Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HS KIỂM TRA THỰC HÀNH LUẬT SƯ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (101.37 KB, 18 trang )

Mẫu số 07
(Ban hành kèm Quyết định số 125/QĐ-BTV)

ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
CỦA HỒ SƠ VỤ VIỆC KIỂM TRA THỰC HÀNH

PHẦN 1: TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC
1. Căn cứ tiếp nhận vụ việc.
- Trần Kim Hương bị Viện kiểm sát nhân dân TP Cần Thơ truy tố tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản theo qui định tại điểm a khoản 4 điều 139 Bộ luật hình sự
- Trần Kim Hương đến ..................... nhờ tư vấn và bào chữa cho Hương tại
phiên tòa sơ thẩm tại TP Cần Thơ
- ............................ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Trần Kim Hương và cử
luật sư Tô Ngọc Minh Tuấn bào chữa cho Hương tại phiên tòa sơ thẩm
- Bản án sơ thẩm ngày 06/02/2018 của tòa án nhân dân TP Cần Thơ tuyên phạt
Trần Kim Hương 08 (tám) năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo qui
định tại điểm a khoản 4 điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999. Về phần trách
nhiệm dân sự Hương liên đới với Khánh bồi thường toàn bộ số tiền cho các
bị hại
- Sau đó Trần Kim Hương kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và tiếp tục mời
luật sư .................... bào chữa cho Hương tại phiên tòa phúc thẩm tại tòa án
nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh
2. Tên luật sư hướng dẫn: Luật sư .....................
3. Tóm tắt nội dung vụ việc
- Tháng 8/2014, Kha Quốc Khánh đang làm giám đốc chi nhánh của công ty
vàng bạc đá quý BBG Việt Nam (trụ sở tại tầng 8 đường Phan Văn Trị, P An
Phú, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ). Do kinh doanh không hiệu quả, Khánh
cùng vợ là Phạm Thùy Dung, Trần Kim Hương thành lập công ty cổ phần
hàng hải FII, được sở kế hoạch đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận



đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần ngày 21/10/2014, trụ sở chính tại tòa
nhà Melinh Point số 2 Ngô Đức Kế, Phường Bến Nghé, Quận 1, TP Hồ Chí
Minh do Hương làm đại diện theo pháp luật có cổ phần vốn góp chiếm tỷ lệ
60%, giữ chức vụ giám đốc; Dung là cổ đông sáng lập, chiếm tỷ lệ vốn góp
30% và Trần Minh Thiện là cổ đông sáng lập với số cổ phần vốn góp chiếm
tỷ lệ 10%. Hồ sơ thành lập công ty FII do Dung thuê dịch vụ làm. Hương
được Dung thuê làm giám đốc công ty và yêu cầu Hương ký các văn bản,hồ
sơ để thành lập công ty
- Sau đó, tiến hành thành lập chi nhánh của công ty tại Cần Thơ do Khánh làm
giám đốc, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của Chi nhánh và của công ty
- Công ty FII nhiều lần đăng ký thay đổi tại Sở Kế hoạch và đầu tư TP Hồ Chí
Minh như: thay đổi số điện thoại của công ty, thay đổi tên công ty thành công
ty cổ phần đầu tư hàng hải dầu khí FII, bổ sung ngành nghề kinh doanh là
bán buôn, bán lẻ xăng dầu và kinh doanh bất động sản.
- Tháng 11/2014, Khánh dừng hoạt động của chi nhánh công ty BBG Cần Thơ
và chuyển các nhân viên sang làm việc cho công ty FII- chi nhánh Cần Thơ
- Chi nhánh công ty cổ phần đầu tư hàng hải FII do Khánh làm giám đốc được
thành lập tháng 11/2014, mục đích chính là kinh doanh xuất nhập khẩu xăng
dầu, vào thời điểm thành lập công ty không có vốn để kinh doanh nên mới
dùng hình thức ký kết hợp đồng hợp tác đầu tư để huy động vốn.
- Khánh yêu cầu Hương ký trước các hợp đồng hợp tác đầu tư. Đây là những
hợp đồng theo mẫu, không có ngày, tháng; không có thông tin của những nhà
đầu tư; không có số tiền góp vốn của nhà đầu tư. Khi nhân viên công ty tiếp
xúc khách hàng và khách hàng đồng ý ký Hợp đồng góp vốn thì khách hàng
đến trực tiếp công ty, kế toán sẽ cung cấp Hợp đồng cho khách hàng ký sau
đó nộp tiền cho kế toán và kế toán ra phiếu thu cho khách hàng, số tiền thu từ
khách hàng kế toán chuyển vào tài khoản cá nhân của Hương hoặc Khánh
theo sự chỉ đạo cuả Khánh.
- Chi nhánh tại Cần Thơ do Khánh làm giám đốc chỉ có các nhân viên làm
nhiệm vụ tiếp thị, quảng cáo mục đích là tiếp cận khách hàng gởi tiền vào



