lợi của yếu tố này sẽ nằm trong các chỉ tiêu đánh giá nhằm lựa chọn thị
trường nhập khẩu. Khi nói tới pháp luật, doanh nghiệp cần quan tâm tới các quy
24

24



định, chính sách của Nhà nước về nhập khẩu hàng hóa, cụ thể là thiết bị ngoại vi.
Đồng thời xem xét tới cả hệ thống pháp luật của thị trường sẽ nhập khẩu. Trong đó
phải kể đến là các vấn đề về thuế quan, quy trình, thủ tục nhập khẩu thiết bị ngoại
vi.Thuế nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả hàng hóa. Nếu mặt hàng nhập
khẩu có mức thuế quá cao, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc có nên nhập khẩu tiếp tục
hay không; các thủ tục hành chính khi tiến hành hoạt động nhập khẩu có gây ra
những khó khăn hay rào cản nào không; và mức độ phức tạp của những vấn đề đó
có thể được đánh đổi bằng những thuận lợi khác hay không,…
2.4.4 Nghiên cứu các thị trường nhập khẩu tiềm năng
2.4.4.1 Thị trường Hàn Quốc
Hàn Quốc là một quốc gia thuộc khu vực Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán
đảo Triều Tiên, phía bắc giáp với Bắc Triều Tiên, phía đông giáp với biển Nhật Bản,
phía tây giáp biển, Thủ đô của Hàn Quốc là Seoul. Hàn Quốc có khí hậu ôn đới và
địa hình chủ yếu là đồi núi với diện tích khoảng 100,032 km vuông, dân số là 48
triệu người.
Kinh tế Hàn Quốc đã có sự phát triển mạnh mẽ, từ một trong những nước nghèo
nhất thế giới sau cuộc chiến tranh Triều Tiên trở thành một trong những nước giàu,
đứng thứ ba ở khu vực châu Á và đứng thứ 10 trên toàn thế giới.
Kể từ khi tập trung phát triển công nghiệp nặng những năm 70, Hàn Quốc là
một trong những quốc gia lấy công nghệ là một trong những ngành trụ cột của nền
kinh tế, thu nhập và tài sản của Hàn Quốc đang tăng một phần là do sự đầu tư và
xuất khẩu công nghệ cao sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam,
và Indonesia.
Tại Việt Nam những năm gần đây,tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa trong đó có thiết
bị điện tử từ Hàn Quốc rất cao chỉ sau thị trường Trung Quốc – công xưởng của thế
giới.Đặc biệt, Samsung đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế tại Việt
Nam. Hoạt động của Samsung còn ảnh hưởng lớn đến các chỉ số tăng trưởng nội
địa, xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam.

Những mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh từ Hàn Quốc chủ yếu là nhóm nguyên
liệu, linh kiện, phụ kiện, máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Điển
hình như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ,
phụ tùng; điện thoại các loại và linh kiện,…
Hơn nữa, các FTA về bản chất sẽ tạo cơ hội cho thị trường hai bên giao
thương.Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) được ký kết
25

25


×