Tải bản đầy đủ (.doc) (4 trang)

Một đổi mới trong năm học 09-10(hot)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (76.73 KB, 4 trang )

I- Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Dạy học bao gồm 1 quá trình có bắt đầu và kết thúc. Bắt đầu nh thế nào, vào bài mới
bng cách nào là hay và hiệu quả nhất? Chúng ta đi khi nghĩ rng chuyện mở đầu 1 tiết dạy
hay là cách vào bài thật đơn giản và lắm lúc khng cần thiết đặt nặng vấn đề này. Giống nh
cách chúng ta nói chuyện trớc đám đng, ngời nghe có hứng thú để nghe tiếp câu chuyện hay
khng tùy thuộc vào cách bắt đầu câu chuyện li cuốn nh thế nào. Mở đầu bài học cũng vậy,
HS có thể sẽ mang tâm lý chờ đợi một sự bất ngờ, li cuốn nhng nếu chúng ta mở đầu tiết học
với một thái độ hờ hững, một tinh thần mệt mỏi, một lý luận thiếu logic hay một cách đặt vấn
đề nhạt nhẽo sẽ làm cho tinh thần HS bị xẹp xuống nh là một trái bóng đang dần bơm căng
phồng lên. Mở bài nh thế nào để khng cầu kì, khng dài dòng mà lại hiệu quả, kích thích sự
tò mò cũng nh tạo sự hng phấn cho HS trong thời gian đầu của tiết học là điều khá quan
trọng. Dĩ nhiên trong suốt tiết học, phần nào cũng quan trọng cả nhng điều chúng ta muốn
nhấn mạnh đến ở đây là điểm khởi đầu. Cho nên việc lựa chọn đề tài này mang ý nghĩa hết
sức thiết thực và quan trọng nh bất cứ một phơng pháp giảng dạy nào khác.
2. Cơ sở lý luận:
Lâu nay, chúng ta vẫn thờng dùng một khái niệm để vào bài, đó là cụm từ giới thiệu
bài. Cụm từ này để cho biết một số đặc điểm để ngời ta nhận biết, trên cơ sở những nét chấm
phá rất chung này, chúng ta - trong quá trình giảng bài, sẽ xâu chuỗi lại những vấn đề, những
sự kiện lại để thành một bài học, sự kiện hoàn chỉnh.
Khái niệm đặt vấn đề chính là nêu ra một điều cần giải quuyết. Nh vậy đặt vấn đề chính
là cần phải giải quyết một vấn đề nào đó đợc đặt ra ngay từ đầu của tiết học. ở đây chúng ta
cần nhấn mạnh đến một điều, là làm thế nào để đa ra cách đặt vấn đề vừa hay vừa hiệu quả và
tạo đợc tác dụng tốt bớc đầu cho HS từ đó tạo đợc cho HS tâm lý ngạc nhiên, thú vị và có ý
thức hơn trong việc cùng nhau giải quyết vấn đề mà GV đã đặt ra.
3. Cơ sở thực tiễn:
Đặt vấn đề vào bài có rất nhiều cách khác nhau. Tùy theo đặc trng của từng bộ mn mà
mỗi GV áp dụng một cách cụ thể. Những bộ mn khoa học tự nhiên có thể có nhiều cách đặt
vấn đề vào bài phong phú, đa dạng. GV có thể dùng ngay hình ảnh trực quan để đặt vấn đề
vào bài một cách sinh động. Điều này sẽ tạo cho HS cảm nhận đầy đủ nhất ở các giác quan
nhìn, nghe, thấy, hoặc thậm chí là sờ Còn ở những bộ mn thuộc về KHXH mà nhất là lịch


