Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

THỰC TRẠNG VỀ QUI MÔ VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NHCT HÀ TÂY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.99 KB, 26 trang )

THỰC TRẠNG VỀ QUI MÔ VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY ĐỐI VỚI
KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NHCT HÀ
TÂY.
I - Khái quát về tình hình hoạt động của chi nhánh NHCT Hà Tây
1. Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh NHCT Hà Tây.
Ngân hàng Công thương Hà Tây là một chi nhánh của Ngân hàng Công
thương Việt Nam có trụ sở tại thị xã Hà Đông Tỉnh Hà Tây. Được thành lập tháng
7/1988 và chính thức đi vào hoạt động tháng 8/1988 với nhiệm vụ huy động vốn
trong xã hội và thực hiện những dịch vụ Ngân hàng nhằm mục đích thu lợi nhuận,
ổn định và phát triển kinh tế trên địa bàn Tỉnh Hà Tây.
Cơ chế thị trường từng ngày từng giờ đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải tự
thích nghi, tạo cho mình một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Nhận rõ điều đó,
Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên Ngân hàng Công thương Hà Tây
đã không ngừng học hỏi kinh nghiệm của các Ngân hàng bạn, tổng kết và rút ra
kinh nghiệm khắc phục những mặt chưa đạt được, tận dụng các lợi thế về vốn,
khoa học kỹ thuật của toàn hệ thống từ đó phát triển hoạt động kinh doanh của
mình.
Với lợi thế nằm ngay tại trung tâm thị xã Hà Đông, là tỉnh tiếp giáp với Hà
Nội, song kinh tế Hà Tây chủ yếu là phát triển nông nghiệp, công nghiệp địa
phương chậm phát triển. Trong điều kiện đó NHCT Hà Tây gặp phải sự cạnh tranh
khá gay gắt của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo
đúng đắn của ban giám đốc và sự nỗ lực của các phòng ban, kết quả là đến nay chi
nhánh NHCT Hà Tây đã có hơn 860 khách hàng có quan hệ tín dụng, trong đó có
hơn 26 khách hàng là doanh nghiệp nhà nước (Tổng công ty Sông Đà là khách
hàng lớn và thường xuyên của NHCT Hà Tây).
Khác với các Ngân hàng khác, Ngân hàng Công thương Hà Tây không có
các chi nhánh ở các huyện lỵ. Do vậy để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và
nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn, Ngân hàng mở rộng các phòng giao
dịch và quỹ tiết kiệm ở thị xã Hà đông và một phòng giao dịch tại thị trấn Xuân
Mai. Hội sở chính của Ngân hàng tại số 269 Phố Quang Trung thị xã Hà Đông
Tỉnh Hà Tây. Hiện nay, mạng lưới các chi nhánh có 1 chi nhánh trực thuộc (đó là


chi nhánh Sông Nhuệ vừa được thành lập tháng 11 năm 2001), 4 phòng giao dịch,
16 quỹ tiết kiệm và 7 phòng tại hội sở gồm 237 lao động theo hợp đồng không xác
định thời hạn và một số lao động theo hợp đồng vụ việc.
Có thể nói NHCT Hà Tây nhiều năm liên tục kinh doanh có lãi, được xếp
loại kinh doanh khá của NHCT Việt Nam. Năm 2001 chi nhánh NHCT Hà Tây đạt
lợi nhuận 4.116 triệu đồng bằng 250% so với năm 2000. Đời sống cán bộ công
nhân viên không ngừng được cải thiện. Uy tín Ngân hàng ngày càng được nâng
cao.
Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng.
*Ban giám đốc bao gồm: Một Giám đốc và ba phó giám đốc.
*Phòng tổ chức hành chính. Phòng tổ chức hành chính gồm 35 cán bộ công
nhân viên, trong đó có một trưởng phòng và một phó phòng.
* Phòng kinh doanh. Hiện nay phòng kinh doanh có 23 cán bộ công nhân
viên chức, có 1 trưởng phòng và 4 phó phòng.
* Phòng kế toán. Một trưởng phòng và ba phó phòng. Hai phó phòng phụ
trách kế toán ngân hàng (kế toán chi tiêu, bù trừ). Một phó phòng phụ trách kế toán
tiết kiệm.
* Phòng thanh toán quốc tế.
* Phòng tiền tệ kho quỹ. Một trưởng phòng và hai phó phòng. Một phó
phòng phụ trách việc thu tiền và một phó phòng phụ trách việc chi tiền.
* Phòng kiểm soát.
* Tổ máy vi tính: Tổ máy vi tính từ đầu năm 2001 đã được sát nhập vào
phòng kế toán.
* Các phòng giao dịch .
Ngân hàng hiện có 4 phòng giao dịch và một chi nhánh Sông Nhuệ trực
thuộc.
Trong hoạt động hàng ngày, giữa các phòng có mối quan hệ mật thiết với
nhau để đạt cho được mục đích của toàn Ngân hàng Công thương Hà Tây là: Phát
triển - An toàn - Hiệu quả.
* Phòng nguồn vốn: Còn gọi là phòng quản lý tiền gửi dân cư, hiện có 4

người gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng.
Giữa các phòng ban và các bộ phận luôn có sự phối hợp chặt chẽ, cùng hoạt
động thống nhất dưới sự lãnh đạo sát sao của ban giám đốc chi nhánh, theo định
hướng chung của Ngân hàng Công thương Việt Nam để đạt tới hiệu quả cao nhất.
Ngân hàng Công thương Hà Tây liên tục trong nhiều năm gần đây đã đạt
mức lợi nhuận vượt kế hoạch, năm sau cao hơn năm trước, cùng với các Ngân
hàng khác trong địa bàn phục vụ đầy đủ kịp thời và có hiệu quả nhu cầu vốn, tạo
môi trường cho các thành phần kinh tế phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần
đưa nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, củng cố vai
trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân.
2. Tình hình hoạt động của chi nhánh NHCT Hà Tây trong thời gian
qua.
2.1. Khái quát chung.
NHCT Hà Tây từ một chi nhánh Ngân hàng Nhà nước được chuyển sang
một chi nhánh Ngân hàng Thương mại, NHCT Hà Tây đã phấn đấu thực hiện tốt
chức năng nhiệm vụ được giao, kết quả kinh doanh ngày càng được nâng cao.
NHCT Hà Tây đã chú trọng đổi mới trong mọi lĩnh vực hoạt động nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, vừa phát huy nghiệp vụ truyền
thống của Ngân hàng. Đồng thời mở rộng hoạt động kinh doanh như kinh doanh
ngoại tệ, chiết khấu chứng từ, bảo lãnh mua bán hàng, chuyển tiền nhanh trong cả
nước, thanh toán quốc tế, chi lương cho công nhân sản xuất trong các nhà máy liên
doanh, tổ chức thu tiền mặt tại các đơn vị có lượng tiền mặt thu lớn...Sau 12 năm
đi vào hoạt động, đến nay NHCT Hà Tây đã khẳng định được vị trí của mình trên
thương trường, đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường.
Tuy nhiên trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế của nước ta có
nhiều biến động, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp, có cả
một số doanh nghiệp nhà nước rơi vào tình trạng làm ăn thua lỗ. Tình trạng phổ
biến là các doanh nghiệp sử dụng các thiết bị máy móc lạc hậu, năng suất chất
lượng kém không đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập và các sản phẩm của
công ty liên doanh; trình độ cán bộ quản lý còn non yếu.

