Tải bản đầy đủ (.doc) (121 trang)

Xuất khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (546.4 KB, 121 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, sản xuất nông
nghiệp nước ta liên tiếp thu được những thành tựu to lớn. Thành tựu lớn nhất
là trong một thời gian không dài, từ một nền nông nghiệp tự cấp tự túc, lạc
hậu vươn lên trở thành một nền nông nghiệp hàng hóa, đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hóa ngày càng lớn, có vị thế đáng kể
trong khu vực và thế giới. Việt Nam trở thành một trong những nước xuất
khẩu các sản phẩm nông nghiệp lớn trên thế giới.
Trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hiện nay, gạo là một trong những mặt
hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam. Gạo trở thành một trong 5 mặt hàng
nông sản xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD. Đây là thành tựu đáng kể
của hoạt động sản xuất và kinh doanh gạo và lại càng đáng kể hơn khi cách
đây 20 năm nước ta vẫn còn phải nhập khẩu lương thực.
Tuy nhiên, sản xuất để đáp ứng “cái ăn” của hơn 80 triệu dân Việt
Nam, khác với sản xuất lúa hàng hóa tham gia thị trường thế giới với tư cách
là nước xuất khẩu. Nhiều vấn đề khúc mắc cần phải giải quyết đối với sản
xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay.
Theo số liệu mới công bố vào tháng 12/2008 của Bộ Thương Mại, mặc
dù số lượng gạo xuất khẩu của ta nhiều, đứng thứ hai trên thế giới về mặt khối
lượng nhưng lại chỉ xếp thứ tư thế giới xét về mặt giá trị xuất khẩu. Điều này
là do chất lượng gạo không đảm bảo, từ khâu chọn giống lúa, bảo quản, vận
chuyển và chế biến đều thiếu và yếu. Hơn nữa, cơ chế quản lý điều hành xuất
khẩu gạo không hợp lý cùng với công tác dự báo thị trường kém nên thường
để lỡ cơ hội xuất khẩu khi giá gạo lên cao và lại bán ra ồ ạt khi giá gạo xuống
thấp. Đối với các loại gạo đã có thương hiệu, có chỉ dẫn địa lý thì giá cả ổn
định, có thể định giá cao mà người tiêu dùng vẫn chấp nhận mua, trong khi đó
1
gạo xuất khẩu của Việt Nam mặc dù đã có mặt trên thị trường từ rất lâu xong
hoàn toàn chưa có thương hiệu nên giá gạo thường xuyên biến động, khó dự


đoán, khó có thể định một mức giá quá cao để bán. Vì thế giá gạo Việt Nam
thường thấp, chỉ gần bằng 85% giá gạo xuất khẩu thế giới, thấp nhất trong 4
cường quốc xuất khẩu gạo còn lại (Thái Lan, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pakistan). Hạn
chế về tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm nên Việt Nam cũng chưa thể thâm
nhập vào các thị trường tiêu thụ gạo cao cấp, đem lại giá trị xuất khẩu cao.
Với những lợi thế của mình Việt Nam hoàn toàn có thể cải thiện được chất
lượng gạo để bán với giá cao hơn.
Để có thể phát huy hết tiềm năng của một nền nông nghiệp lúa nước,
cần phải nhìn nhận lại thực trạng sản xuất lúa hàng hóa và việc xuất khẩu gạo
những năm vừa qua. Việc xem xét đánh giá đó được đặt trong bối cảnh chung
của thế giới nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150
của tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO), có nghiên cứu, xem xét và so sánh
với những quốc gia có đặc điểm tương đồng với Việt Nam, từ đó tìm đến
những giải pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo của Việt Nam
Đây cũng chính là mục đích nghiên cứu của em khi chọn đề tài “Xuất
khẩu gạo của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung :
Đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện thực trạng hoạt động xuất khẩu
gạo của nước ta trong giai đoạn gần 20 năm trở lại đây, từ đó đề ra những
định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu lúa
gạo của Việt Nam trong thập niên tới.
- Mục tiêu cụ thể :
• Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu nói
chung và xuất khẩu gạo nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
tế.
2
• Các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến sản xuất và xuất khẩu
gạo.

• Đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
khoảng thời gian từ 1989 đến 2008 trên các khía cạnh cơ chế điều hành
quản lý xuất khẩu gạo; khối lượng và kim ngạch xuất khẩu; giá gạo
xuất khẩu; chất lượng gạo xuất khẩu; cơ cấu thị trường xuất khẩu của
Việt Nam
• Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam
• Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam trong thời gian tới để phù hợp với những yêu cầu của hội nhập
kinh tế thế giới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian : xem xét hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thời gian: Từ năm 1989 đến 2008.
4. Kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài
liệu tham khảo, nội dung bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam và các vấn đề đặt ra
trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu gạo của Việt
Nam
5. Phương pháp nghiên cứu
3
- Ngoài phương pháp chung là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp
phân tích – tổng hợp, thống kê- so sánh.

