Tải bản đầy đủ (.pdf) (66 trang)

Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu chƣơng trình giáo dục phổ thông mới và hệ thống kiến thức hóa đại cƣơng trong chƣơng trình hóa học mới

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.02 MB, 66 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC

NGUYỄN HƢƠNG GIANG

TÌM HIỂU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THƠNG
MỚI VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC HĨA ĐẠI CƢƠNG
TRONG CHƢƠNG TRÌNH HĨA HỌC MỚI

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chun ngành: Hóa học Vô cơ

HÀ NỘI – 2019


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC

NGUYỄN HƢƠNG GIANG

TÌM HIỂU CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THƠNG
MỚI VÀ HỆ THỐNG KIẾN THỨC HĨA ĐẠI CƢƠNG
TRONG CHƢƠNG TRÌNH HĨA HỌC MỚI

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chun ngành: Hóa học Vô cơ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

TS. ĐĂNG THỊ THU HUYỀN


HÀ NỘI – 2019


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cơ giáo trong khoa Hóa
học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong tổ Hóa vơ cơ – Đại cương
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt thời gian em theo học tại khoa
và trong thời gian em làm khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Đăng Thị Thu Huyền –
người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, luôn tận tâm chỉ bảo những kiến thức về
chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quí báu, giúp đỡ em trong q
trình em làm khóa luận.
Em xin cảm ơn gia đình, anh chị em, bạn bè, là những người đã luôn ở bên
chia sẻ, động viên và giúp đỡ em trong suốt q trình em làm khóa luận tốt nghiệp.
Để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, mặc dù đã rất cố gắng, song
những ngày đầu làm quen, tiếp cận và học hỏi để nghiên cứu khoa học sẽ không
tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm, em
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành từ q thầy cơ và bạn bè để
khóa luận của em trở nên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên

Nguyễn Hƣơng Giang


MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................................... 1

3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................................... 2
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................ 2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................................... 2
6. Giả thuyết khoa học ....................................................................................................... 2
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................ 2
8. Đóng góp mới của đề tài ................................................................................................ 2
PHẦN 2: NỘI DUNG .......................................................................................................... 3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ...................................................... 3
1.1. Lí do đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông ................................................. 3
1.1.1. Bối cảnh trong nước.......................................................................................... 3
1.1.2. Bối cảnh quốc tế ............................................................................................... 4
1.1.3. Lược sử ra đời chương trình phổ thông mới ..................................................... 5
1. 2. Những điểm mới của chƣơng trình phổ thơng tổng thể.................................... 7
1.2.1. Phương pháp xây dựng chương trình................................................................ 7
1.2.2. Chương trình theo hướng trang bị năng lực, phẩm chất cho học sinh ............ 11
1.2.3. Chương trình mới chú trọng định hướng nghề nghiệp ................................... 17
1.2.4. Chươg trình phổ thơng mới có tính tích hợp và phân hóa .............................. 19
1.2.5. Chương trình mới có mơn học bắt buộc và tự chọn ....................................... 22
1.2.6. Chương trình giáo dục mới định hướng về phương pháp dạy học ................. 24
CHƢƠNG 2: KẾT QUẢ ................................................................................................ 27
2.1. Điểm mới/thay đổi của chƣơng trình mơn Hóa học ......................................... 27
2.1.1. Bớt những tính tốn theo kiểu “tốn học hố”................................................ 27
2.1.2. Chương trình mới có 3 mạch nội dung cốt lõi ................................................ 28
2.1.3. Nội dung chương trình được thiết kế theo hệ thống chủ đề............................ 30
2.2. So sánh chƣơng trình Hóa học phổ thơng mới và cũ ....................................... 32
2.3. So sánh nội dung kiến thức Hóa học đại cƣơng trong chƣơng trình Hóa học
phổ thông mới và cũ ................................................................................................... 43
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 61



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT

: Chương trình

CTPT

: Chương trình phổ thông

NL

: Năng lực

THCS

: Trung học Cơ sở

THPT

: Trung học Phổ thông


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt về
khoa học công nghệ giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, quốc gia nào khơng phát
triển được năng lực khoa học công nghệ sẽ tụt hậu, chậm phát triển. Do vậy, một
nền giáo dục tiên tiến tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng cao là đích đến mà rất
nhiều quốc gia hướng tới. Chính vì vậy mà Hội nghị Trung Ương 8 (Khóa XI, tháng

11-2013) đã ban hành Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo nước ta. Từ đó đến nay đã có rất nhiều các đổi mới như về phương pháp dạy
học, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, …
Nhưng quan trọng nhất, Bộ Giáo dục và đào tạo đã trình Quốc hội về việc thay đổi
chương trình và sách giáo khoa mới, bắt đầu từ năm học 2020 - 2021. Là một sinh
viên năm thứ 4 khoa Hóa học, sắp ra trường, sắp tham gia thực sự vào hệ thống giáo
dục nước nhà, em có những băn khoăn, trăn trở về công việc tương lai như tại sao
lại phải đổi mới chương trình, chương trình cũ và mới khác nhau điểm gì, ...
Hóa học đại cương là một ngành hóa học nghiên cứu các kiến thức tổng quát,
cơ bản về Hóa học như: cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, tốc độ phản ứng,…
Mơn Hóa học đại cương phát triển phẩm chất và năng lực học sinh thông qua nội
dung giáo dục với cốt lõi là những kiến thức cơ bản, thiết thực, thể hiện tính hiện
đại, cập nhật; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong
học tập và đời sống; thơng qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát
huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh; các phương pháp kiểm tra, đánh
giá phù hợp với mục tiêu giáo dục. Môn học này luôn đổi mới để đáp ứng yêu cầu
của cuộc sống hiện đại, do vậy địi hỏi giáo dục phổ thơng cũng cần phải liên tục
cập nhật những thành tựu khoa học mới, tích hợp nhiều tiến bộ mới nhất của các
ngành khoa học, cơng nghệ và kỹ thuật.
Với những lí do trên, em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu chƣơng trình giáo dục
phổ thơng mới và hệ thống kiến thức Hóa đại cƣơng trong chƣơng trình Hóa
học mới”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói
riêng trong chương trình Hóa học phổ thơng mới, giúp sinh viên sư phạm Hóa học