công ty. Với thủ đoạn chi trả lãi suất cao, lấy tiền đầu tư của người sau trả
cho người trước nên trong thời gian ngắn, Khánh thông qua nhân viên của
mình kêu gọi nhiều người đầu tư vào công ty rồi chiếm đoạt tiền của họ. Sau
khi huy động vốn, công ty không hoạt động gì cả, số tiền khách hàng góp
vào công ty dùng để chi trả các chi phí của công ty, chia lợi nhuận cho khách
hàng và chi xài cá nhân nên dẫn đến không còn vốn. Việc góp vốn của các
khách hàng sau chỉ để chi trả hoạt động và chia lợi nhuận cho khách hàng
trước nhằm kéo dài thời gian. Công ty FII không có chức năng kinh doanh
xăng dầu như công ty đã giới thiệu với khách hàng, tiền chia lợi nhuận cũng
không phải từ hoạt động kinh doanh xăng dầu mà là tiền khách hàng sau góp
vào. Việc góp vốn của các khách hàng sau chỉ để chi trả hoạt động và chia lợi
nhuận cho khách hàng trước nhằm kéo dài thời gian.
- Khi ký kết các hợp đồng thì khách hàng không phải ký trực tiếp với giám đốc
công ty mà các hợp đồng này đều do Hương ký khống trước sau đó chuyển
đến Cần Thơ cho Khánh và Khánh chỉ đạo kế toán công ty quản lý. Khi nhân
viên công ty tiếp xúc khách hàng và khách hàng đồng ý ký Hợp đồng góp
vốn thì khách hàng đến trực tiếp công ty, kế toán sẽ cung cấp Hợp đồng cho
khách hàng ký sau đó nộp tiền cho ké toán và kế toán ra phiếu thu cho khách
hàng, số tiền thu từ khách hàng kế toán chuyển vào tài khoản cá nhân của
Hương hoặc Khánh theo sự chỉ đạo cuả Khánh.
- Trong thời gian Hương làm giám đốc (từ tháng 10/2014 đến đầu tháng
5/2015) Khánh chỉ đạo nhân viên tiếp xúc, huy động vốn của nhà đầu tư với
số tiền 2.280.000.000 đồng rồi chiếm đoạt.
- Sau khi thấy công ty không hoạt động gì mà huy động vốn, ngày 25/5/2015
Hương ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần và bàn giao chức danh giám
đốc cho Khánh. Hương cũng chuyển toàn bộ số tiền huy động vốn mà khách
hàng cho Hương còn lại cho công ty. Sau khi nhận bàn giao chức giám đốc
từ Hương, cũng với thủ đoạn trên Khánh chỉ đạo nhận viên huy động vốn của

nhà đầu tư rồi chiếm đoạt. Cụ thể từ tháng 5/2018 đến đầu tháng 8/2015,
Khánh chỉ đạo nhân viên huy động vốn của nhà đầu tư rồi chiếm đoạt.


- Từ khi thành lập đến khi bị khởi tố, công ty FII dưới sự chỉ đọa của Khánh
đã huy động và chiếm đoạt số tiền của các nhà đầu tư, cụ thể như sau:
 Bà Hồ Thị Bé ký 01 hợp đồng số 171 ngày 07/06/2015 (do Khánh ký), số
tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 2 tháng. Bà Bé đã nhận
lãi 1.750.000 đồng. bà Bé bị chiếm đoạt 100.000.000 đồng.
 Bà Hồ Thị Út Thủy kí 01 hợp đồng số 182 ngày 22/06/2015 (do Khánh
ký), số tiền gớp vốn 50.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 03 tháng. Bà Thủy
nhận lãi 900.000 đồng, số tiền bị chiếm đoạt 50.000.000 đồng.
 Bà Trần Thị Hận ký 01 hợp đồng số 145 ngày 25/03/2015 (do Hương ký),
số tiền góp vốn 200.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 06 tháng. Bà Hận
nhận lãi 32.000.000 đồng, số tiền bà Hận bị chiếm đoạt 200.000.000
đồng.
 Bà Lê Thị Hoàng Thúy kí 01 hợp đồng số 174 ngày 27/05/2018 (do
Khánh ký), số tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 4 tháng.
Bà Thúy đã nhận lại 400.000.000 đồng, số tiền bà Thủy bị chiếm đoạt
100.000.000 đồng.
 Bà Dương Thị Phương Thảo ký 1 hợp đồng số 180 ngày 05/06/2015 (do
Khánh ký), số tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 3 tháng.
Bà Thảo chưa nhận lãi, số tiền bị chiếm đoạt 100.000.000 đồng.
 Ông Nguyễn Văn Trãi ký 1 hợp đồng số 163 ngày 08/05/2015 (do Hương
ký), số tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 4 tháng. Ông Trãi
đã nhận lãi 4.000.000 và Khánh trả cho ông Trãi 5.000.000, số tiền bị
chiếm đoạt 100.000.000 đồng.
 Ông Trần Thanh Lê ký 3 hợp đồng. Hợp đồng thứ nhất ký vàn tháng
12/2014, số tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 6 tháng.
Tháng 1 năm 2015 ký Hợp đồng thứ 2, số tiền góp vốn 100.000.000 đồng,