Trong điều kiện hoạt động kinh doanh hiện nay Ngân hàng gặp nhiều khó
khăn và phức tạp, cán bộ lãnh đạo của Ngân hàng Công thương Hà Tây đã có sự
chỉ đạo kịp thời để định hướng kinh doanh, tập trung vào nhiều khách hàng truyền
thống của Ngân hàng, hạn chế bớt những khách hàng có tình hình tài chính không
lành mạnh và đã hỗ trợ cho nhiều khách hàng vượt qua tình hình khó khăn, đồng
thời tích cực chỉ đạo giải quyết những tồn tại từ năm trước. Chính vì vậy mà Ngân
hàng Công thương Hà Tây vẫn kinh doanh có lãi, tuy nhiên vẫn không bằng lòng
với kết quả đạt được, chi nhánh vẫn tiếp tục phát huy và nâng cao hơn nữa chất
lượng kinh doanh góp phần phát triển kinh tế của Tỉnh Hà Tây với mục tiêu chung
"Kinh tế phát triển, an toàn vốn, tôn trọng pháp luật". Hoạt động huy động và sử
dụng vốn là hai hoạt động chủ yếu trong quá trình kinh doanh tiền tệ của một Ngân
hàng thương mại. Tuy nhiên dựa vào đặc điểm, điều kiện kinh doanh cũng như
chính sách Nhà nước, địa bàn ... của từng Ngân hàng mà hoạt động nào chiếm ưu
thế hơn. Một Ngân hàng hoạt động có hiệu quả khi các nguồn vốn huy động được
sử dụng có sinh lời. Vì vậy ta đi nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Công thương Hà Tây.
2.2. Tình hình huy động vốn.
Ngân hàng thương mại chỉ có thể đạt kết quả kinh doanh cao khi tổ chức tốt
công tác huy dộng vốn. Trong những năm qua Ngân hàng Công thương Hà Tây đã
nỗ lực trong công tác huy động vốn bằng việc mở thêm các phòng giao dịch, mở
rộng mạng lưới các quỹ tiết kiệm cho phù hợp với địa bàn dân cư thị xã Hà Đông
và các khu vực giáp ranh với Hà nội, tuyên truyền mở tài khoản cá nhân, áp dụng
nhiều biện pháp gửi tiền vừa linh hoạt vừa hiệu quả, đơn giản hoá thủ tục gửi tiền...
Các hình thức huy động vốn chủ yếu được áp dụng trong thời gian qua tại
Ngân hàng Công thương Hà Tây (do Ngân hàng Công thương Việt Nam quy định):
Nhận tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn của dân cư.
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
Kì phiếu có mục đích (3 tháng,6 tháng).
Để nắm được hoạt động huy động vốn của Ngân hàng trong những năm gần
đây chúng ta sẽ xem xét và phân tích một cách chi tiết các chỉ tiêu ở bảng 1.

Trước hết chúng ta xem xét tính hình huy động vốn từng năm. Tính đến 31/
12/ 1999 Ngân hàng công thương Hà Tây đã huy động được 323.163 triệu đồng
tiền gửi tiết kiệm chiếm 81,17% tổng số vốn huy động; 72.832 triệu đồng tiền gửi
các tổ chức kinh tế chiếm 18,29% tổng số vốn huy động; 2.130 triệu đồng kỳ phiếu
và trái phiếu chiếm 0,54% tổng số vốn huy động; nhưng nguồn huy động khác
không có. Tổng cộng nguồn vốn huy động đạt 398.125 triệu đồng.
Đến 31/ 12/ 2000, tiền gửi tiết kiệm tăng hơn so với năm 1999 là 38.607
triệu đồng, chiếm 79,63% so với tổng nguồn vốn huy động. Tiền gửi của các tổ
chức kinh tế cũng tăng hơn so với năm 1999 là 19.689 triệu đồng, chiếm 20,37%
so với tổng nguồn vốn huy động. Nhưng lượng vốn huy động bằng kỳ phiếu, trái
phiếu cùng các nguồn huy động khác là không có. So với năm 1999, về tỷ trọng thì
tiền gửi tiết kiệm có giảm xuống nhưng lượng tiền huy động được lại tăng hơn.
Đến 31/ 12/ 2001, tiền gửi tiết kiệm tăng 75.633 trđ so với năm 2000, chiếm
68,84% so với tổng nguồn vốn huy động. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế cũng
tăng 74.912 trđ chiếm 26,35% so với tổng nguồn vốn huy động. Nguồn huy động
từ trái phiếu và kỳ phiếu cũng tăng 18.296 trđ chiếm 2,88%. Về trái phiếu năm
2000 không có vì năm này nhà nước không huy động trái phiếu. Do năm này Ngân
hàng đã huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư vốn của mình. Còn năm 2001
tình hình huy động vốn bằng kỳ phiếu và trái phiếu tăng do ngân hàng cần tăng
cường vốn để phục vụ nhu cầu cho vay. Một sự thay đổi rõ rệt nhất là nguồn huy
động khác từ không có đã tăng lên là 12.285 trđ, chiếm 1,93% so với tổng nguồn
vốn huy động.
Bảng 1: Tình hình huy động vốn của NHCT Hà Tây.
Đơn vị tính: Triệu đồng.
31/12/1999 31/12/2000 31/12/2001
Khoản mục Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng
(%)
Số tiền Tỷ trọng
(%)
1. Tiền gửi tiết