sử thì cách đặt vấn đề vào bài ít phong phú và thờng dễ rơi vào tình trạng nhàm chán. Vì vậy,
trong bài viết này ti cố gắng đa ra những cách đặt vấn đề vào bài theo sự vận dụng của mình
trong những năm giảng dạy. Tất nhiên đây chỉ là những ý kiến mang tính chất cá nhân mà
thi. Trong thời gian tới hy vọng sẽ đợc học thêm nhiều cách đặt vấn đề hay hơn nữa để tiết
dạy ngày càng phong phú và li cuốn HS hơn.
II- NHữNG CáCH ĐặT VấN Đề VàO BàI:
1. Nêu khái quát toàn bộ những nội dung sẽ học trong tiết học đó. Với cách này, GV
tạo cho HS một khung sờn nhng cha gắn vào đó các chi tiết để hoàn thiện một vấn đề. Cách
này GV sẽ tạo cho HS tâm lý xâu chuỗi lại những sự kiện nhỏ để kết đính vào với những nội
dung lớn mà GV đã khái quát. Bớc đầu, HS trong quá trình tìm hiểu bài mới, HS sẽ dựa trên
bộ khung này để xâu chuỗi các chi tiết nhỏ lại với nhau để cuối cùng sẽ cho ra một sự kiện
hoàn chỉnh.
Ví dụ: Khi dạy bài bài 10 tiết 17 Trung Quốc cuối TK XIX - đầu TK XX (lịch sử 8). Để
đặt vấn đề vào bài bng cách này nh: Là một đất nớc rộng lớn, đng dân nhất thế giới nhng
cuối TK XIX, TQ cũng bị các nớc TB phơng Tây xâu xé, xâm lợc. Nhân dân TQ đã nổi dậy
đấu tranh với nhiều hình thức khác nhau. Đó là những nội dung chính mà chúng ta cùng tìm
hiểu trong tiết học hm nay.
Nh vậy HS sẽ biết đợc TQ cuối TK XIX cũng bị các nớc TB phơng Tây xâm lợc, xâu xé. Nh-
ng vì sao lại xâu xé? Và phong trào đấu tranh của nhân dân TQ sẽ đấu tranh bnh những hình
thức nào? Trên cơ sở đó, trong quá trình tìm hiểu bài mới HS sẽ gắn những chi tiết vào những
nội dung chính để từ đó hiểu đợc vấn đề cần tìm hiểu.
2. Đặt vấn đề vào bài bng cách đặt ra câu hỏi. Câu hỏi này GV để ngõ và lu ý với HS
cuối giờ sẽ cùng nhau để tìm ra câu trả lời. Ví dụ khi dạy bài 12 tiết 19 Nhật Bản giữa TK
XIX đầu TK XX (Lịch sử 8), GV có thế vận dụng cách này nh sau: Các em hãy theo dõi
bài học để cuối giờ giải đáp câu hỏi: Vì sao vào cuối TK XIX - đầu TK XX, trong khi hầu hết
các nớc châu á trở thành thuộc địa và phụ thuộc vào các nớc TB phơng Tây thì Nhật Bản vẫn
giữ đợc độc lập và còn phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, trở thành một Đế quốc hùng
mạnh?
Với cách đặt câu hỏi này. HS sẽ cố gắng để tìm ra câu trả lời trong suốt quá trình tìm hiểu bài
mới. Và chính GV cũng có thể áp dụng cách này để kiểm tra bài ngay tại lớp và lấy điểm cho