thời hạn hợp tác 06 tháng. Tháng 2/2015 ký hợp đồng thứ ba ngày
25/02/2015 (do Hương ký), số tiền góp vốn 100.000.000 đồng, thời hạn
hợp tác 06 tháng. Tuy nhiên ông Lê đã vay lại công ty 150.000.000 đồng,
đồng thời tất toán hợp đồng thứ nhất 100.000.000 đồng. Số tiền ông Lê bị
chiếm đoạt 50.000.000 đồng.


 Bà Trần Thủy Trân ký 1 hợp đồng số 151 ngày 10/04/2015 (do Hương
ký), số tiền góp vốn 200.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 4 tháng. Bà Trân
đã nhận lãi 4.000.0000, số tiền bị chiếm đoạt 200.000.000 đồng.
 Ông Đỗ Thành Tín ký 1 hợp đồng số 163 ngày 13/05/2015 (do Hương
ký), số tiền góp vốn 200.000.000 đồng, thời hạn hợp tác 2 tháng. Ông Tín
đã nhận lãi 4.200.000 đồng, số tiền bị chiếm đoạt 200.000.000 đồng.
 Bà Đoàn Thị Bé Ba ký 1 hợp đồng số 184 ngày 30/06/2015 (do Khánh
ký), số tiền góp vốn 80.500.000 đồng, thời hạn hợp tác 6 tháng. Bà Bé Ba
đã nhận lãi 1.771.0000, số tiền bị chiếm đoạt 80.500.000 đồng.
- Ngày 01/08/2015, ông Phạm Việt Hùng là khách hàng có ký hợp đồng hợp tác
đầu tư và 10 nhân viên công ty FII – chi nhánh Cần Thơ (đang có khách hàng
đầu tư chưa tất toán hợp đồng) ký đơn tố cáo Kha Quốc Khánh, Trần Kim
Hương, Phạm Thùy Dung và Trần Minh Thiện, sau đó các khách hàng có ký
hợp đồng hợp tác đầu tư với công ty FII ký đơn tố cáo và xử lý theo qui định
của pháp luật.
- Ngày 23/10/2015 cơ quan cảnh sát điều tra TP Cần Thơ ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự; ngày 9/6/2016, cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố
đối với bị can Kha Quốc Khánh về tội lừa đảo chiếm tài sản. Qua nhiều lần
trả hồ sơ điều tra bổ sung, ngày 20/11/2017 cơ quan cảnh sát điều tra công an
TP Cần Thơ đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Trần Kim Hương về tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi
cư trú đối với Trần Kim Hương.
4. Yêu cầu của khách hàng

- Yêu cầu trả hồ sơ bổ sung, chứng minh hành vị phạm tội của Hương. Nếu
không thì tuyên vô tội.
- Hương không hưởng lợi gì từ số tiền bị chiếm đoạt nên không phải liên đới
bồi thường trách nhiệm dân sự cho các bị hại.
5. Phạm vi công việc được luật sư hướng dẫn phân công
- Nghiên cứ hồ sơ, tài liệu mà khách hàng đã cung cấp.
- Xác định các vấn đề cần chứng minh trong vụ việc và phân tích yêu tố có lợi,
bất lợi của khách hàng.


- Nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan đến nội dung vụ việc.
- Lắng nghe và ghi chép bảng lưu ý khi tiếp xúc khách hàng cùng luật sư
hướng dẫn.
- Nghiên cứu bản án sơ thẩm, các vấn đề mà bản án sơ thẩm chưa làm rõ.
- Báo cáo ý kiến quan điểm của bản thân về vụ việc này.
- Chuẩn bị bài luận cứ bào chữa tại phiên tòa phúc thẩm
- Chuẩn bị cho luật sư hướng dẫn nội dung, ý kiến tranh luận với đại diện Viện
Kiểm sát
PHẦN 2: PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC
1. Căn cứ pháp luật để giải quyết vụ việc.
-

Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015.

-

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015.

-


Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015.