1


hiểu rõ hơn và nắm bắt được những điểm mới trong chương trình mơn Hóa học phổ

thơng để qua đó chuẩn bị được hành trang trở thành một giáo viên dạy Hóa học
tương lai.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trong
chương trình Hóa học phổ thơng cũ và mới.
4. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình phổ thơng tổng thể nói chung và chương trình mơn Hóa học
nói riêng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình phổ
thơng mới.
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc xây dựng chương trình Hóa
học mới và cũ.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu tìm hiểu được những điểm mạnh của chương trình phổ thơng mới cũng
như hệ thống được kiến thức Hóa đại cương trong chương trình Hóa học mới sẽ
góp phần tạo dựng hành trang vững chắc hơn cho những sinh viên khoa Hóa học
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cũng chính là những thầy cơ giáo tương lai của
đất nước.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Sử dụng phương pháp phân tích,
tổng hợp, hệ thống hóa để tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đóng góp của thầy cơ giáo đề hồn
thiện đề tài nghiên cứu.
8. Đóng góp mới của đề tài
Hệ thống kiến thức Hóa học nói chung và Hóa học đại cương nói riêng trong
chương trình Hóa học phổ thơng mới.

2



PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lí do đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông
1.1.1. Bối cảnh trong nước
Nước ta đang trong quá trình xây dựng thành tựu 30 năm đổi mới với
những tiến bộ nhất định.
30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đại
trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, là q trình cải biến sâu sắc, tồn diện, triệt để, là
sự nghiệp cách mạng to lớn của tồn Đảng, tồn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công b ng, văn minh”.
Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng
trong cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở
vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra mơi trường thu hút cho nguồn lực xã hội phát triển.
So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế
duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng
thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra
nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ
doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện
đường lối cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh những thành tựu thì nước ta vẫn có những hạn chế về kinh tế, chất
lượng nguồn nhân lực và văn hóa – xã hội.
Năng suất lao động của Việt Nam cịn thấp. Sự khơng đồng đều về chất lượng
nhân lực trong nước và so với các nước trong khu vực trong điều kiện yêu cầu cao
về kỹ năng nghề và đổi mới nhanh chóng về sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Khoa
học, cơng nghệ chưa thực sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động,
năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có giải pháp đủ mạnh

để khuyến khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới và
ứng dụng khoa học, công nghệ.

3


Chất lượng việc làm còn thấp, trong khi khả năng tạo việc làm của nền kinh
tế trong giai đoạn suy giảm, tăng trưởng kinh tế không cao đã ảnh hưởng đến kết
quả giải quyết việc làm cho người lao động. Nguồn lực hỗ trợ tạo việc làm thấp,
chưa đảm bảo để thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ giải quyết việc làm.
Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm, lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao; chất lượng lao động thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo
chung 51,6%, trong đó qua đào tạo từ 3 tháng trở lên (có b ng cấp chứng chỉ) mới
đạt khoảng 21,9%.
Thị trường lao động trong nước và thế giới đòi hỏi người lao động phải đạt
được chuẩn nghề nghiệp, nhưng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đang
xây dựng và bước đầu hướng tới chuẩn khu vực và thế giới.
1.1.2. Bối cảnh quốc tế
Thế giới đang hình thành và phát triển các cuộc cách mạng công nghiệp
3.0; 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (Cuộc cách mạng công nghiệp
3.0) xuất hiện vào khoảng từ 1969, với sự ra đời và lan tỏa của công nghệ thông tin,
sử dụng điện tử và công nghệ thơng tin để tự động hóa sản xuất. Cuộc cách mạng
này thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được
xúc tác bởi sự phát triển của chất bán dẫn, siêu máy tính, máy tính cá nhân (thập
niên 1970 và 1980) và Internet (thập niên 1990).
Cuộc cách mạng này đã tạo điều kiện tiết kiệm các tài nguyên thiên nhiên và
các nguồn lực xã hội, cho phép chi phí tương đối ít hơn các phương tiện sản xuất để
tạo ra cùng một khối lượng hàng hóa tiêu dùng. Kết quả, đã kéo theo sự thay đổi cơ
cấu của nền sản xuất xã hội cũng như những mối tương quan giữa các khu vực I

(nông – lâm – thủy sản), II (công nghiệp và xây dựng) và III (dịch vụ) của nền sản
xuất xã hội. Làm thay đổi tận gốc các lực lượng sản xuất, cuộc Cách mạng Khoa
học và Công nghệ hiện đại đã tác động tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội loài người,
nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển vì đây chính là nơi phát sinh của cuộc
cách mạng này.
Người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới mang đến
cái nhìn đơn giản hơn về Cách mạng Cơng nghiệp 4.0 như sau: "Cách mạng công
nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản xuất. Cuộc
cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách

4


mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thơng tin để tự động hóa sản xuất. Bây
giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba,
nó kết hợp các cơng nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và
sinh học".
Khi so sánh với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, 4.0 đang tiến
triển theo một hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Hơn nữa, nó đang
phá vỡ hầu hết ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Và chiều rộng và chiều sâu của
những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý
và quản trị. [1]
Ngồi ra trên thế giới cịn xảy ra các hiện tượng tự nhiên gây ảnh hưởng đến
Kinh tế – Xã hội.
Biến đổi khí hậu: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng
nghiêm trọng. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển
dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn
hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt
dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm,…
Cạn kiệt tài nguyên: một khi nguồn tài nguyên thiên nhiên tích lũy hàng tỷ