- Sử dụng các nguồn số liệu thứ cấp ( các số liệu đã qua xử lý, được
thu thập từ trước và được ghi nhận ) của Tổng Cục Thống Kê, Bộ Thương
Mại, Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA), Tổ chức
Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO)
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình toàn cầu hóa
kinh tế
Ngày nay, toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là đặc trưng và
xu hướng phát triển phổ biến của nền kinh tế thế giới, bất luận đó là nền kinh
tế có quy mô và trình độ phát triển ra sao và thuộc chế độ chính trị - xã hội
thế nào.
1.1.1. Khái niệm toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế, xét về bản chất, là quá trình gia tăng mạnh mẽ của
những mối liên hệ, sự phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại của các quốc gia,
khu vực ở lĩnh vực kinh tế trên thế giới.
Đây là một quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và các
quan hệ kinh tế quốc tế vượt khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn
cầu, trong đó hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động... vận động thông
thoáng; mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia và khu vực được vận hành theo
"luật chơi" chung được xác lập qua hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên
trong cộng đồng quốc tế; sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng;
các nền kinh tế ngày càng có quan hệ mật thiết với nhau và tùy thuộc lẫn
nhau; tính xã hội hóa của sản xuất ngày càng tăng.
Như vậy, toàn cầu hóa là giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa
đời sống kinh tế. Nó đưa tới sự hình thành một thị trường thế giới thống nhất
và một hệ thống tín dụng toàn cầu, nơi mà sự phân công lao động quốc tế diễn
ra theo chiều sâu, sự mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học - công nghệ giữa

các quốc gia trên phạm vi thế giới, đồng thời giải quyết các vấn đề kinh tế -
5
xã hội có tính toàn cầu, như vấn đề dân số, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường sinh thái...
Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình khách quan phức tạp,
chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực.
Những khía cạnh tích cực là: Thúc đẩy rất nhanh, rất mạnh sự phát triển và
xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa tới sự tăng trưởng kinh tế nói chung ngày
càng cao; làm tăng thêm sự tùy thuộc, tác động và thúc đẩy lẫn nhau của các
nền kinh tế các nước; mỗi nước phải tự điều chỉnh chính sách và các phương
thức phát triển kinh tế, hình thành các mối quan tâm chung trong quan hệ
quốc tế; thúc đẩy quá trình cạnh tranh đối với mỗi nước và với từng doanh
nghiệp trên thương trường, đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao
động, tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh; mở ra những địa bàn và thị trường
mới, những đối tác mới cho tất cả các nước.
Những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế có thể nhìn nhận theo
những góc độ sau: Quá trình toàn cầu hóa kinh tế càng được tăng cường thì
chủ quyền quốc gia của mỗi nước càng bị hạn chế và thu hẹp một cách tương
đối; thúc đẩy các nguồn vốn đầu cơ tăng nhanh, hình thành các "bong bóng xà
phòng" - nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên phạm vi
rộng lớn; khoảng cách giàu nghèo trên thế giới và trong mỗi quốc gia ngày
càng mở rộng hơn; môi trường toàn cầu hóa là điều kiện thuận lợi cho các
nước phương Tây tiến hành chiến tranh kinh tế, chiến tranh tâm lý, "diễn biến
hòa bình" hòng buộc các nước đang và chậm phát triển theo sự áp đặt của họ;
môi trường sinh thái suy giảm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống
của nhân loại.
Mặc dù toàn cầu hóa kinh tế là con dao hai lưỡi, vừa có mặt tích cực vừa
có mặt tiêu cực, nhưng nếu các nước đang phát triển chủ động nắm bắt được
cơ hội, tận dụng những thành quả khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới,
6

biến đó thành sức mạnh của mình trong quá trình phát triển kinh tế thì thách
thức được vượt qua, tự nó sẽ trở thành thời cơ.
1.1.2. Hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình đi liền với toàn cầu hóa kinh tế
mà trọng tâm là mở cửa kinh tế, tham dự phân công, hợp tác quốc tế tạo điều
kiện kết hợp có hiệu quả nguồn lực trong nước với bên ngoài, mở rộng không
gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể được
trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Như vậy có thể thấy, bản chất của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là :
- Có sự thống nhất giữa yếu tố chủ quan là sự chủ động tham gia của các
chính phủ, các quốc gia và yếu tố khách quan là xu thế toàn cầu hóa kinh
tế.
- Sự chủ động điều chỉnh đường lối, chính sách kinh tế đối ngoại của các
chính phủ theo hướng mở cửa, thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại,
dịch vụ và đầu tư, thực hiện sự luân chuyển vốn, kỹ thuật, công nghệ, lao
động giữa các nền kinh tế nhằm nâng cao sức cạnh tranh, phát huy tối đa
lợi thế của từng nền kinh tế trong môi trường sản xuất kinh doanh bình
đẳng, thống nhất
- Sự hợp tác và cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế trên mọi lĩnh vực
dưới tác động của các quy luật xã hội và phản ánh lợi ích của các giai
cấp, dân tộc, đồng thời mang đậm những dấu ấn văn hóa - xã hội đa
dạng.
- Tính không đồng nhất, gián đoạn và diễn ra trong từng hoàn cảnh lịch
sử cụ thể.
Từ những lý luận trên đây, có thể thấy mặc dù quá trình toàn cầu hóa kinh tế
và hội nhập kinh tế quốc tế luôn song hành với nhau nhưng giữa chúng có sự
khác nhau, đó là:
7
Do sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, công nghệ thông tin
và vì lợi ích của chính mình mà các nước phát triển đã phát động toàn cầu hóa

kinh tế. Vì toàn cầu hóa là đòi hỏi khách quan như vậy, các nước đang phát
triển mặc dù gặp vô vàn khó khăn cũng buộc mình phải tham gia vào quá
trình toàn cầu hóa, nếu không sẽ bị loại ra khỏi cuộc chơi và bị phân biệt đối
xử. Như vậy toàn cầu hóa hoàn toàn là tất yếu khách quan. Trong khi đó,
nhận thức được bản chất của toàn cầu hoá, các quốc gia đã chủ động tham gia
vào quá trình này. Do vậy hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan trong
nhận thức và hành động của từng quốc gia.
Nếu toàn cầu hóa có mặt thuận và mặt nghịch thì hội nhập lại luôn mang
theo mình cơ hội và thách thức. Đây chính là điều mà bất cứ quốc gia nào
muốn hội nhập kinh tế quốc tế thành công cũng phải nhận thức và hành động
đúng đắn.
1.2. Khái quát về hoạt động xuất khẩu
1.2.1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho một
quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở
đây có thể dùng là ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia.
Thực tế cho thấy, đối với các quốc gia khác trên thế giới hoạt động xuất
nhập khẩu đóng vai trò không thể thiếu được do mục tiêu phát triển đất nước.
Nếu mỗi quốc gia chỉ đóng cửa phát triển, áp dụng phương thức tự cung tự
cấp thì không thể có cơ hội vươn lên củng cố thế lực của mình và nâng cao
đời sống nhân dân.
Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi
hàng hoá vượt ra ngoài biên giới một quốc gia. Khi việc trao đổi hàng hoá
8
giữa các quốc gia có lợi thì các quốc gia đều quan tâm đến việc mở rộng hoạt
động này.
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ
rất lâu và ngày càng phát triển. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực,
mọi điều kiện kinh tế từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến hành hoá tư
liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến công nghệ kĩ thuật cao. Tất cả các