kiệm
323.163 81,17 361.770 79,63 437.403 68,84
2. Tiền gửi các
TCKT
72.832 18,29 92.521 20,37 167.433 26,35
3. Kỳ phiếu,
trái phiếu
2.130 0,54 0 0 18.296 2,88
4. Nguồn huy
động khác
0 0 0 0 12.285 1,93
Tổng 398.125 100 454.291 100 635.417 100
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHCT Hà Tây).
Qua báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng Công thương Hà Tây ta
nhận thấy nguồn vốn của Ngân hàng luôn gia tăng. Năm 2000 tăng lên 56.166 triệu
đồng so với năm 1999, năm 2001 tăng thêm 181.126 triệu đồng so với năm 2000.
Như vậy có một điểm chung là nguồn vốn huy động tăng qua các năm đều có sự
đóng góp lớn của sự gia tăng tiền gửi tiết kiệm.
Từ việc phân tích trên ta thấy việc cho vay của Ngân hàng Công thương Hà
Tây thực tế là từ nguồn huy động tiết kiệm là chủ yếu. Tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm
chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động, một mặt tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư tín dụng, mặt khác chứng tỏ Ngân hàng đang phải chịu một khoản
chi phí về trả lãi cho các khoản tiền gửi trên. Vì vậy Ngân hàng cần phải đầu tư có
lợi nhuận để đảm bảo được khả năng thanh toán của mình và khả năng có lãi nhất.
Trong khi đó các khoản tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm một tỷ trọng
nhỏ. Với những số liệu trên ta thấy được tình hình kinh doanh của các tổ chức kinh
tế, khi tình hình kinh doanh phát triển thì tiền gửi và việc thanh toán qua Ngân
hàng của các tổ chức kinh tế cũng dồi dào, lúc đó các doanh nghiệp sẽ mở tài
khoản để thanh toán với người cung cấp qua Ngân hàng (với bạn hàng hay đối với
cán bộ công nhân viên....). NHCT Hà Tây hoạt động trên địa bàn tập trung nhiều

nhà máy, xí nghiệp công nghiệp lớn của tỉnh, các doanh nghiệp tư nhân và các hợp
tác xã. Nói chung các tổ chức kinh tế trong khu vực này cũng có những bước phát
triển tốt hơn trong hai năm trở về đây nhưng không phải là tất cả bởi vì vẫn là các
doanh nghiệp có mức vốn tự có thấp, công nghệ lạc hậu chậm đổi mới, tình trạng
vốn nhỏ nên không có khả năng mở rộng môi trường kinh doanh cho mình. Mặt
khác còn phải cạnh tranh với nhiều mặt hàng của các khu vực khác và của nước
ngoài nhất là đối với các mặt hàng nhập lậu trốn thuế.
Chính vì vậy, Ngân hàng Công thương Hà Tây đã cố gắng thu hút tối đa
nguồn tiền này vì đây là nguồn tiền huy động có chi phí thấp nhất bởi vì mục đích
gửi tiền là để thanh toán chứ không phải để sinh lời. NHCT Hà Tây đã đơn giản
hoá các thủ tục mở tài khoản, đổi mới phong cách làm việc: thực hiện thanh toán
nhanh, chính xác, đáp ứng mọi nhu cầu thanh toán của khách hàng bằng tiền mặt,...
tạo cho khách hàng có một tâm lý thoải mái, tin tưởng khi đến giao dịch tại Ngân
hàng. Như vậy, tiền gửi của các tổ chức kinh tế ở Ngân hàng này ngày một tăng
chứng tỏ là Ngân hàng đã thực hiện cải cách đúng đắn và có thể là do nhà nước
đang mở rộng phát triển các khu đô thị vệ tinh.
Còn đối với tiền huy động bằng kỳ phiếu, trái phiếu tăng giảm bất thường.
Cách huy động này chỉ được Ngân hàng thực hiện có mục đích thường có kỳ hạn 3
tháng, 6 tháng. Trong một năm chỉ thực hiện được một lần hoặc không có lần nào,
phụ thuộc vào nhu cầu của Ngân hàng. Chỉ khi nào Ngân hàng cần vốn nhanh thì
Ngân hàng mới phát hành kỳ phiếu. Tỷ trọng của khoản mục này có hiện tượng
tăng giảm bất thường do lượng tiền gửi tiết kiệm trong dân cư ngày một tăng, trong
khi đó nguồn vốn huy động không được sử dụng còn tồn đọng nhiều nên khi cần
một khoản vốn nhanh thì Ngân hàng cũng đã có, do vậy mà việc huy động theo
cách này không gia tăng.
Tóm lại, qua các năm trên thì tình hình huy động vốn của Ngân hàng Công
thương Hà Tây được đẩy mạnh, có hiệu quả cao, thu hút được vốn huy động lớn,
có nhiều quan hệ tốt với khách hàng.
2.3. Tình hình cho vay .
Trong nền kinh tế thị trường các ngân hàng thương mại không chỉ làm chức