HS nào trả lời đợc câu hỏi đó ở cuối giờ học.
3. Đặt vấn đề vào bài bng cách nhắc lại kiến thức cũ của tiết học hm trớc để dẫn
dắt vào nội dung sẽ tìm hiểu trong tiết học hm nay.
Ví dụ nh khi dạy bài 18 tiết 20 Trng Vơng và cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc
Hán (Lịch sử 6) ta có thể vận dụng cách này nh sau: ở tiết 17, chúng ta đã tìm hiểu về
cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng đã lật đổ ách đ hộ của nhà Hán. Sau khi giành đợc thắng lợi,
Hai Bà Trng đã tiến hành những cng việc để xây dựng lại chính quyền. Và hm nay chúng ta
sẽ tìm hiểu những việc làm này sẽ có tầm quan trọng nh thế nào trong buổi đầu đấu tranh để
giành độc lập.
Học sinh sẽ nhớ ngay đến bài đã đợc học để tạo thành một sợi dây liên hệ với bài hm nay.
4. Đặt vấn đề vào bài bng cách nêu qui luật tất yếu đã đợc kiểm chứng qua lịch sử.
Ví dụ nh khi dạy bài 1 tiết 1 Những cuộc CM t sản đầu tiên (Lịch sử 8), GV có thể vận
dụng cách này nh sau: Lịch sử đã chứng minh, một chế độ xã hội hay một triều đại phong
kiến đều diễn ra theo qui luật có sự mở đầu, có cao trào và thoái trào. Sự thoái trào của hình
thức này sẽ bắt đầu cho một hình thức khác tiến bộ hơn. ở đây, chúng ta thấy trong lòng chế
độ phong kiến ở châu Aõu suy yếu đã nảy sinh một nền sản xuất mới. Chính những biến đổi
mới mẻ này vào cuối thời kì trung đại đã làm bùng nổ các cuộc CM t sản. CM t sản đã mở
đầu cho một hình thái kinh tế mới tiến bộ hơn chế độ phong kiến đó là chế độ TBCN. Vậy đó
chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển khng ngừng của lịch sử. Chúng ta cùng nhau tìm
hiểu quá trình này trong tiết học hm nay.
Nh vậy, học sinh sẽ biết đợc qui luật tất yếu của lịch sử phát triển từ thấp lên cao và lịch sử
thế giới đến thời kì cận đại với một hình thái kinh tế xã hội cao hơn chế độ phong kiến là chế
độ t bản chủ nghĩa.
5. Đặt vấn đề vào bài bng cách nêu lên nguyên nhân và từ nguyên nhân này tất yếu
sẽ dẫn đến hậu quả chắc chắn xảy ra.
Ví dụ nh khi dạy bài 21 tiết 32 Chiến tranh thế giới thứ hai (Lịch sử 8) gv có thể vận dụng
cách này nh sau: Chính từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm cho các n-
ớc TB phơng Tây chia rẽ thành hai khối đối địch nhau gay gắt, từ nguyên nhân này đã dẫn
đến hậu quả v cùng thảm khốc của nhân loại trong TK XX, đó là cả nhân loại phải hứng
chịu gánh nặng khủng khiếp từ cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Có thể nói chiến tranh thế

giới thứ hai xảy ra bắt nguồn từ chính sự tham vọng và ích kỉ của những nớc TB phơng Tây.
Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn nội dung này trong tiết học hm nay.
Trong quá trình học bài mới, HS sẽ nhận rõ về cuộc CTTG2 bắt nguồn từ đâu và từ nguyên
nhân đó đã dẫn đến hậu quả nh thế nào.
6. Đặt vấn đề vào bài bng cách đa ra câu nói của một nhân vật lịch sử.
Ví dụ khi dạy Bài 24 tiết 37 Phần II Cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1858 đến năm
1873 (Lịch sử 8) ta có thể vận dụng cách này nh sau: Nguyễn Trung Trực trớc khi bị giặc
Pháp hành hình, ng đã khảng khái nói Bao giờ ngời Tây nhổ hết cỏ nớc Nam thì mới hết
ngời Nam đánh Tây. Câu nói này là một minh chứng cho tinh thần kiên cờng bất khuất của
nhân dân ta khi chống ngoại xâm. Và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta
cũng vậy. Điều này thể hiện rất rõ qua câu nói trên của Nguyễn Trung Trực. Đó cũng chính là
tinh thần đấu tranh đến cùng của nhân dân ta chống Pháp và cũng là nội dung của tiết học
hm nay.
Nh vậy, khi vận dụng cách này, từ một câu nói HS sẽ cảm nhận đầy đủ tinh thần yêu nớc của
các thế hệ đi trớc và từ đó nâng cao lòng tự hào và tấm lòng biết ơn những vị anh hùng dân
tộc đã xả thân vì nghĩa lớn.
7. Cách đặt vấn đề vào bài bng cách làm bài tập để từ bài tập GV có thể liên hệ ngay
với bài sẽ học trong tiết đó.
Ví dụ nh trớc khi GV dạy bài 5 tiết 6 Các nớc Đng Nam á (Lịch sử 9), ta có thể cho HS
làm bài tập ở bài hm trớc đã học nh :
* Bài tập: Những nét nổi bật của châu á từ sau năm 1945? (Viết chữ Đ (Đúng) hoặc S
(Sai) vào các trống dới đây:
Cao trào giải phóng dân tộc bùng lên mạnh mẽ
Hầu hết các quốc gia đều đã giành đợc độc lập dân tộc.
Các nớc đế quốc tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lợc.
Diễn ra các cuộc xung đột, tranh chấp lãnh thổ, phong trào ly khai.
Nhiều nớc đã đạt đợc sự tăng trởng nhanh về kinh tế.
Đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ phân biệt chủng tộc.
Sau khi HS hoàn thành bài tập, GV nhận xét, sửa chữa và từ những nét nổi bật này của châu
á sau năm1945, GV sẽ rất dễ dàng để gợi mở vấn đề để vào bài Các nớc Đng Nam á (từ