năm cạn kiệt thì khơng cách nào tái tạo được, đặc biệt nguồn năng lượng hóa thạch.
Thế giới đang đứng trước nỗi lo một khi các mỏ dầu, mỏ khí đốt tự nhiên, than đá
cạn kiệt, nhân loại sẽ xoay xở ra sao để duy trì cuộc sống.
Ơ nhiễm mơi trường: Ơ nhiễm môi trường sẽ phá hủy môi trường, mất căn
b ng sinh thái, tạo điều kiện cho sinh vật có hại phát triển, gây đột biến cho các sinh
vật, gây một số bệnh di truyền và bệnh ung thư, ảnh hưởng tới sức khỏe của sinh vật
và con người.
Từ bối cảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đòi hỏi nước ta
phải đổi mới một nền giáo dục tiên tiến để tạo ra được nguồn nhân lực chất lượng
cao với mong muốn có thể đuổi kịp các quốc gia phát triển trên thế giới. [1]
1.1.3. Lược sử ra đời chương trình phổ thơng mới
Cuối tháng 2/2017, dự thảo chương trình phổ thơng mới đã được Hội đồng
thẩm định xem xét, thông qua với khuyến nghị sửa chữa, bổ sung một số chi tiết.
Ngay sau đó, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định thành lập Ban phát triển các
chương trình mơn học và hoạt động giáo dục. Ban này đã bắt tay vào khởi thảo các
chương trình và cho tới nay đã hoàn thành dự thảo lần một.

5


Đồng thời, ban tổ chức hội thảo để lấy ý kiến của chuyên gia tư vấn quốc tế
và trong nước về 18 chương trình mơn học và hoạt động giáo dục, trên cơ sở đó
chỉnh lý, hồn thành dự thảo lần thứ hai.
Dự thảo lần này sẽ tiếp tục xin ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý
giáo dục và giáo viên để hồn thiện trước khi trình Ban chỉ đạo đổi mới chương
trình, giáo dục phổ thơng của Bộ GD&ĐT.
Nếu được đồng ý, các dự thảo chương trình mơn học và hoạt động giáo dục
sẽ được cơng bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT và các phương tiện
thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và các tầng lớp nhân
dân (dự kiến vào khoảng nửa cuối 10/2017).

Chiều ngày 3/5/2018, Bộ GD&ĐT và Ban soạn thảo Chương trình phổ
thơng mới đã công bố các thông tin liên quan đến kết quả thực nghiệm và khảo sát
ý kiến các giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về Dự thảo các chương trình mơn học
mới.
Ban soạn thảo Chương trình phổ thông mới cho biết: Phần lớn các bài học
thực nghiệm đã xác định đúng những yêu cầu cần đạt; chú trọng tổ chức các hoạt
động học tập, tương tác cho học sinh.
Tuy nhiên, quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Một số u cầu cần đạt của
chương trình cịn cao so với trình độ của học sinh; nội dung một số bài thực nghiệm
tương đối khó; vẫn cịn nặng về trang bị kiến thức, nên chưa tạo điều kiện cho học
sinh thực hiện các hoạt động khám phá, luyện tập và vận dụng kiến thức vào đời
sống.
Ban phát triển chương trình đã phân tích kết quả thực nghiệm, để tiếp thu và
chỉnh sửa chương trình từng mơn học cho phù hợp với tình hình thực tế.
Quá trình thực nghiệm cũng cho thấy: Nhiều giáo viên đã vận dụng tốt
phương pháp tổ chức hoạt động, trao quyền chủ động cho học sinh, sử dụng hình
thức trị chơi, hình thức thảo luận nhóm, thảo luận cặp đơi... để học sinh học một
cách thoải mái, hứng thú.
Chương trình giáo dục phổ thơng (GDPT) tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi
mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua ngày 27/7/2018:
Thay đổi lớn nhất so với dự thảo cũ n m ở kế hoạch giáo dục, đặc biệt là ở tên gọi
các môn học cũng như thời lượng học tập của từng môn. Đây là căn cứ để xây dựng
dự thảo các chương trình mơn học và hoạt động giáo dục.

6


Chiều ngày 27/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức họp báo cơng bố
việc triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.
Theo Nghị quyết 51: "Thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình,

sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đảm bảo tuần tự trong từng cấp học, chậm
nhất từ năm học 2020-2021 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ năm học 20212022 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học cơ sở và từ năm học 2022-2023 đối với
lớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông".
Cuối tháng 9/2018 vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định sẽ lùi thời
gian thực hiện đổi mới chương trình sách giáo khoa đối với lớp 1 từ năm học 20202021 thay vì 2019-2020 như dự kiến.
Thay vào đó, chương trình mới sẽ được áp dụng vào thời hạn chậm nhất mà
Quốc hội cho phép, tức là từ năm học 2020-2021.
Lý do Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra là trước mắt, vẫn cịn hàng loạt cơng
việc tiếp theo phải thực hiện như thông báo để các tổ chức, cá nhân tham gia đăng
ký viết sách giáo khoa; nghiên cứu chương trình để biên soạn sách; thẩm định, phê
duyệt rồi mới phát hành sách giáo khoa.
Chưa kể, sau khi có sách giáo khoa cũng cần có thời gian để các nhà trường,
giáo viên, học sinh và phụ huynh tìm hiểu, dạy học thử nghiệm để có thể lựa chọn
bộ sách phù hợp nhất. [1]
1. 2. Những điểm mới của chƣơng trình phổ thơng tổng thể
1.2.1. Phương pháp xây dựng chương trình
a. Chương trình phổ thơng mới vận dụng phương pháp sơ đồ ngược (Backmapping).
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông thường, khi xây dựng chương trình theo
định hướng tiếp cận nội dung, các chuyên gia xuất phát từ hệ thống kiến thức của
mơn học, từ đó những kiến thức được cho là cần thiết đối với học sinh phổ thông sẽ
đưa vào chương trình. Nhưng với định hướng tiếp cận năng lực theo yêu cầu mới,
việc xây dựng chương trình đã xuất phát từ phân tích bối cảnh trong nước và quốc
tế. Trên cơ sở đó, Ban phát triển chương trình giáo dục phổ thơng đã xác định năng
lực cần hình thành, phát triển ở học sinh, tức là chuẩn đầu ra của chương trình. Từ
chuẩn đầu ra, xác định những nội dung cần dạy, từ đó phân bổ thời lượng dạy học,
xác định phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục. Đó là