-

Nghị quyết số 41/2017/QH14

ngày 9/1/2018 của Quốc Hội về việc thi hành

Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi,bổ sung một số điều
theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của bộ luật tố tụng hình
sự số 101/2015/QH13,Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự số
99/2015/QH13, Luật thi hành tạm giữ,tạm giam số 94/2015/QH13.
-

Công văn số 04/TANDTC-PC ngày 9/1/2018 V/v áp dụng BLHS năm 2015
và Nghị quyết số 41 của Quốc hội.

2. Nêu bản chất vụ việc và quan hệ pháp lý phải giải quyết;
Bản chất vụ việc
-

Yêu cầu tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh hủy bản án sơ thẩm, trả
hồ sơ để xét xử lại vụ án hình sự “Kha Quốc Khánh phạm tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” đã được tòa án nhân dân TP Cần Thơ xét xử sơ thẩm ngày
06/02/2018 do có kháng cáo của Trần Kim Hương.
Quan hệ pháp lý phải giải quyết


-


Tòa án cấp phúc thẩm cần đưa ra những chứng cứ chứng minh hành vi phạm
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hương.

-

Chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của Hương và hậu quả xảy
ra nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản

-

Chứng minh số tiền thực tế Hương chiếm đoạt

3. Quan điểm bào chữa (có lập luận chặt chẽ về cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn).
3.1. Về tính chất, mức độ sai phạm của bị cáo Hương
3.1.1 Các yếu tố cấu thành tội phạm mà tòa án dân dân TP Cần Thơ cáo
buộc Hương phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
a)

Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu
trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài
sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho
người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có
hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm
này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
- Về hành vi của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có hành vi dùng thủ
đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi gian dối
của người phạm tội phải có xảy ra trước khi người phạm tội chiếm
giữ tài sản. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Cần Thơ quy kết
Hương ký khống hồ sơ thành lập công ty FII, ký khống các Hợp đồng
hợp tác kinh doanh nhằm mục đích lừa đảo nhà đầu tư để chiếm đoạt

tài sản. Cáo buộc này hoàn toàn không có căn cứ bởi các lẽ sau:
 Ngành nghề kinh doanh của công ty FII không phải là ngành nghề
kinh doanh yêu cầu phải có vốn pháp định, Luật doanh nghiệp
2013 không hề quy định khi thành lập công ty mà luật không yêu
cầu vốn pháp định người tham gia thành lập phải có số vốn cụ thể.
Các thành viên tham gia góp vốn đều xác nhận số vốn mình góp
và cam kết góp là hợp lệ. Việc Hương ký khống hồ sơ vốn góp để
đăng ký thành lập công ty FII là hoàn toàn bình thường và được


pháp luật cho phép. Hơn nữa công ty FII đã được Sở kế hoạch đầu
tư TP Hồ Chí Minh cấp phép hoạt động.
 Các Hợp đồng hợp tác với nhà đầu tư Hương đều ký khống (không
biết bên ký kết Hợp đồng, không số tiền góp vốn, không ghi thời
hạn…), về nguyên tắc các hợp đồng này đều không có giá trị.
Người sử dụng Hợp đồng này để huy động vốn góp nằm ngoài sự
kiểm soát của Hương
 Việc chỉ đạo nhân viên đưa ra các tài liệu như giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh với vốn điều lệ 29 tỉ, bản ghi nhớ về hợp tác
kinh doanh giữa FII với một công ty ở Singapore, cùng hình ảnh,
tài liệu về các kho xăng dầu quy mô lớn. Cáchợp đồng thuê kho
chứa dầu với một công ty ở quận Bình Thủy (TP Cần Thơ để
khách hàng xem), tổ chức hội thảo, tất niên tại những nơi sang
trọng, tổ chức trao quà, phát thưởng để mọi người tin tưởng hợp
tác đều do Khánh trực tiếp thực hiện hoặc chỉ đạo nhân viên thực
hiện. Hương không thực hiện cũng như không biết việc này.

- Về hậu quả: Mặc dù thiệt hại thực tế đã xảy ra nhưng cơ quan tiến
hành tố tụng không chứng minh được số tiền riêng Hương chiếm
đoạt. Số tiền nhà đầu tư góp vốn nộp vào công ty thông qua kế toán

hoặc chuyển khoản trực tiếp cho Khánh hoặc chuyển cho Hương
nhưng Hương cũng chuyển lại cho công ty hoặc cho Khánh. Thực tế
thì Hương cũng không chiếm đoạt số tiền của nhà đầu tư
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Việc Hương ký hồ sơ
thành lập công ty FII và ký khống các hợp đồng hợp tác đầu tư không
thể dẫn đến hậu quả chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
 Việc thành lập công ty FII là hoàn toàn hợp pháp, việc các nhà đầu
tư bị chiếm đoạt tài sản không thể quy kết do hành vi Hương thành
lập công ty FII gây nên.