hoạt động đó đều nhằm mục tiêu là đem lại ngoại tệ cho các quốc gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng cả về không gian và thời gian. Nó có
thể chỉ diễn ra trong một hai ngày hoặc kéo dài hàng năm, có thể tiến hành
trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.
1.2.2. Quan điểm về xuất khẩu trong các lý thuyết ngoại thương
Nền kinh tế mỗi nước đều có những nguồn lực nhất định ( đất đai, khoáng
sản, tiền vốn, kỹ thuật lao động…), tuy nhiên các nguồn lực này không phải là
bất tận thậm chí là khan hiếm. Để sản xuất ra mặt hàng nào đó với số lượng
bao nhiêu thì nền kinh tế phải có sự lựa chọn để phân bổ các nguồn lực đó
một cách hợp lý. Dưới góc độ hiệu quả kinh tế, các nước sẽ lựa chọn những
mặt hàng có lợi thế so sánh để thông qua trao đổi thương mại tận dụng và
phát huy các lợi thế so sánh sẵn có và tiết kiệm được nguồn lực, nâng cao
hiệu quả sản xuất.
Từ thế kỷ 18, các nhà kinh tế học người Anh là Adam Smith và David
Ricardo đã lần lượt đưa ra “Lý thuyết lợi thế tuyệt đối”, “Lý thuyết lợi thế so
sánh” cho đến này vẫn được coi là những lý thuyết nền tảng của thương mại
quốc tế. Cùng với đó lý thuyết về Lợi thế cạnh tranh được coi như vấn đề có
tính chiến lược và sách lược của từng quốc gia nhằm phát huy các yếu tố về
lợi thế tuyệt đối và so sánh trong quá trình sản xuất và trao đổi thương mại.
* Lý thuyết lợi thế tuyệt đối:
9
Thực chất của lợi thế tuyệt đối là việc so sánh chi phí sản xuất tuyệt đối của
cùng một loại sản phẩm ở các nước khác nhau. Nước có chi phí sản xuất cao
hơn sẽ nhập khẩu sản phẩm đó từ nước có chi phí sản xuất thấp hơn, mọi
nguồn lực sẽ được tập trung cho việc sản xuất sản phẩm mà nước đó có chi
phí sản xuất thấp hơn để xuất khẩu. Theo Adam Smith thì chi phí sản xuất
tuyệt đối thấp bắt nguồn từ việc quốc gia đó có lợi thế về nguồn lực sẵn có
như đất đai, khí hậu, lao động.
Ở các nước đang phát triển với nguồn tài nguyên dồi dào thì lý thuyết này
hoàn toàn có ý nghĩa, nhưng tại các nước phát triển khi mà nguồn tài nguyên

đã bị khai thác hoặc không có tài nguyên thì chỗ đứng trong phân công lao
động quốc tế ở đâu? thương mại quốc tế diễn ra thế nào ? Vì thế cần phải xem
xét lợi thế so sánh.
* Lý thuyết lợi thế so sánh (lợi thế tương đối):
Thương mại quốc tế đã ra đời từ rất lâu và đóng vai trò quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế. Mỗi quốc gia đều có nguồn lực và khả năng sản
xuất giới han, việc trao đổi buôn bán quốc tế sẽ cho phép mở rộng khả năng
tiêu dùng của một nước.
Lý thuyết lợi thế so sánh được hình thành dựa vào việc xem xét chi phí sản
xuất so sánh để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm ở các nước. Lợi thế so
sánh được thực hiện trên nguyên tắc chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm có chi
phí so sánh thấp hơn sau đó trao đổi lấy sản phẩm có chi phí so sánh cao hơn
nhằm thu lợi từ mức giá tương đối rẻ hơn so với sản xuất trong nước.
Chẳng hạn :
- Nhật: Nếu tập trung toàn bộ nguồn lực để sản xuất: tivi thì có thể sản xuất
được 180 triệu tivi; nếu tập trung toàn bộ nguồn lực sản xuất lúa thì được 120
tấn lúa.
10
- Việt Nam: Nếu tập trung toàn bộ nguồn lực để sản xuất: tivi thì có thể sản
xuất được 60 triệu tivi; nếu tấp trung toàn bộ nguồn lực sản xuất lúa thì được
120 tấn lúa ( Bảng 1.1.)
Bảng 1.1. Số liệu khả năng sản xuất ti vi và lúa ở Nhật Bản và Việt
Nam

Nhật Bản Việt Nam
Tivi (triệu) Lúa( triệu tấn) Ti vi (triệu) Lúa (triệu tấn)
180 0 60 0
150 20 50 20
120 40 40 40
90 60 30 60

60 80 20 80
30 100 10 100
0 120 0 120
* Khi không có thương mại :
Giả sử nước Nhật chọn sự kết hợp sản xuất và tiêu dùng tại điểm A (90 tivi và
60 lúa) trên đường giới hạn khả năng sản xuất của họ . Việt Nam chọn sự kết
hợp tại điểm E (40 tivi và 40 lúa).
11
Đồ thị 1.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia Nhật bản
và Việt Nam khi không có thương mại