7



phương pháp sơ đồ ngược, thường được áp dụng trong xây dựng chương trình giáo
dục theo định hướng tiếp cận năng lực:
Phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp đánh giá.
Nội dung dạy học.
Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực.
Mục tiêu giáo dục phổ thông.
Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.
Nhu cầu phát triển đất nƣớc.
Bối cảnh thời đại.
Điểm hoàn tồn mới trong chương trình đổi mới giáo dục sắp được triển
khai là lần đầu tiên, ngành giáo dục đưa ra được mơ hình “sản phẩm” tương lai của
mình.
Cụ thể, theo chương trình giáo dục phổ thơng tổng thể, chương trình giáo dục
sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi.
b. Chương trình phổ thơng mới vận dụng RIA (Regulatory Impact
Assessment).
Về phương pháp xây dựng chương trình, chương trình phổ thơng mới cịn áp
dụng phương pháp đánh giá tác động chính sách (RIA):

8


Dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật (Regulatory Impact
Assessment - RIA) là phương pháp đánh giá những tác động có thể xảy ra từ sự
thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong quá trình xây dựng luật,
sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật hoặc ban hành chính sách mới.
Đây thực chất là q trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá các giải pháp, lựa
chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền, để có thể lựa chọn giải
pháp tốt nhất. Nhà quản lý cần phải biết quy định mới tác động đến các đối tượng
điều chỉnh như thế nào, có đạt được mục tiêu của quy định pháp lý và chính sách

chung hay khơng. Nhà hoạch định chính sách cũng cần phải biết khi chính sách
được ban hành sẽ thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển kinh tế. Sẽ ảnh hưởng đến
môi trường, xã hội như thế nào, dự tính cái được và cái mất nếu áp dụng quy định.
RIA sẽ giúp làm việc đó. Xét cho cùng, dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm
pháp luật là quá trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Có cần ban hành một văn bản
quy phạm để giải quyết vấn đề đặt ra hay không? Nếu có, nội dung của văn bản đó
là gì? Nếu khơng, giải pháp nào có thể thay thế? Các nhà hoạch định chính sách có
thể lựa chọn các giải pháp thay thế như: Không ban hành hoặc thực thi bất kỳ quy
phạm pháp luật nào đối với vấn đề đã xác định; Không ban hành quy định mới
nhưng thực thi tốt hơn, hiệu quả hơn những quy định hiện hành liên quan đến vấn
đề đó; Thay đổi cách thức điều tiết, quản lý nhà nước...
Tầm quan trọng của RIA:
Như vậy, dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất
lớn đối với việc cải thiện hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước và nền kinh tế, bởi
lẽ q trình này giúp phân tích, xác định chi phí và lợi ích của các giải pháp quản lý

9


nhà nước, từ đó, sử dụng các biện pháp hợp lý với chi phí thấp nhất, giảm được
nguy cơ thất bại của chính sách.
Bên cạnh đó, trong q trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp
luật, cơ quan chịu trách nhiệm dự báo sẽ tham vấn và trao đổi với các nhóm lợi ích
khác nhau liên quan đến chính sách, pháp luật. Điều đó sẽ giúp tăng cường tính
minh bạch của chính sách, giúp củng cố niềm tin của người dân vào pháp luật và
hoạt động quản lý nhà nước.
Quá trình dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật còn giúp và cải
thiện phối hợp chính sách giữa các bộ và cơ quan Chính phủ, giúp liên kết và thống
nhất về mục tiêu của các chính sách ban hành trong các lĩnh vực (kinh tế, xã hội và
mơi trường), qua đó, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của chính sách.

Một trong những tác động quan trọng nhất của quá trình dự báo tác động điều
chỉnh của quy phạm pháp luật là giúp thay đổi văn hóa và tư duy quản lý nhà nước.
Cơ quan hoạch định có thể giảm những can thiệp khơng cần thiết và các quy định
mang tính hình thức, qua đó, tăng trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước đối
với dân chúng và xã hội. Điều đó đã thúc đẩy văn hoá quản lý nhà nước theo hướng
phục vụ hơn là kiểm sốt và xây dựng một Chính phủ năng động; sử dụng các
phương pháp quản lý hợp lý hơn, phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
Nếu được thực hiện tốt, RIA cũng sẽ nâng cao hiệu quả của các quyết định liên
quan đến quản lý nhà nước, qua đó, giảm các quy định chất lượng thấp và khơng
cần thiết.
Áp dụng RIA vào xây dựng chương trình phổ thơng mới:
Chương trình GDPT là một văn bản có giá trị pháp lý nh m điều chỉnh hành
vi xã hội để giải quyết một vấn đề lớn liên quan đến nhiều người dân trong một giai
đoạn xác định, đó là chính sách. Vì vậy, Chương trình giáo dục phổ thơng mới cũng
được xây dựng theo quy trình của xây dựng chính sách, nghĩa là có nghiên cứu đánh
giá tác động. Bất cứ điểm mới của chương trình đều phải có nghiên cứu đánh giá tác
động tới giáo viên, học sinh, ngân sách và xã hội thì mới có thể quyết định.Vì vậy,
chương trình giáo dục phổ thơng cần được vận dụng phương pháp RIA để đánh giá
được những tác động có thể xảy ra từ sự thay đổi chính sách này. Quy trình này có 5
bước: đánh giá việc thực thi chính sách hiện hành; đề xuất chính sách mới; đánh giá
tác động của chính sách mới; điều chỉnh và ban hành chính sách mới; chỉ đạo thực
thi chính sách. Trong lần thay đổi chương trình năm 2001, chúng ta xây dựng