 Các nhà đầu tư bị chiếm đoạt tài sản cũng không thể đổ lỗi do
hành vi gian dối của Hương trong việc ký khống các hợp đồng hợp
tác gây nên. Lúc Hương ký khống các Hợp đồng hợp tác, Hương
không hề có thủ đoạn gian dối nào để chiếm đoạt tài sản
b)

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có
tính chất chiếm đoạt, do lỗi cố ý của chủ thể, mục đích là mong muốn
chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại. Mục đích chiếm
đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ
đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản
- Về dấu hiệu lỗi: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi
cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản
của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật.
Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác
bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Hương
không thể thấy trước hậu quả của hành vi ký hồ sơ thành lập công ty
FII và ký khống hợp đồng hợp tác của Hương là để chiếm đoạt tài
sản. Có chăng, Hương hành vi của Hương vô tình bị người khác lợi

dụng để phạm tội. Hậu quả xảy ra nằm ngoài mong muốn của Hương.
Khi phát hiện công ty không hoạt động gì mà huy động vốn Hương đã
chủ động nghỉ việc và bàn giao công việc lại cho Khánh. Hương bỏ
mặt các hợp đồng chưa tất toán vì nghĩ rằng trong quá trình hoạt động
Hương làm theo sự chỉ đạo của Khánh và bàn giao tiền cho Khánh
nên Khánh có trách nhiệm giải quyết các Hợp đồng trên.
- Về động cơ, mục đích của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong
muốn chiếm đoạt được tài sản thuộc sở hữu của người bị hại. Mục đích
chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực
hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi của
Hương không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Cụ
thể Hương không hề chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Nhiều lần
người bị hại chuyển tiền vào tài khoản của Hương, Hương đều
chuyển lại cho Khánh hoặc chuyển vào cho công ty thông qua kế


toán. Nếu như Hương có mục đích chiếm đoạt tiền của người bị hại
thì ngay lúc này Hương có thể chiếm đoạt tài sản của người bị hại.
Như vậy khi ký hồ sơ thành lập công ty FII và ký khống các Hợp
đồng hợp tác thì Hương không hề mục đích chiếm đoạt tài sản của
người bị hại.
c)

Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là
bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Trong vụ án này Hương đủ tuổi chịu trách nhịêm hình sự và có đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự

d)


Về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người
khác. Tuy tài sản hợp pháp của nhà đầu tư bị xâm phạm nhưng bản án sơ
thẩm chưa chứng minh được Hương xâm phạm đến tài sản của ai, giá trị
là bao nhiêu?
- Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai
triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp
gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về
hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa
được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên
mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cơ bản
của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, cơ quan tiến hành
tố tụng chưa làm rõ số tiền Hương chiếm đoạt. Số tiền mà bị hại
chuyển cho Hương, Hương đều chuyển lại cho Khánh hoặc kế toán
công ty quản lý.
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành tội phạm vật chất nên tội
phạm hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, tức
là lúc người phạm tội đã làm chủ được tài sản bị chiếm đoạt và người
bị hại đã mất khả năng làm chủ được tài sản đó trên thực tế. Trong vụ
án này Hương không hề làm chủ tài sản chiếm đoạt được.


3.1.2 Về vai trò đồng phạm của Hương: Bản án sơ thẩm kết tội Hương đồng
phạm với vai trò giúp sức cho Khánh lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng
không thỏa đáng bởi các lý do sau;
- Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện
một tội phạm. Như đã phân tích ở trên Hương không hề có hành vi cố
ý thực hiện tội phạm.
- Đồng phạm là việc những người phạm tội có sự bàn bạc thống nhất
trước khi thực hiện phạm tội. Trong vụ án này Hương không hề quen

biết Khánh, Hương được Dung thuê về làm giám đốc công ty FII với
mức lương 12.000.000 đồng/tháng. Việc Hương ký khống các hợp
đồng hợp tác là theo sự chỉ đạo của Khánh, Hương không hề biết
trước Khánh dùng các hợp đồng này để ký hợp đồng góp vốn với các
nhà đẩu tư và thu tiền. Hương và Khánh không có sự thống nhât từ
trước khi Khánh thực hiện hành vi lừa đảo. Cáo trạng của Viện kiểm
sát nhân dân TP Cần Thơ không chứng minh được giữa Hương,
Khánh, Dung bàn bạc từ trước để chiếm đoạt tài sản.
-

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh cũng xác định
từ khi thành lập tháng 10/2014 đến tháng 7/205, tất cả mọi hoạt động
của công ty FII đều do Khánh điều hành, Hương không tham gia chỉ
đạo, điều hành nhân viên công ty. Như vậy hoạt động huy động vốn
của công ty FII Hương không hề hay biết và cũng không chỉ đạo gì về
việc này.