năng trung gian tài chính một cách đơn thuần mà chủ yếu nhằm tìm kiếm lợi
nhuận, nguồn lợi nhuận lớn nhất của ngân hàng thương mại là lãi thu được từ hoạt
động cho vay. Các ngân hàng thương mại huy động vốn với mức lãi thấp sau đó
cho vay vốn với lãi suất cao hơn hoặc đầu tư vào mua cổ phiếu trái phiếu để kiếm
lợi nhuận. Do vậy muốn kinh doanh có lãi bên cạnh việc có nguồn vốn dồi dào, với
chi phí đầu vào thấp, các ngân hàng thương mại còn phải đầu tư công sức để sử
dụng vốn đó một cách hiệu quả nhất.
Tại chi nhánh NHCT Hà Tây với định hướng chiến lược kinh doanh là phát
triển dư nợ lành mạnh, tập trung vào các tổng công ty 90, 91 và các đơn vị thành
viên, các doanh nghiệp của tỉnh, các hộ sản xuất kinh doanh của các làng nghề
truyền thống. Chú trọng đầu tư cho các dự án, nhằm thực hiện công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước, Tỉnh
Uỷ và UBND tỉnh Hà Tây. Đặc biệt là các dự án phát triển du lịch tại các khu du
lịch của tỉnh như sân gôn Đồng Mô, làng văn hoá các dân tộc Việt Nam, khu
Khoang Xanh, Suối Mơ...Thực hiện chiến lược đó, đến nay chi nhánh NHCT Hà
Tây đã có hơn 860 khách hàng có quan hệ tín dụng, trong đó có hơn 26 khách hàng
là doanh nghiệp nhà nước, còn lại là các thành phần thuộc khu vực ngoài quốc
doanh.
Bảng 2: Tình hình cho vay vốn của NHCT Hà Tây qua các năm.
Đơn vị tính: triệu đồng.
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 So sánh So sánh
Doanh số Doanh số Doanh số 2000/1999 2001/2000
1. Doanh số
cho vay.
299.071 419.011 686.737 140,1% 163,8%
2. Doanh số
thu nợ
272.934 363.864 434.834 133,3% 119,5%
3. Dư nợ cho
vay 31/12.

185.092 235.476 487.379 127,2% 206,9%
(Nguồn: Báo cáo KQHĐKD của NHCT Hà Tây).
Qua số liệu bảng 2: tình hình cho vay vốn, năm 1999 doanh số cho vay đạt
299.071 triệu đồng. Năm 2000 tăng 119.940 triệu đồng bằng 140,1% so với năm
1999. Năm 2001 lại tăng 267.726 triệu đồng bằng 163,8% so với năm 2000.
Doanh số thu nợ cũng tăng: năm 1999 doanh số thu nợ đạt 272.934 triệu
đồng. Năm 2000 doanh số này tăng lên 90.930 triệu đồng bằng 133,3% so với năm
1999. Năm 2001 lại tăng 70.970 triệu đồng bằng 119,5% so với năm 2000.
Xét về chỉ tiêu dư nợ đối với nền kinh tế ta thấy: dư nợ tín dụng đều tăng
qua các năm. Năm 1999 dư nợ mới đạt 185.092 triệu đồng , năm 2000 đạt 235.476
triệu đồng tăng 50.384 triệu đồng, tỷ lệ tăng 27,2% so với 31/12/1999. Năm 2001
là năm có tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cao nhất từ trước đến nay.
Qua số liệu tình hình cho vay của NHCT Hà Tây ta thấy doanh số cho vay
của ngân hàng tăng qua các năm 1999, 2000, 2001. Doanh số thu nợ cũng tăng
tương ứng. Bên cạnh đó dư nợ tính đến 31/12 các năm cũng tăng. Điều này chứng
tỏ công tác cho vay của NHCY Hà Tây có chuyển biến tích cực.
Bảng 3: Hiệu quả cho vay của chi nhánh NHCT Hà Tây.
Đơn vị tính: triệu đồng.
Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1. Nguồn huy động vốn 398.125 454.291 635.417
2. Dư nợ cho vay 185.092 235.476 487.379
3. Hiệu suất cho vay (%) 46,49 51,83 76,70
(Nguồn : Báo cáo KQHĐKD của NHCT Hà Tây).
Trên đây ta vừa xem xét phần cho vay của NHCT Hà Tây. Nếu ta đặt hai chỉ
tiêu nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay cạnh nhau thì ta thấy có nhiều vấn đề
cần phải lưu ý. (Xem bảng 3). Có thể thấy NHCT Hà Tây năm 1999 và năm 2000
huy động nhiều nhưng chưa sử dụng hết nguồn vốn huy động đó vào mục đích cho
vay. Hiệu suất cho vay qua hai năm đó còn thấp, năm 1999 hiệu suất của năm
1999 là 46,49 % cho vay chưa được một nửa số vốn huy động. Năm 2000 hiệu suất
này tăng lên là 51,83% tình hình cho vay có thay đổi, ngân hàng đã cho vay được