10


chương trình xong mới viết sách giáo khoa thực nghiệm, dạy thực nghiệm sách giáo
khoa xong mới quay trở lại điều chỉnh và ban hành chương trình, sách giáo khoa
chính thức. Theo em, dạy thực nghiệm chỉ là một trong những cách đánh giá tác
động, ngồi ra cịn phải thực hiện nhiều cách đánh giá tác động khác như: khảo sát

thực tế, phỏng vấn, điều tra ý kiến cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và
học sinh,... Việc đánh giá tác động diễn ra suốt trong quá trình xây dựng chương
trình, như vậy sẽ bảo đảm tính khả thi của chương trình và rút ngắn được thời gian
dạy thực nghiệm. [1]
1.2.2. Chương trình theo hướng trang bị năng lực, phẩm chất cho học sinh
a. Phẩm chất và chƣơng trình giáo dục phát triển phẩm chất
Khái niệm phẩm chất
Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lý học, chỉ đặc điểm sẵn có của
cơ thể như hệ thần kinh, các giác quan và cơ quan vận động. Đặc điểm sẵn có là cơ
sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm lý và thuộc tính tâm lý.
Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ các đặc điểm tâm lý như: tính cách, ý chí,
hứng thú, tính khí, phong cách của con người.
Có 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành ở người học: Yêu nước; Nhân ái;
Chăm chỉ; Trung thực; Trách nhiệm.
Các phẩm chất đều được cụ thể hóa b ng những biểu hiện cụ thể của học
sinh cần đạt được ở từng cấp học, được ghi trong Chương trình phổ thơng tổng thể
ban hành ngày 28/7/2017.
Ví dụ: Phẩm chất Trung thực:
Ở cấp tiểu học biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Thật thà, ngay
thẳng trong học tập và lao động; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình trước người
thân, bạn bè, thầy cơ và những người khác. Khơng nói dối; luôn giữ lời hứa với
người thân, bạn bè, thầy cô và những người khác; mạnh dạn nhận lỗi, nhận thiếu sót
của bản thân. Khơng tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy cô và
những người khác. Khơng đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập
và trong cuộc sống.
Ở cấp THCS biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Ln thống nhất
giữa lời nói với việc làm. Nghiêm khắc nhìn nhận những khuyết điểm của bản thân
và chịu trách nhiệm về mọi lời nói, hành vi của bản thân. Tôn trọng lẽ phải; bảo vệ

11



điều hay, lẽ phải trước người thân, bạn bè, thầy cô và mọi người. Không xâm phạm
của công. Phê phán các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống.
Ở cấp THPT biểu hiện cụ thể của học sinh cần đạt được là: Nhận thức và
hành động theo lẽ phải. Sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, bảo vệ người tốt, điều
tốt. Có ý thức tham gia và vận động người khác tham gia phát hiện, đấu tranh với
các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống.
Căn cứ xác định phẩm chất
Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998)
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và
CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thốt khỏi nghèo nàn lạc hậu, đồn kết với
nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hịa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
tiến bộ xã hội.
Có ý thức tập thể, đồn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.
Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân
nghĩa, tôn trọng kỉ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và
cải thiện môi trường sinh thái.
Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, sáng tạo, nǎng
suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chun mơn, trình độ
thẩm mĩ và thể lực.
Như vậy từ Nghị quyết 5/ TW khóa VIII (1998) rút ra được những phẩm
chất cần hình thành là: Yêu nước, Nhân nghĩa, Cần kiệm, Trung thực, Kỉ cương.
Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014)
Nêu lên 7 đặc tính: u nước, Nhân ái, Nghĩa tình, Trung thực, Đồn kết,
Cần cù, Sáng tạo.
Bao gồm cả năng lực (Sáng tạo).
Một số đặc tính trùng nhau: Nhân ái – Nghĩa tình – Đồn kết.
Như vậy từ Nghị quyết 33/ TW khóa XI (2014) rút ra được những phẩm chất

cần hình thành là: Yêu nước, Nhân ái, Cần cù, Trung thực.
Năm điều Bác Hồ dạy

12


Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào;
Học tập tốt, lao động tốt;
Đồn kết tốt, kỉ luật tốt;
Giữ gìn vệ sinh thật tốt;
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
Năm điều Bác Hồ dạy đều dễ hiểu, dễ nhớ, rất phù hợp với học sinh. Tuy
nhiên, đây là 5 nhiệm vụ, không phải là tên gọi các phẩm chất (trừ điều 1, điều 5).
Các mơn học có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành phẩm chất
cho học sinh theo đặc thù của từng mơn.
Ví dụ:
Lịch sử là một mơn khoa học, việc nghiên cứu giảng dạy lịch sử ở trường
phổ thông gắn liền với nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ, phục vụ các chế độ chính trị
khác nhau. Việc dạy học lịch sử được coi trọng vì “Con người tương lai phải nắm
vững kiến thức lịch sử dân tộc và thế giới để có thể giúp họ trở thành người chủ có
ý thức trên hành tinh chúng ta, tức là giúp họ hiểu r ng: sống và lao động để làm
gì?…Đánh giá đúng giai đoạn lịch sử nhân loại và dân tộc mình…”. Do vậy, mơn
Lịch sử ở trường phổ thơng có vị trí chức năng và nhiệm vụ quan trọng để đào tạo,
giáo dục thế hệ trẻ có lịng u nước và có trách nhiệm với tương lai đất nước.
Mơn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông đề cập và giải quyết
một cách toàn diện hệ thống tri thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam
trong thời đại mới. Chủ đề mà môn Giáo dục công dân đề cập bao hàm từ những cái
gần gũi, thiết thực trong đời thường cá nhân, công dân, gia đình, xã hội,… đến
những vẫn đề lớn hơn như quốc gia, nhân loại; từ những vấn đề thường nhật đến
những vấn đề mang tính lý luận, trừu tượng khái quát như triết học, logic học, từ

những hiểu biết về cuộc sống đến thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng xã hội chủ
nghĩa, cộng sản chủ nghĩa… Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực
tiếp, mơn Giáo dục công dân giúp học sinh trả lời một cách khoa học đúng đắn câu
hỏi: Sống để làm gì? Sống như thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí của người
cơng dân của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do vậy, môn Giáo dục
công dân ở trường phổ thơng giúp hình thành ở học sinh những phẩm chất như yêu
nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm.