Ngoài ra cơ quan bản án sơ thẩm chưa làm rõ các vấn đề sau:
- Các Hợp đồng mà Hương ký khống gởi về Cần Thơ cho bị cáo Khánh và
các nhân viên sử dụng có trước hay sau khi bổ sung lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu. Trường hợp Hương ký trước khi bổ sung lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu thì khả năng Hương không phạm tội do thực tế mọi hoạt động
huy động của công ty FII và chi nhánh Cần Thơ đều do Khánh trực tiếp
thực hiện, Hương chỉ là người làm thuê.


- Lời khai của bị hại, bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đều xác
định Dung có vai trò không nhỏ trong việc huy động vốn, tuy nhiên cơ
quan điều tra cũng như tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò của Dung
trong việc thành lập công ty, huy động vốn.

- Chi nhánh công ty FII tại Cần Thơ hoạt động dưới sự ủy quyền của công ty
FII, do đó hoạt động huy động vốn của chi nhánh công ty FII tại Cần Thơ
hay không, Khánh nhân danh công ty huy động vốn hay nhân danh tư cách
cá nhâ huy động vốn. Nếu như không có sự ủy quyền của công ty FII cho
chi nhánh Cần Thơ thì Khánh nhân danh cá nhân huy động vốn
- Mọi hoạt động điều hành của công ty FII Hương không trực tiếp
quản lý mà chịu sự quản lý điều hành của Khánh và Dung. Khánh
trực tiếp huấn luyện đào tạo nhân viên để huy động khách hàng góp
vốn vào công ty.
- Các hợp đồng Khánh yêu cầu Hương ký trước là các Hợp đồng theo
mẫu, Hợp đồng trống, không có thông tin người góp vốn, không có
số tiền góp vốn, không có thời hạn góp vốn rồi để tại chi nhánh tại
Cần Thơ. Thực chất các hợp đồng trống này không có giá trị pháp lý.
Hương không trực tiếp ký các Hợp đồng góp vốn với các nhà đầu tư.
Khi có người góp vốn Khánh đưa các hợp đồng trống này cho nhân
viên để ký kết huy động vốn với các nhà đầu tư và thu tiền
- Văn bản thỏa thuận hợp tác với Flexi Singapor ngày 22/10/2014 do
Dung ký, hợp đồng hợp tác kinh doanh bể chứa 400 m 3 ngày
31/01/2015 và hợp đồng vận chuyển xăng dầu bằng đường bộ ngày
20/07/2015 do Khánh ký. Các hợp đồng này không hề được thực
hiện trên thực tế, Hương không hề biết và cũng không trực tiếp ký
với đối tác. Sau đó Khánh chỉ đạo nhân viên đưa các hợp đồng này
cho những người góp vốn xem để họ tin tưởng công ty có hoạt động
mà góp vốn vào công ty. Điều này chứng tỏ Khánh và Dung có ý
định lừa đảo ngay từ trước. Hương chỉ ký hợp đồng mua bán nhiên
liệu (nhưng không ghi ngày) cũng là phù hợp với nghành nghề kinh


doanh của công ty FII, phù hợp với hoạt động kinh doanh của công
ty.

- Việc Hương ký khống giấy chứng nhận thể hiện phần vốn góp cho
Thiện, Dung để thành lập công ty nằm ở giai đoạn đầu, lúc công ty
chưa huy động vốn từ các nhà đầu tư
- Ngoài ra Khánh còn tổ chức hội thảo, tất niên ở những nơi sang
trọng, tổ chức trao quà, phát thưởng để mọi người tin tưởng hợp tác.
Việc này hoàn toàn do Khánh sắp xếp, tổ chức, Hương không hề biết
và Khánh không hề báo cáo với Hương về việc tổ chức hội thảo, tất
niên nhằm tạo lòng tin với khách hàng.
- Tất cả các hợp đồng góp vốn nêu trên đều ký tại chi nhánh Cần Thơ
do Khánh làm giám đốc. Chỉ có 01 hợp đồng góp vốn của ông Đỗ
Thành Tín ký tại TP Hồ Chí Minh (do Hương ký) nhưng ông Tín đã
nộp tiền cho kế toán để chuyển khoản về chi nhánh công ty FII tại
Cần Thơ cho Kha Quốc Khánh. Do đó, Hương không hưởng lợi gì từ
việc ký kết hợp đồng góp vốn này.
- Do đó bản án sơ thẩm chưa làm rõ các vấn đề sau:
 Chưa chứng minh được hành vi phạm tội của Hương, Hương chẳng qua là
con chốt để Dung và Khánh lợi dụng
 Vai trò của Dung trong việc thành lập công ty FII, Dung mời Hương về
làm giám đốc công ty FFI, đưa tên Thiện vào trong danh sách cổ đông
sáng lập với mục đích gì, trong khi mọi hoạt động, điều hành của công ty
FII đều do Dung và Khánh (chồng Dung) quyết định.
 Văn bản thỏa thuận hợp tác với Flexi Singapor do Dung ký thực tế như
thế nào
 Các Hợp đồng mà Hương ký khống gởi về Cần Thơ cho bị cáo Khánh và
các nhân viên sử dụng có trước hay sau khi bổ sung lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu. Trường hợp Hương ký trước khi bổ sung lĩnh vực kinh doanh
xăng dầu thì khả năng Hương không phạm tội do thực tế mọi hoạt động