Nhật Bản muốn sản xuất 1 tivi phải hi sinh 2/3 lúa và Việt Nam phải hi
sinh 1 lúa. Như vậy chi phí sản xuất tivi tương đối của Nhật là 2/3 và của Việt
Nam là 1. Như vậy chi phí sản xuất tivi tương đối của Nhật thấp hơn của Việt
Nam và ngược lại đối với việc sản xuất ra lúa. Vì thế Nhât sẽ có lợi thế so
sánh về sản xuất ti vi, Việt Nam có lợi thế so sánh về sản xuất gạo. Do vậy,
Nhật sẽ tập trung sản xuất ra tivi còn Việt Nam sẽ tập trung sản xuất lúa sau
đó hai nước sẽ tiến hành trao đổi với nhau.
* Khi có thương mại:
Nhật chuyên môn hóa vào sản xuất tivi (sản phẩm mà Nhật có lợi thế so
sánh ) và sản xuất tại điểm B(180 tivi và 0 lúa) trên đường giới hạn khả năng
sản xuất.
Tương tự vậy, Việt Nam sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa và sản xuất tại điểm
B’(0 tivi và 120 lúa). Giả sử căn cứ vào nhu cầu tiêu dùng trong nước, nước
Nhật sẽ trao đổi 70 tivi lấy 70 lúa với Việt Nam.
Tiêu dùng của Nhật sẽ chuyển tới điểm A’(110 tivi và 70 lúa), của Việt Nam
chuyển tới điểm E’(70 tivi và 50 lúa).
Lúa
Ti vi
Lúa

Ti vi0 18
12
0
6
12
60
Việt Nam
A
E
Nhật Bản
40
90
40
12
So sánh điểm A’ với điểm A và điểm E’với điểm E, ta thấy rõ ràng tiêu dùng
của 2 nước đã tăng lên, biểu hiện của lợi ích do thương mại mang lại. Nguyên
nhân sâu xa là mỗi nước đã chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm mà họ có lợi
thế so sánh và trao đổi với cá nước khác.
Đồ thị 1.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất của hai quốc gia Nhật
Bản và Việt Nam khi có thương mai
Như vậy, thương mại dựa trên cơ sở chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm
có lợi thế tương đối làm cho mọi nước đều có lợi khi tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế bất kể nước đó có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn các
nước khác, hoặc kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất
mọi sản phẩm vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt
hàng và kém lợi thế so sánh nhất định về các mặt hàng khác.
Lý thuyết đã được xây dựng trên một loạt các giả thiết được đơn giản hóa
như chỉ có hai quốc gia hai loại sản phẩm, thương mại tự do, không có chi phí
vận chuyển, chi phí sản xuất là cố định, lao động được di chuyển hoàn toàn
trong phạm vi một quốc gia nhưng không có khả năng di chuyển giữa các

quốc gia và dựa trên lý thuyết tính giá trị bằng lao động.Do vậy, mặc dù quy
luật của lợi thế so sánh là nguyên lý cơ bản quan trọng của kinh tế học nhưng
vẫn hạn chế vì nó chủ yếu dựa vào lý luận giá trị lao động, cho rằng lao động
Lúa
Ti vi
Lúa
Ti vi0 18
12
0
6
12
60
Việt Nam
A
E
Nhật Bản
40
90
40
A’
E’
B’
B
13
là yếu tố đầu vào duy nhất. Trong thực tế lao động không phải là đồng nhất,
những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau, hơn nữa đầu vào
của sản xuất còn bao gồm đất đai, vốn, khoa học công nghệ.
* Lợi thế cạnh tranh:
Ngày nay xu thế hội nhập và tự do hóa thương mại diễn ra mạnh mẽ, nó
tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế nhưng nó cũng đặt ra thách thức rất lớn về

sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế. Về nguyên lý, lợi thế tuyệt đối và lợi thế
so sánh được xét và đánh giá bởi các yếu tố tự nhiên, kinh tế và nó thuần túy
ở dạng tiềm năng. Các tiềm năng này sẽ không tạo thành sức mạnh đột phá
nếu không có một kế hoạch khai thác hiệu quả, điều này cũng giống như một
nước với tiềm năng tự nhiên rừng vàng biển bạc nhưng vẫn nghèo đói nếu
không có một giải pháp hữu hiệu để khai thác các tiềm năng đó. Muốn khai
thác các tiềm năng, chúng cần được đặt trong mối quan hệ với các vấn đề
chính trị và các chính sách kinh tế. Chỉ trên cơ sở khai thác hiệu quả các điều
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội gắn với cục diện chính trị và các định hướng
chiến lược mới tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sản xuất và xuất khẩu. Điều
này đặc biệt quan trọng trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công
nghệ, lợi thế so sánh không thể tồn tại cố định mà sẽ có sự chuyển hóa thay
đổi qua các giai đoạn. Do vậy việc xác định lợi thế cạnh tranh sẽ làm cho mỗi
quốc gia có thể chủ động khai thác lợi thế và tiềm lực của nền kinh tế trong
sản xuất và xuất khẩu.
Như vậy lợi thế cạnh tranh là sự biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về
chất lượng và cơ chế vận hành của nó trên thị trường tạo nên sức hấp dẫn cho
sản phẩm và thuận tiện cho khách hàng. Ngoài ra lợi thế cạnh tranh còn được
thể hiện trên các mặt: giá sản phẩm, khối lượng sản phẩm, thời gian giao
hàng, tính chất về sự khác biệt của sản phẩm hàng hóa. Lợi thế cạnh tranh còn
bao gồm chi phí cơ hội và năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt,
14
đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếu tiêu dùng trên các thị trường cụ thể, nguồn
cung cấp ổn định, môi trường thương mại thông thoáng, thuận lợi. Do vậy lợi
thế cạnh tranh của một đất nước là những nội dung mang tính giải pháp về
chiến lược và sách lược của một đất nước trong qua trình sản xuất trao đổi và
thương mại, nó giúp phát huy những lợi thế sẵn có của chính mình để tạo
thành ưu thế hàng hóa trong cạnh tranh nói chung và trong hoạt động ngoại
thương nói riêng.
1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo đối với nền kinh tế quốc dân