13


b. Năng lực và chƣơng trình phát triển năng lực
Khái niệm năng lực
Theo Chương trình phổ thơng tổng thể thì năng lực là thuộc tính cá nhân
được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và q trình học tập, rèn luyện, cho
phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân
khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất
định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Có 10 năng lực cốt lõi cần hình thành ở học sinh gồm 3 năng lực chung và 7
năng lực chuyên môn.
Các năng lực chung là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp
tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Những năng lực này sẽ được tất cả các
môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển.
Ví dụ: Năng lực tự chủ và tự học được biểu hiện cụ thể qua các khả năng của
học sinh như: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm
sốt tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng nghề nghiệp và Tự học, tự
hoàn thiện. Cụ thể, khả năng Tự lực của học sinh được biểu hiện như sau:
Ở cấp tiểu học: Tự làm được những việc của mình ở nhà và ở trường theo sự
phân cơng, hướng dẫn.
Ở cấp THCS: Biết chủ động, tích cự thực hiện những công việc của bản thân

trong học tập và trong cuộc sống, khơng đồng tình với những hành vi sống dựa
dẫm, ỷ lại.
Ở cấp THPT: Biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự lực.
Các năng lực chuyên môn gồm năng lực ngôn ngữ, năng lực tính tốn, năng
lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm
mỹ, năng lực thể chất. Các năng lực chun mơn này được hình thành, phát triển
chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định.
Ví dụ: Năng lực tính tốn được biểu hiện cụ thể qua các khả năng của học
sinh như: Khả năng hiểu biết kiến thức tốn học phổ thơng cơ bản, khả năng biết
cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính tốn, ước lượng, sử dụng các cơng
cụ tính tốn và dụng cụ đo,…;đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có
ý nghĩa tốn học. Cụ thể, khả năng hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản
của học sinh được biểu hiện như sau:

14


Ở cấp tiểu học: Có những kiến thức và kỹ năng toán học cơ bản ban đầu về:
Số học (số tự nhiên, phân số, số thập phân) và thực hành tính tốn với các số; Các
đại lượng thơng dụng và đo lường các đại lượng thông dụng; Một số yếu tố hình
học và thống kê đơn giản.
Ở cấp THCS: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; về ngôn ngữ
và ký hiệu đại số; về ngôn ngữ và ký hiệu hàm số. Biết thực hiện các phép tính
(cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, khai căn) trong học tập và trong cuộc sống. Có
những kiến thức cơ bản về hình học và biết sử dụng chúng để mơ tả các đối tượng
của thế giới xung quanh. Có hiểu biết về đo lường, ước lượng trong tính tốn với
các tình huống quen thuộc. Có những kiến thức cơ bản về biểu diễn và phân tích số
liệu thống kê; về khái niệm xác suất cổ điển và ý nghĩa trong thực tiễn.
Ở cấp THPT: Có những kiến thức cơ bản về số và hệ thống số; biết sử dụng
thành thạo các phép tính và các cơng cụ tính tốn. Có những kiến thức cơ bản về

Đại số. Hiểu biết một cách có hệ thống các hàm số quen thuộc; biết khảo sát hàm số
và vẽ đồ thị hàm số b ng cơng cụ đạo hàm. Biết sử dụng tích phân để tính tốn diện
tích hình phẳng và thể tích vật thể trong khơng gian. Có những kiến thức cơ bản về
hình học và biết sử dụng chúng để mơ tả các đối tượng của thế giới xung quanh.
Hiểu các phương pháp cơ bản của thống kê và xác suất cổ điển.
Căn cứ xác định năng lực
Tài liệu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2005) (Xác định
và lựa chọn các năng lực cốt lõi).
Sử dụng một cách tương tác các phương tiện thông tin và công cụ, bao gồm:
khả năng sử dụng tương tác ngôn ngữ, kí hiệu và văn bản; khả năng sử dụng tương
tác tri thức và thông tin; khả năng sử dụng tương tác các cơng nghệ.
Tương tác trong các nhóm khơng đồng nhất, bao gồm: khả năng duy trì các
mối quan hệ tốt với những người khác; khả năng hợp tác; khả năng giải quyết các
xung đột.
Khả năng hành động tự chủ, bao gồm: khả năng hành động trong các nhóm
phức hợp; khả năng tổ chức và thực hiện các kế hoạch về cuộc sống và dự án cá
nhân; khả năng nhận thức các quyền, lợi ích, giới hạn và nhu cầu cá nhân.
Tài liệu của Liên minh Châu Âu EU (2006) (Các năng lực cốt lõi để học tập
suốt đời – Một khung tham chiếu châu Âu).

15


Đưa ra 8 năng lực cốt lõi: Giao tiếp b ng tiếng mẹ đẻ; Giao tiếp b ng tiếng
nước ngoài; NL toán học và NL trong khoa học tự nhiên và công nghệ; NL kĩ thuật
số; NL học tập (học cách học); NL xã hội và công dân; Sáng kiến và tinh thần kinh
doanh; Ý thức văn hóa và khả năng biểu đạt văn hóa.
Tài liệu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF (2015) (Tầm nhìn mới về giáo
dục: Mở khóa cho tiềm năng cơng nghệ). Đưa ra ba nhóm kỹ năng của thế kỷ 21:
Văn hóa nền tảng, bao gồm: văn hóa nền tảng về đọc viết, văn hóa nền tảng

về tính tốn, văn hóa nền tảng về khoa học, văn hóa nền tảng về cơng nghệ thơng
tin, văn hóa nền tảng về tài chính, văn hóa nền tảng về công dân và xã hội.
Năng lực, bao gồm: tư duy phản biện/giải quyết vấn đề, sáng tạo, giao tiếp,
hợp tác.
Phẩm chất, bao gồm: ham tìm hiểu, sáng kiến, kiên trì/dũng cảm, thích ứng,
lãnh đạo, hiểu biết về xã hội và văn hóa.
Nhóm (1): tương tự 8 năng lực của EU (2006).
Nhóm (2): tương tự 3 nhóm của OECD (2005).
Nhóm (3): lẫn lộn phẩm chất, năng lực (sáng kiến, thích ứng, lãnh đạo, hiểu
biết). [1]
Các mơn học có nhiệm vụ quan trọng trong việc hình thành năng lực
cho học sinh theo đặc thù của từng mơn.
Ví dụ:
Chương trình Hóa học phổ thông cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến
thức PT cơ bản thiết thực về Hóa học, hình thành ở các em một số kĩ năng thực
hành Hóa học cơ bản nhất. Học sinh có được một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ
bản, thiết thực đầu tiên về Hóa học bao gồm những khái niệm cơ bản, định luật, học
thuyết, một số chất Hóa học quan trọng. Hình thành một số kĩ năng thao tác với chất
hóa học, với dụng cụ, thiết bị hóa học đơn giản. Biết quan sát và giải thích một số
hiện tượng hóa học trong tự nhiên. Biết giải bài tốn hóa học theo cơng thức và
phương trình hóa học. Có thói quen học tập và làm việc khoa học. Như vậy, ngồi
các năng lực chung và chun mơn, mơn Hóa học cịn góp phần hình thành các
năng lực đặc thù của Hóa học như: Năng lực nhận thức kiến thức hóa học, năng lực
tìm tịi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học và năng lực vận dụng
kiến thức hóa học vào thực tiễn.