huy động của công ty FII và chi nhánh Cần Thơ đều do Khánh trực tiếp

thực hiện, Hương chỉ là người làm thuê
 Lời khai của bị hại, bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đều xác
định Dung có vai trò không nhỏ trong việc huy động vốn, tuy nhiên cơ
quan điều tra cũng như tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò của Dung
trong việc thành lập công ty, huy động vốn
 Làm rõ vai trò của cơ quan đăng kí kinh doanh trong việc cấp phép cho
công ty FII kinh doanh bất động sản, xăng dầu. Đây là những ngành nghề
kinh doanh có điều kiện ý kiến của Vụ thị trường trong nước – Bộ Công
Thương. Trong khi đó công ty FII hoạt động kinh doanh xăng dầu chưa có
ý kiến của vụ thị trường trong nước – Bộ công thương mà vẫn được Sở kế
hoạch và đầu tư TP Hồ Chí Minh cấp phép cho công ty FII hoạt động.
 Không chứng minh được số tiền mà Hương chiếm đoạt. Tuy Hương có ký
một số hợp đồng với nhà đầu tư nhưng số tiền nhà đầu tư nộp vào công ty
thông qua kế toán hoặc chuyển khoản trực tiếp cho Khánh, một số nhà
đầu tư chuyển khoản cho Hương nhưng Hương đều chuyển vào tài khoản
công ty thông qua kế toán hoặc chuyển lại cho Khánh
3.2. Về các tình tiết giảm nhẹ
- Người phạm tội đã ngăn chặn, giảm bớt tác hại của tội phạm theo điểm
a khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Khi thấy công ty không hoạt
động gì mà huy động vốn, Hương đã chủ động nghỉ việc và bàn giao
công việc lại cho Khánh
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo qui định tại
điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
3.3. Về nhân thân
- Bị cáo Hương có nhân thân tốt chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm
hành chính, trước khi phạm tội bị cáo Hương là người có ích cho xã
hội.


- Thời điểm xảy ra hành vi phạm tội Hương không có việc làm, chỉ ở nhà

phụ giúp cha mẹ bán tạp hóa nhỏ. Nghe lời mời gọi về làm việc cho
Khánh và Dung với một mức lương cố định nên Hương đã làm theo. Bị
cáo muốn có công ăn việc làm và phụ giúp gia đình mà không biết rằng
mình trở thành công cụ cho Khánh và Dung lợi dụng để phạm tội.
- Tại thời điểm xét xử bị cáo Hương đang mang song thai do đó khi
trước khi quyết định hình phạt hội đồng xét xủ sơ thẩm cần xem xét khi
lượng hình để bị cáo có điều kiện được chăm sóc con nhỏ
Từ những phân tích nêu trên, kính mong hội đồng xét xử trả hổ sở để điều tra
bổ sung để làm rõ hành vi phạm tội của Khánh và Dung, đồng thời làm rõ
các yếu tố trước khi kết tội Hương để có một bản án công minh, đúng người,
đúng tội.
PHẦN 3: KẾT QUẢ THỰC HIỆN VỤ VIỆC
1. Nội dung công việc thực hiện theo phân công của luật sư hướng dẫn:
- Xây dựng luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, tranh
luận tại phiên tòa;
- Ý kiến tư vấn đối với vụ việc;
2. Kết quả giải quyết vụ việc
Ngày 24/06/2018 tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh xét xử phúc
thẩm vụ án, tuy nhiên tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của Trần Kim
Hương, giữ nguyên bản án sơ thẩm
PHẦN 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Bài học kinh nghiệm
a) Về đăng ký hoạt động của công ty FII
- Công ty FII kinh doanh lĩnh vực bán buôn xăng dầu phải có sự đồng ý
của Vụ thị trường trong nước, trong khi đó sở kế hoạch và Đầu tư TP
Hồ Chí Minh lại cấp phép cho công ty FII hoạt động