* Xuất khẩu gạo mang lại ngoại tệ cho quốc gia, có ngoại tệ để nhập khẩu
nhằm phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá đất nước.
Hiện nay gạo chiếm giá trị kim ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của đất nước. Trong khi đó cán cân thanh toán ngoại tệ của Việt Nam luôn bị
thâm hụt, do đó cần có một khoản ngoại tệ bổ sung sự thâm hụt đó.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta. Để công
nghiệp hoá đất nước trong thời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để
nhập khẩu máy móc thiết bị kĩ thuật công nghệ tiên tiến .
Nguồn vốn để nhập khẩu hình thành từ nhiều nguồn: đầu tư nước ngoài, đi
vay, viện trợ và xuất khẩu. Các nguồn đầu tư nước ngoài, đi vay, viện trợ tuy
quan trọng nhưng cũng phải trả dù cách nay hay cách khác. Nguồn quan trọng
nhất chỉ có thể trông chờ vào là xuất khẩu mà trong đó xuất khẩu gạo chiếm
vị trí quan trọng.
* Xuất khẩu gạo đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần
thúc đẩy sản xuất phát triển.
Quan điểm coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất
và xuất khẩu đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển:
15
- Xuất khẩu gạo sẽ tạo điều kiện cho các ngành khác cùng cơ hội phát triển.
- Xuất khẩu gạo tạo điều kiện, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm góp phần
ổn định sản xuất.
- Tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất gạo mở
rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia.
Thông qua xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ có điều kiện tham gia vào cuộc
cạnh tranh trên thị trường thế giới cả về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh
này có tác dụng ngược trở lại buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tổ chức,
xem xét lại khâu sản xuất, hình thành một cơ cấu sản xuất thích hợp, các
doanh nghiệp cũng cần phải nhìn lại chất lượng sản phẩm của mình để thích

nghi với những biến động của thị trường thế giới.
* Xuất khẩu gạo có tác dụng tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn
việc làm và cải thiện đời sống nhân dân
- Tác động của xuất khẩu gạo đến đời sống nông dân được thể hiện trên
nhiều phương diện. Một mặt sản xuất gạo là nơi thu hút nhiều lao động và
việc làm có thu nhập khá ổn định. Mặt khác xuất khẩu gạo tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu sản phẩm tiêu dùng đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú
của nhân dân.
- Giải pháp xuất khẩu là sự đòi hỏi nhất thiết của thực trạng kinh tế. Khi
thực hiện xuất khẩu một lượng mặt hàng gạo dư thừa trong thị trường nội địa
sẽ được giải quyết lập lại cung cầu ở giá cao hơn. Nông dân không những bán
được hàng mà còn được giá. Từ những điều này mang lại cho nông dân thu
nhập cao hơn và đây chính là động lực thúc đẩy sản xuất trong nước phát
triển.
- Ngoài ra thông qua xuất khẩu gạo chúng ta phần nào hiểu rõ hơn về yêu
cầu của thị trường đối với mặt hàng gạo. Mối quan hệ giữa thị trường nước
16
ngoài và sản xuất trong nước được thực hiện qua xuất khẩu là cách tốt nhất để
nâng cao trình độ và hiệu quả của nền công nghiệp.
1.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của sản phẩm trong
thương mại quốc tế.
Trong nghiên cứu về lý luận, các nhà kinh tế đã đưa ra chỉ tiêu Lợi thế so
sánh để đánh giá (đo lường) sức cạnh tranh của hàng hóa. Tập hợp những lợi
thế so sánh tạo nên sức cạnh tranh của một chủ thể gọi là Lợi thế cạnh tranh
của hàng hóa đó.
Về mặt định lượng, trong số các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của sản
phẩm trong thương mại quốc tế, có thể sử dụng 2 chỉ tiêu sau là Hệ số chi phí
tài nguyên nội địa (DRC) và Hệ số lợi thế so sánh hiển thị để lượng hóa sức
cạnh tranh của sản phẩm của quốc gia đó.
* Hệ số lợi thế so sánh hiển thị (RCA):

Phản ánh vị trí đạt được của một sản phẩm quốc gia trên thị trường thế
giới.. Xét trong tương quan so sánh lợi thế tương đối, RCA của 1 sản phẩm
nào đó ở nước nào lớn hơn, càng chứng tỏ vị trí đạt được của sản phẩm đó có
lợi thế so sánh cao hơn so với vị trí của sản phẩm cùng loại tại các quốc gia có
hệ số RCA nhỏ hơn. Vì RCA cho biết tương quan so sánh thị phần của một loại
hàng hóa nào đó (của một quốc gia) trong tổng thị phần bình quân loại hàng
hoá đó của thế giới. Có nhiều cách tính RCA.
- Cách thứ nhất: Hệ số lợi thế so sánh hiển thị được xác định bằng cách lấy
tỉ trọng một sản phẩm trong tổng xuất khẩu của một quốc gia chia cho tỉ trọng
sản phẩm đó trong tổng xuất khẩu của thế giới. Điều này được thể hiện bằng
công thức:
17
RCA
x
ij
/X
it