16


1.2.3. Chương trình mới chú trọng định hướng nghề nghiệp

Trong Chương trình phổ thơng hiện hành, việc định hướng nghề nghiệp chưa
được chú trọng, khiến cho một số học sinh khơng xác định được ngành nghề mình
u thích để chuẩn bị hành trang vững chắc từ ban đầu. Dẫn đến nhiều em phải thay
đổi khối thi vào phút chót, chọn nhầm ngành nghề khơng mong muốn, tình trạng
thất nghiệp và làm trái ngành sau đại học nguyên nhân chủ yếu đều là do các em
khơng có đam mê với ngành nghề mình đã chọn. Tại một số trường phổ thơng cũng
có một số hoạt động mang tính định hướng nghề nghiệp như các buổi ngoại khóa
hướng nghiệp cho học sinh, tổ chức cho học sinh lớp 12 nghe hướng nghiệp và trao
đổi những thắc mắc về quá trình xét tuyển vào đại học tại các trường đại học, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khối 10 và phân chia các lớp theo nguyện
vọng chọn khối thi của học sinh,… Tuy nhiên, những hoạt động mang tính định
hướng nghề nghiệp này chỉ được áp dụng tại một số trường chứ chưa phải tồn
diện, tích cực và khơng mang tính bắt buộc. Do vậy, trong Chương trình phổ thơng
mới, việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh sẽ mang tính chất bắt buộc.
Chương trình giáo dục phổ thơng mới dự kiến bắt đầu triển khai từ năm học
2020-2021 sẽ được chia làm hai giai đoạn: giáo dục cơ bản (9 năm, gồm bậc tiểu
học và trung học cơ sở) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (ba năm trung học phổ
thông).
Ở giai đoạn giáo dục cơ bản, học sinh sẽ phải học bắt buộc 11 nội dung giáo
dục, gồm 10 môn học và hoạt động trải nghiệm, và hai môn tự chọn là Ngoại ngữ và
Tiếng dân tộc thiểu số.
Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12),
bên cạnh một số môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn
những môn học và chuyên đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng
nghề nghiệp của mình (5 mơn học bắt buộc nhưng học sinh sẽ phải chọn 5 môn
trong số các môn tự chọn). Chương trình GDPT mới bảo đảm định hướng thống
nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng
thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc
lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục, triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp
với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục.

Cụ thể, lớp 10 sẽ được coi là lớp dự hướng giúp học sinh có được sự chuẩn
bị để chọn hướng nghề nghiệp cho đúng. Lớp 11 và 12 là giáo dục định hướng nghề

17


nghiệp, đảm bảo học sinh tiếp cận nghề nghiệp, đào tạo có chất lượng sau THPT.
Cụ thể, ngồi một số mơn bắt buộc như giáo dục quốc phịng, giáo dục thể chất,
hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh bậc THPT chỉ phải chọn 5 mơn trong số
các mơn cịn lại để phù hợp với định hướng nghề nghiệp. Cùng với đó, các mơn bắt
buộc cũng thiên về hoạt động thực tế hơn là học lý thuyết.
Nội dung cơ bản của hoạt động hướng nghiệp xoay quanh các mối quan hệ
giữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xã
hội; giữa học sinh với nghề nghiệp. Từ đó hình thành nên định hướng ban đầu về
nghề nghiệp tương lai mà các em theo đuổi để lên bậc Đại học các em có thể chọn
đúng trường, đúng ngành.
Ví dụ:
Trong Chương trình trung học phổ thơng, ngồi các mơn học bắt buộc, học
sinh được tự chọn các tổ hợp môn như: Tự chọn 1 bao gồm môn Nghiên cứu khoa
học kỹ thuật, Ngoại ngữ 2 hay Tự chọn 3 bao gồm Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao,
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (lớp 10, 11, 12) và Chuyên đề học tập (lớp 11, 12).
Như vậy, tùy theo sở trường và sở thích về cơng việc tương lai mà các em chọn thì
các em có thể chọn tổ hợp mơn tương ứng. Ví dụ các em muốn làm kỹ sư, kiến trúc
sư hay phiên dịch viên… các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 1; các em muốn làm
ca sĩ, học sĩ, vận động viên… thì các em có thể chọn tổ hợp Tự chọn 3.
Trong các chuyên đề học tập của các môn cũng mang tính định hướng nghề
nghiệp trong đó. Ví dụ như mơn Hóa học có các chun đề như: Chun đề Hóa
học và Cơng nghệ thơng tin; Chun đề Trải nghiệm, thực hành: Tìm hiểu q trình
thủ cơng tái chế nhơm và tạo vật dụng từ nhơm tái chế, Tìm hiểu công nghiệp
silicate,… Như vậy, mỗi chuyên đề sẽ định hướng cho các em những nghề nghiệp

khác nhau cùng với những lĩnh vực khác nhau như Công nghệ thông tin hay Cơng
nghiệp…
Trong Chương trình phổ thơng mới có thêm một nội dung hồn tồn mới đó
là giáo dục của địa phương, nội dung này cũng góp phần định hướng nghề nghiệp
cho học sinh. Ví dụ như ở địa phương các em có nhiều khu cơng nghiệp, nhiều nhà
máy lớn… thì sẽ định hướng các em theo ngành công nghiệp; nếu địa phương các
em ở gần rừng thì sẽ định hướng các em theo ngành lâm nghiệp; nếu ở địa phương
của các em có truyền thống theo nghề làm nơng thì sẽ định hướng các em theo
ngành nông nghiệp…