sau năm 1945). Bởi vì trong tình hình chung này của châu á có khu vực Đng Nam á.
8. Đặt vấn đề vào bài bng cách liên hệ ngay với việc đất nớc kỉ niệm những ngày lễ
lớn của quốc gia hay trên thế giới, ví dụ nh ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngày
chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc hay ngày kỉ niệm
chiến thắng phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai
9. Giáo viên có thể đặt vấn đề vào bài bng cách đọc những câu ca dao, những câu
thơ có nội dung liên quan đến lịch sử.
Ví dụ nh khi dạy đến tiết 14 bài 12 Nớc Văn Lang (Lịch sử 6), ta có thể áp dụng cách này
nh sau: Dân tộc Việt Nam có một ngày giỗ chung để nhớ về nguồn gốc của mình đơcj thể
hiện qua hai câu ca dao sau: Dù ai đi ngợc về xui. Nhớ ngày giỗ tổ mùng Mời tháng Ba.
Thng qua tiết học hm nay các em sẽ biết đợc tổ tiên của chúng ta là ai và có cng gì đối với
sự ra đời của đất nớc Việt Nam.
Học sinh sau khi nghe xong, hiểu bài học hm đó có thể lu ý đến việc tìm đọc và hiểu lịch sử
qua ca dao, tục ngữ và thơ văn. Cũng trong bài học này, ta có thể vận dụng ngay câu nói của
Bác Hồ là Các vua Hùng đã có cng dựng nớc, Bác cháu ta hãy cùng nhau giữ lấy nớc để
vào bài.
III- Kết luận:
Nói chung tùy theo từng bộ mn mà chúng ta có thể có những cách khác nhau để mở
đầu một tiết học. Dù gì đi nữa việc dạy học có hiệu quả, đa số học sinh hiểu bài và yêu thích
bộ mn mình giảng dạy là có thể nói GV đó đã thành cng hơn một nửa rồi. Việc mở đầu một
tiết học làm sao khng bị nhàm chán đã khó và lun đổi mới để sinh động và hấp dẫn lại còn
khó hơn. Dạy lịch sử cũng gần giống với dạy Ngữ văn vậy, rất cần đến cảm xúc và sự hứng
khởi. Cảm hứng để GV giảng hấp dẫn, có hồn. Cảm hứng nui sống mạch nguồn diễn đạt để
tiết học lun đợc phối hợp một cách nhịp nhàng, khng có thời gian chết hoặc cuống cuồng
chạy với thời gian. Cho nên điểm khởi đầu rất quan trọng để GV khơi nguồn cảm hứng và
truyền nguồn cảm hứng đó cho HS. Nói gì thì nói, GV phải lun n luyện kiến thức, làm giàu
kiến thức trong mọi nguồn. Kiến thức vững vàng chắc chắn sẽ kích thích GV tìm tòi ra những
phơng cách hay và hiệu quả.
Qua bài viết này, ti chỉ đa ra những phác thảo mang tính chủ quan của cá nhân qua
những năm giảng dạy thực tế. Vậy nên những ý kiến này khng tránh khỏi thiếu sót. Ti chỉ

mong nhận đựoc nhiều hơn nữa những đóng góp quí giá từ những thầy c đi trớc để ti hoàn
thiện hơn trong những năm sau.
Nguyễn Huệ, tháng 09 năm 2009
Ngời viết


Hà Thúy Lan

×