X
wj
/X
wt

= (1)
Trong đó:
x
ij
là xuất khẩu của quốc gia i về sản phẩm j
X
it

là tổng xuất khẩu của quốc gia i
X
wj
là tổng giá trị xuất khẩu của thế giới về sản phẩm j
X
wt
là tổng xuất khẩu của thế giới về hàng chế biến.
w chỉ thế giới
Ý nghĩa của công thức (1): nếu tỉ trọng xuất khẩu của nước i về mặt hàng j
lớn hơn tỉ trọng sản phẩm đó trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế
giới, tức là hệ số RCA ≥1, thì nước i được cho là có lợi thế so sánh về sản
phẩm j. Hệ số này càng cao thì chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao. Nếu RCA <
1 thì nước i được cho là không có lợi thế so sánh về sản phẩm j – bất lợi thế
so sánh trông thấy. Chỉ số này đã được áp dụng cho nhiều quốc gia trên thế
giới
- Cách thứ hai: Hệ số lợi thế so sánh hiển thị được xác định bằng tỷ số
giữa mức chênh lệch xuất và nhập khẩu của một mặt hàng nào đó với tổng
xuất và nhập khẩu của mặt hàng đó hay còn gọi là tỷ số thương mại ròng.
Điều này được thể hiện bằng công thức:
(2)
Trong đó:
X
i
: giá trị xuất khẩu của mặt hàng i
N
i
: giá trị nhập khẩu của mặt hàng i
Ý nghĩa của công thức (2): Đối với mặt hàng nào đó, nếu một nước chỉ có
nhập khẩu mà không có xuất khẩu thì RCA = -1, khi đó nước này bất lợi thế
so sánh hoàn toàn đối với mặt hàng được xem xét. Nếu một nước chỉ có xuất

18
RCA
=
X
i
N
i
X
i
-
+
N
i
khẩu mà không có nhập khẩu thì RCA = +1, khi đó nước này có lợi thế so
sánh hoàn toàn đối với mặt hàng được xem xét.
Hoàn toàn không có lợi thế so sánh (-1) < RCA < (1) Có lợi thế so sánh rõ
rệt
Hệ số lợi thế so sánh hiển thị có thể sử dụng để đánh giá sơ bộ khả năng
cạnh tranh của một ngành sản xuất của nền kinh tế này so với nền kinh tế
khác. Vì vậy, phương pháp này cho phép so sánh khả năng cạnh tranh ở phạm
vi quốc tế.
* Hệ số chi phí tài nguyên nội địa (DRC):
DRC là hệ số chi phí nguồn lực trong nước của một sản phẩm (hay ngành
sản phẩm), tính chi phí sản xuất theo giá trị của các đầu vào trung gian ở mức
giá thế giới và các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội. Ý nghĩa của hệ số
DRC là nó phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra
một hàng hóa nào đó. Như vậy, DRC cho biết hiệu quả sử dụng các nguồn lực
nội địa để tạo ra giá trị xuất khẩu ròng. Nói cách khác, DRC cho phép xác
định hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên nội địa để sản xuất hàng xuất khẩu.
- Thuế quan và các rào cản phi thuế quan làm tăng giá của các đầu vào

trung gian, làm cho chí phí sản xuất đối với từng nhà sản xuất riêng lẻ khác
với chi phí sản xuất chung mà xã hội phải gánh chịu. Do đó, việc loại bỏ các
ảnh hưởng của thuế quan và phi thuế quan là nhằm để ước lượng chi phí thật
sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra hàng hóa đó. Trong các nghiên
cứu ứng dụng, việc định lượng các ảnh hưởng của phi thuế quan thường rất
khó khăn, nên việc định lượng chỉ dừng lại với các ảnh hưởng thuế quan.
- Chi phí cơ hội của một nhân tố sản xuất được định nghĩa là thu nhập của
nhân tố đó khi tham gia vào một hoạt động sản xuất thay thế khác gần nhất.
Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) là tỉ lệ giữa chi phí các nhân tố
sản xuất theo chi phí cơ hội so với giá trị gia tăng theo giá quốc tế
19
Công thức tính DRC:
DRC
j
= (DC
j
)/IVA
j
(3)
Trong đó:
DCj : chi phí trong nước cho các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội để sản
xuất ra sản phẩm j
IVA
j
: giá trị gia tăng của sản phẩm j theo giá thế giới (là giá trị ròng thu được
qua xuất khẩu 1 đơn vị hàng hóa j).
Ý nghĩa công thức (3): DRC cho biết tiềm năng xuất khẩu của một lọai
hàng hóa nào đó hay lợi thế xuất khẩu của hàng hóa đó khi so sánh nó với 1.
Hệ số DRC càng cao có nghĩa là càng tốn nhiều các nhân tố sản xuất trong
nước để tạo ra 1 đồng trị giá gia tăng theo giá thế giới, nên không hiệu quả.

+ DRC > 1 chứng tỏ việc sản xuất hàng hóa để xuất khẩu là không có hiệu
quả, vì chi phí sản xuất trong nước lớn hơn giá xuất khẩu ra nước ngoài.
+ Ngược lại nếu DRC < 1: hàng hóa có tiềm năng xuất khẩu. Nếu DRC
càng nhỏ thì sản xuất trong nước để xuất khẩu hàng hóa đó càng có hiệu quả
1.5. Thị trường xuất khẩu gạo thế giới và kinh nghiệm xuất khẩu gạo của
một số nước
1.5.1. Thị trường xuất khẩu gạo thế giới
Trước đây, lúa gạo sản xuất ra thường được tiêu thụ tại chỗ thì từ nửa sau
thế kỷ XX trở đi, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật làm cho năng
suất lúa bình quân toàn cầu ngày càng tăng. Sự nỗ lực của các quốc gia khiến
diện tích đất trồng lúa ngày càng được mở rộng và đặc biệt các quốc gia đã
biết phát huy lợi thế so sánh của mình. Từ đó gạo bắt đầu trở thành mặt hàng
xuất khẩu chiến lược và là nguồn thu nhập chính của hàng triệu nông dân trên
toàn thế giới.
Biều đồ 1.1. Biến động xuất nhập khẩu gạo trên thế giới 1990-2008
20
0
5
10
15
20
25
30
35
1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008
xuất khẩu nhập khẩu
triệu tấn
Nguồn : USDA, Rice Yearbook 2008
Trong gần hai thập kỷ trở lại đây, lượng gạo xuất khẩu của thế giới luôn có
xu hướng tăng qua các năm (Hình 1.4). Giai đoạn từ 1990 -1999, lượng gạo