18


1.2.4. Chươg trình phổ thơng mới có tính tích hợp và phân hóa
a. Tích hợp trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới
Trong tự nhiên và xã hội, mọi sự vật và hiện tượng là một thể thống nhất.
Việc chia ra các lĩnh vực khoa học (hay các môn học) là để nghiên cứu sâu sự vật và
hiện tượng ở từng phương diện nhất định. Tuy nhiên, khi giải quyết một vấn đề của
thực tiễn (tự nhiên hay xã hội) thì khơng chỉ cần tới hiểu biết về một phương diện
nào đó mà cần kiến thức tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Mặt
khác, kho tàng kiến thức của nhân loại càng ngày càng tăng trong khi thời gian học
tập ở nhà trường phổ thơng thì có hạn, giáo dục phổ thơng cần có giải pháp thích
hợp để giải quyết mâu thuẫn này. Chính vì vậy, từ hàng chục năm nay, các nước có
nền giáo dục tiên tiến đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó có dạy học tích hợp, mà
mức cao nhất là xây dựng các mơn học tích hợp. Giải pháp này phù hợp với yêu cầu
phát triển năng lực của người học, bởi vì năng lực là kết quả huy động tổng hợp các
nguồn lực để thực hiện thành công các hoạt động thực tiễn, dạy học tích hợp giúp
học sinh rút ngắn q trình tổng hợp này, đồng thời góp phần "giảm tải" chương
trình.
Nghị quyết 88 của Quốc Hội 13 đã xác định rõ u cầu tích hợp trong

chương trình giáo dục phổ thông mới: “Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực
hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục,
một số mơn học trong chương trình hiện hành để tạo thành mơn học tích hợp; thực
hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục,…”. Việc dạy học tích hợp cần
thực hiện đồng bộ, từ xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa, phương
pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá. Ở đây chỉ nói về tích hợp trong chương trình.
Chủ trương dạy học tích hợp trong chương trình mới có một số điểm khác so
với chương trình hiện hành như: tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùng
một mơn học, xây dựng một số mơn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thần
chung là tích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hoá dần ở các lớp học trên; yêu
cầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểm
tra, đánh giá giáo dục.
Trước hết, định hướng tích hợp được thể hiện ngay trong nội bộ mỗi mơn
học, chẳng hạn trong chương trình mơn Ngữ văn sẽ có sự tích hợp giữa các kỹ năng
đọc, viết, nói và nghe; tích hợp giữa kiến thức văn học và kiến thức tiếng Việt trong
quá trình dạy học các kỹ năng này. Các môn học khác cũng tùy vào đặc điểm và

19


tính chất mơn học mà thực hiện u cầu tích hợp giữa các phân môn, các phần của
mỗi môn học. Việc tích hợp trong chương trình các mơn học cũng khơng chỉ thể
hiện ở nội dung dạy học mà cịn ở cả yêu cầu cần đạt (chuẩn đầu ra).
Ngoài yêu cầu tích hợp nội mơn, chương trình mới cịn thực hiện ở các mơn
học tích hợp. Trong chương trình cấp tiểu học hiện hành, các môn Tự nhiên và Xã
hội ở các lớp 1, 2, 3; môn Lịch sử và Địa lý, môn Khoa học ở các lớp 4, 5 vốn đã có
tính tích hợp. Trong chương trình giáo dục phổ thơng mới, tính tích hợp trong
những mơn học này sẽ thể hiện đậm nét hơn thông qua các chủ đề chung giữa các
phân mơn.
Chương trình cấp Trung học cơ sở lần này khác chương trình hiện hành là có

một số mơn tích hợp, đó là mơn Lịch sử và Địa lý và môn Khoa học tự nhiên. Việc
thực hiện tích hợp được thiết kế ở mức thấp. Cụ thể các phân môn trong Khoa học
tự nhiên cũng như trong Lịch sử và Địa lý không phải là sự lắp ghép cơ học. Trong
chương trình của mỗi mơn, các mạch nội dung có sự kết nối ở mức có thể để: tránh
trùng lặp; kiến thức và kỹ năng của phân môn này giúp làm sáng rõ hơn kiến thức
và kỹ năng của phân môn kia; giúp học sinh vận dụng các kiến thức, kỹ năng của
từng phân môn để giải quyết các vấn đề đòi hỏi cách tiếp cận liên mơn.
Với chương trình mơn Khoa học tự nhiên, nội dung sẽ cố gắng tập trung thiết
kế thành các chủ đề lớn như vật chất, vật sống, năng lượng và sự biến đổi, trái đất
và bầu trời. Các kiến thức và kỹ năng Vật lý, Hóa, học, Sinh học đều được triển
khai trong phạm vi những chủ đề này.
Với chương trình môn Lịch sử và Địa lý, nội dung cũng được thiết kế thành
hai mạch tương đối độc lập, nhưng cố gắng kết nối để giáo viên và học sinh thấy
được mối liên hệ giữa lịch sử và địa lý thông qua việc tìm hiểu, khám phá các sự
kiện trong thời gian và khơng gian. Ngồi ra tính chất tích hợp của mơn học này cịn
được thể hiện ở một số chủ đề chung như Khám phá các dịng sơng lớn trên thế
giới, Văn minh châu thổ sông Hồng, Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam, Đơ
thị,...
Cuối cùng việc tích hợp trong chương trình giáo dục mới thể hiện ở yêu cầu
tất cả các môn đều phải lồng ghép một số nội dung (chủ đề xun mơn) giáo dục
mang tính cấp thiết, có ý nghĩa dân tộc và tồn cầu như giáo dục bình đẳng giới,
giáo dục tài chính- kinh doanh, chủ quyền biển đảo, môi trường và phát triển bền
vững… [1]

20


×