- Vốn góp của các thành viên tham gia góp vốn đều là vốn ảo, không
có thực, điều này dẫn đến các nhà đầu tư tham gia góp vốn nhầm lẫn

nên Khánh, Dung mới có cơ hội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên
pháp luật hiện hành không quy định ngành nghề kinh doanh của công
ty FII phải có vốn pháp định. Luật doanh nghiệp 2013 cho phép các
thành viên tham gia góp vốn góp không đủ số vốn hoặc cam kết góp
vốn trong thời hạn nhất định.
b) Về hoạt động của công ty FII:
- Công ty FII có ký các hợp đồng vận chuyển, hợp đồng mua bán nhiên
liệu, hợp đồng thuê kho chứa xăng dầu. Tuy nhiên các hợp đồng này là
hợp đồng ảo, không hề được thực hiện trên thực tế. Chính sự chuẩn bị
tinh vi của Khánh, Dung nên nhà đầu tư mới dễ nhầm lẫn, tin tưởng
mà hợp tác đầu tư.
- Hương giữ vai trò giám đốc công ty nhưng thực tế mọi hoạt động hằng
ngày, huy động vốn đều do Khánh và Dung trực tiếp thực hiện nên
Dung không thể quản lý, kiểm soát được hoạt động của công ty nên
Hương mới bị “vạ lây” từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của
Khánh.
- Mức lãi suất huy động vốn của công ty FII rất cao so với thị trường,
đánh vào tâm lý hám lợi của nhà đầu tư. Thực tế cho thấy lãi suất càng
cao càng tiềm ẩn nhiều rủi ro
c) Về vai trò của Hương
- Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh cũng xác định
từ khi thành lập tháng 10/2014 đến tháng 7/205, tất cả mọi hoạt động
của công ty FII đều do Khánh điều hành, Hương không tham gia chỉ
đạo, điều hành nhân viên công ty
- Không vốn đầu tư, không có năng lực, không quen biết mà được người
khác mời làm giám đốc của một công ty có vốn điều lệ lớn càng thấy
nguy cơ trở thành con tốt thí mạng cho người chủ.


- Với vai trò là giám đốc, người đại diện theo pháp luật mà Hương

không kiểm soát, điều hành được công ty nên bị cấp dưới qua mặt,
hoạt động phi pháp. Có chăng Hương thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng.
d) Về vụ án
- Về tố tụng:
 Vụ án nhiều lần bị tòa án trả hồ sơ bổ sung
 Quá trình điều tra cơ quan điều tra thực hiện đúng theo qui định của
pháp luật, đúng theo trình tự tố tụng. Các thành viên của Hội đồng
xét xử thực hiện đúng theo qui định của bộ luật tố tụng hình sự
 Quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Trần Kim Hương được đảm
bảo (bị cáo Hương đang mang thai nên được cơ quan tiến hành tố
tụng cho tại ngoại).
 Biên bản ghi lời khai của bị can chưa có sự tham gia của luật sư.
- Về nội dung:
 Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa làm rõ được hành vi phạm
tội của bị cáo Hương. Chưa làm rõ đủ 4 yếu tố cấu thành tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản.
 Vụ án nhiều lần bị tòa án, viện kiểm sát trả hồ sơ yêu cầu điều tra
bổ sung nên cơ quan điều tra vội vàng khởi tố Hương tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản
 Không chứng minh được số tiền Hương chiếm đoạt.
 Bỏ lọt tội phạm, cơ quan điều tra chưa khởi tố đối với hành vi của
Phạm Thùy Dung
2. Kiến nghị
- Tòa án cấp phúc thẩm trả hồ sơ điều tra bổ sung


- Làm rõ vai trò của Dung trong việc thành lập công ty FII. Các hồ sơ thành
lập công ty FII mà Dung đưa có Hương ký có sự bàn bạc với nhau hay
không hay Hương ký theo sự chỉ đạo của Dung.

- Vai trò của Dung trong vụ án là không nhỏ, do đó kiến nghị tòa án cấp
phúc thẩm khởi tố bị can đối với Phạm Thùy Dung hoặc triệu tập Phạm
Thùy Dung đến toà đối chất với Khánh và Hương để làm rõ các vấn đề
của vụ án
3. Đề xuất
- Chứng minh hành vi phạm tội của Hương. Nếu cơ quan điều tra không
chứng minh được hành vi phạm tội của Hương thì tuyên Hương vô tội.
- Khởi tố bị can đối với Phạm Thùy Dung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
PHẦN 5 : DANH MỤC TÀI LIỆU ĐÍNH KÈM
- Cáo trạng số 02 ngày 13/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân TP
Cần Thơ
- Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2018/HS-ST ngày 06/02/2018 của tòa
án nhân dân TP Cần Thơ



×