xuất khẩu luôn trên mức 10 triệu tấn. Trong đó, lượng gạo xuất khẩu đặc biệt
tăng vọt trong hai năm 1994 (đạt 21,010 triệu tấn, tăng 32,83% so với năm
1993), và năm 1998 ( đạt 27,648 triệu tấn, tăng 46,63% so với năm 1997).
Đợt tăng mạnh thứ nhất là vì trong năm 1992, sản lượng tiêu thụ của thế giới
tăng cao do sự bùng nổ dân số. Lượng cầu về gạo vượt quá cung dẫn đến dự
trữ gạo thế giới cũng giảm xuống mức 123,324 triệu tấn (giảm 2,8%). Trước
tình hình đó, các nước tăng cường nhập khẩu, làm cho nhu cầu nhập khẩu gạo
năm 1993 còn tăng mạnh hơn cả lượng xuất khẩu. Tuy nhiên chỉ đến năm
1994, sau khi lúa được mùa, sản lượng gạo tăng mạnh ở các nước xuất khẩu
gạo chủ chốt thì hoạt động xuất khẩu gạo mới thực sự sôi động trở lại, đạt
mức xuất khẩu cao nhất kể từ năm 1990.
Giai đoạn 1994-1998, nhập khẩu gạo có xu hướng giảm xuống. Điều này
là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á làm giảm khả
21
năng thanh toán cũng như thương mại giao dich gặp khó khăn, gạo cũng là
mặt hàng bị ảnh hưởng trực tiếp.Tuy nhiên đến cuối năm 1998, do hiện tượng
El Nino khắc nghiệt và kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu hoạch
lương thực tại nhiều nước ở Nam bán cầu dẫn đến nhập khẩu ồ ạt với khối
lượng lớn ở một số nước như: Indonesia, Banglades, Philipines, Nigeria. Nên
số lượng gạo buôn bán trên toàn cầu đạt mức cao. Đây chính là nguyên nhân
dẫn đến sự tăng vọt trong xuất khẩu gạo thế giới năm 1998.
Năm 2000, năm thế giới bắt đầu bước vào đợt sốt lạnh giá gạo lần thứ
nhất xuất khẩu gạo lại có một đợt sụt giảm lớn xuống mức 22,757 triệu tấn.
Kể từ đó trở đi thì tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới lại bắt đầu tăng liên
tục do dự trữ gạo trên thế giới giảm mạnh, cần một lượng gạo lớn để bổ sung.
Năm 2007, các nước xuất khẩu gạo chủ chốt nhìn chung đều phải đối mặt với
sự hạn hẹp về nguồn cung, giá gạo tăng cao. Tuy vậy, mậu dịch gạo thế giới
năm 2007 vẫn đạt mức cao kỷ lục, hơn 30 triệu tấn , tăng 3,4% so với năm
2006. Lượng gạo dự trữ giảm xuống mức thấp nhất trong gần 2 thập kỷ dẫn
đến nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh, được coi là động lực chính dẫn đến sự gia

tăng khối lượng mậu dịch gạo của thế giới trong năm này. Vì thế xuất khẩu
gạo đã đạt mốc kỷ lục mới 29,046 triệu tấn năm 2007.
Mặc dù đã có sự khôi phục về nguồn cung nhưng xuất khẩu gạo thế giới
năm 2008 giảm so với năm 2007. Hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng này,
thứ nhất là do một số nước có kế hoạch giảm xuất khẩu gạo, trong số 8 nước
xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới thì có tới 4 nước có kế hoạch cắt giảm lượng
gạo xuất khẩu trong năm 2008 là Trung Quốc, Việt Nam, Ai Cập, Ấn Độ, với
một loạt các chính sách hạn chế xuất khẩu gạo được áp dụng như áp dụng giá
xuất khẩu tối thiểu, thuế xuất khẩu gạo, hạn ngạch. Riêng đối với Myanmar,
do sức tàn phá của bão Nargis, từ một nước xuất khẩu gạo Myanmar trở thành
nước nhập khẩu gạo trong năm này. Nguyên nhân thứ hai là diễn biến giá gạo
thế giới tăng mạnh, giá gạo bình quân cả năm trên 700 USD/tấn được cho là
hiện tượng bất bình thường của năm 2008 và cũng là của nhiều thập kỷ qua,
22
một số nước nhập khẩu gạo lớn có xu hướng cắt giảm lượng gạo nhập khẩu,
trong đó cắt giảm mạnh nhất là Indonesia và Bangladesh. Cuối năm 2008, giá
gạo bắt đầu suy giảm nhưng vẫn ở mức cao 20%-30% so với năm trước.
Đến đầu năm 2009 giá gạo giảm, sản lượng lúa dự tính năm nay tăng tuy
nhiên xuất khẩu gạo sẽ có nhiều thay đổi, khó khăn hơn năm 2008 và "sẽ là
một năm cạnh tranh quyết liệt". Nguyên nhân là do kinh tế suy thoái từ khủng
hoảng tài chính toàn cầu và tín dụng sẽ bị thắt chặt, ảnh hưởng đến thương
mại, trong đó có mặt hàng gạo. Bên cạnh đó, lượng gạo tạm trữ, tồn kho khá
lớn cũng góp thêm gánh nặng cho việc tiêu thụ năm 2009.
1.5.2. Cơ cấu xuất khẩu gạo thế giới:
Những năm qua , các nước đang phát triển vẫn chiếm 80% tổng lượng xuất
khẩu gạo toàn thế giới.
Bảng 1.2. Các nước xuất khẩu chủ yếu trên thế giới
Đơn vị: triệu tấn
Nước
1992 1996 2004 2008

Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Sản
lượng
Tỷ
trọng
(%)
Thái Lan 5,311 46,2% 5,454 29% 10,13
7
37% 10,01
6
34%
Việt Nam 1,420 12,4% 3,003 16% 4,295 15% 4,649 16%
Hoa Kỳ 2,061 17,9% 2,640 14% 3,090 11% 3,500 11,7%
Ấn Độ 0,422 3,7% 2,512 13% 3,172 11% 3,300 11,1%
Pakistan 0,854 7,4% 1,601 8% 1,986 7% 3,000 10,1%
TrungQuốc 0,384 3,3% 0,357 1,9% 0,880 3% 0,945 3,2%

Uruguay 0,266 2,3% 0,603 3,2% 0,804 3% 0,775 2,6%
Campuchia 0 0% 0,005
6
0,3% 0,300 1% 0,500 1,6%
Ai Cập 0,33 0,3% 0,328 1,7% 0,826 3% 0,450 1,51%
Arghentina 0,097
2
0,8% 0,260 1,4% 0,249 1% 0,450 1,51%
Các nước
khác
0,636 5,5% 2,288 12% 2,710 10% 2,102 7%
Thế Giới 11,48 100% 19,10 100% 28,44 100% 29,68 100%
23
4 2 9 7
Nguồn : USDA, Rice Yearbook 2008

Trong phạm vi khu vực thì trung bình lượng gạo xuất khẩu của Châu Á
chiếm tỷ trọng 75%, tiếp đến Châu Mỹ chiếm 20%, Châu Phi, Châu Âu, Châu
Đại Dương cộng lại chiếm khoảng 5% tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới.
Đứng trên góc độ quốc gia thì Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Trung
Quốc, Ai Cập, Hoa Kỳ là 7 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Giữa
các nước này luôn diễn ra sự cạnh tranh hết sức gay gắt, Hoa kỳ và Thái Lan
cạnh tranh nhau trên thị trường gạo hạt dài chất lượng cao. Trên thị trường
gạo hạt dài chất lượng thấp và trung bình là sự chạy đua giữa Trung Quốc,
Thái Lan, Pakistan và Việt Nam.
1.5.3. Kinh nghiệm xuất khẩu gạo của một số nước trên thế giới trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc là 3 quốc gia có những điểm tương đồng
với Việt Nam. Trên con đường phát triển của mình, các nước này đã khắc
phục được những khó khăn tồn tại để vươn lên trở thành những nhà xuất khẩu

nông sản hàng đầu thế giới. Kinh nghiệm của các quốc gia này là chính những
bài học quý giá đối với Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế.
1.5.3.1. Kinh nghiệm xuất khẩu gạo của Thái Lan
Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Từ một nước nông
nghiệp lạc hậu đầu những năm 1970, đến nay hàng nông sản của Thái Lan đã
tạo được uy tín và được tiêu thụ trên 100 quốc gia trên khắp thế giới. Trong
đó, gạo là mặt hàng xuất khẩu chiến lược và tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn
nhất trong số 12 mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của quốc gia này. Những
năm gần đây, lượng gạo xuất khẩu trung bình của Thái Lan đạt từ 8,8 triệu
24
tấn/ năm, giá trị xuất khẩu gần 2 tỷ USD, lượng gạo và kim nghạch xuất khẩu
gạo của Thái gấp 2 lần so với nước đứng ở vị trí thứ hai là Việt Nam.
Để đạt được những thành tựu trên trước hết là nhờ vào chính sách đổi mới
của chính phủ Thái Lan đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành gạo
nói riêng, thực hiện chiến lược sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp
và xuất khẩu, hình thành những khu vực công nghiệp chế biến nông sản. Quá
trình phát triển sản xuất nông nghiệp sẽ tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy ngành công ngiệp chế biến nông sản tăng mạnh, nâng cao giá trị
hàng nông sản. Đối với mặt hàng lúa gạo, chính phủ Thái Lan đã dành sự
quan tâm hàng đầu tới việc hỗ trợ sản xuất và giữ giá lúa gạo sao cho có lợi
cho người sản xuất. Trong các chính sách nông nghiệp của chính phủ thì
chính sách phát triển nông nghiệp, bảo hộ và khuyến khích xuất khẩu mang
tính quyết định đến sự tăng trưởng của nông nghiệp Thái Lan, cụ thể các
chính sách sau đã được áp dụng:
* Chính sách khuyến khích xuất khẩu:
Chính phủ Thái Lan không cạnh tranh với các thương nhân xuất khẩu gạo
và các thương nhân này được tự do tham gia thị trường xuất khẩu gạo thế giới
thông qua các biện pháp khuyến khích như: không thu thuế xuất khẩu, bỏ chế
độ hạn nghạch, xuất khẩu chỉ phải nộp thuế lợi tức nếu có, khi cần thiết chính
phủ có thể tham gia định hướng thị trường chủ yếu, can thiệp để ký được

những hợp đồng lớn…
* Chính sách trợ cấp xuất khẩu:
Trong lịch trình đàm phán gia nhập WTO, Thái Lan không đưa ra vấn đề
trợ cấp xuất khẩu hàng nông sản, tuy nhiên với tư cách là một nước đang phát
triển, Thái Lan vẫn được phép tiến hành các hoạt động trợ cấp trong phạm vi
cho phép để giảm bớt các chi phí vận tải nội địa và quốc tế, các chi phí
25

×