hơn năm 1999, tuy nhiên tỷ lệ vẫn chưa cao. Như vậy có thể nói hai năm 1999 và
2000 NHCT Hà Tây luôn thừa vốn khoảng trên 40%. Năm 2001 thì hiệu suất cho
vay của ngân hàng đã tăng đột biến là 76,70%, nguồn vốn huy động đã được cho
vay là chủ yếu, phần vốn thừa không chiếm tỷ lệ nhiều. Là một chi nhánh của
Ngân hàng công thương Việt Nam nên phần vốn thừa của các năm đều được điều
chuyển lên quỹ điều hoà bằng lãi suất huy động bình quân là 0,15%/ tháng. Nhìn
chung phần vốn huy động thừa này không hề ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của
ngân hàng nhưng nó chứng tỏ một điều rằng khả năng mở rộng thị trường tín dụng
của ngân hàng công thương Hà Tây còn rất lớn.
Tóm lại: Qua phân tích tình hình kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Công
thương Hà Tây thông qua hai nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay vốn ta
thấy lợi thế của Ngân hàng là nguồn vốn huy động dồi dào, ổn định song hoạt động
cho vay vốn lại chưa phát huy được lợi thế đó. Tình hình hoạt động kinh doanh nói
chung của Ngân hàng còn chưa sôi động, các khoản vay còn cầm chừng. Nguyên
nhân từ thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều phía, từ chính sách vĩ mô của Nhà nước,
chính sách tín dụng của Ngân hàng và do điều kiện của môi trường kinh tế.
Qua số liệu tổng hợp của Ngân hàng Hà Tây có thể thấy rằng ngân hàng có
rất nhiều tiềm năng để phát triển cho vay đối với các thành phần kinh tế, đặc biệt là
cho vay kinh tế ngoài quốc doanh. Để mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay ngoài
quốc doanh của NHCT Hà Tây, chúng ta cần phải xem xét đến các số liệu và tình
hình cho vay ngoài quốc doanh của ngân hàng. Từ đó chúng ta mới có những giải
pháp để nâng cao hoạt động này.
II. Thực trạng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại chi
nhánh NHCT Hà Tây.
1. Tình hình cho vay kinh tế ngoài quốc doanh của NHCT Hà Tây.
Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi các nhà
kinh doanh ngân hàng phải đón đầu, hoà nhập với sự chuyển biến phức tạp của thị
trường sản xuất hàng hoá, môi trường kinh tế, xã hội, chính trị pháp luật hiện hành.
Mục tiêu luôn quán triết các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, công
nhận sự tồn tại của mọi thành phần kinh tế đặc biệt thành phần kinh tế ngoài quốc

doanh. Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, quy mô và
lĩnh vực của các ngành nghề thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn
Hà Tây đã mở ra một thị trường tín dụng rộng lớn và hấp dẫn đối với NHCT Hà
Tây. Vì vậy, có thể nhận xét khách quan rằng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là
một thị trường khách hàng lớn và ẩn chứa nhiều tiềm năng cũng như triển vọng đối
với ngân hàng. Song vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn và nan giải.
Bên cạnh đó, việc ban hành các quyết định của thống đốc NHNN:
- Số 296 /1999/QĐ - NHNN 5 ra ngày 25 tháng 8 năm 1999 về giới hạn cho
vay đối với khách hàng của tổ chức tín dụng
- số 297/1999/QĐ - NHNN 5 ra ngày 25 tháng 8 năm 1999 về việc ban hành
“Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng”.
- Quyết định mới nhất số 1627/2001/QĐ - NHNN ra ngày 31 tháng 12 năm
2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,
nhưng vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Việc ban hành nghị định số 178/1999/NĐ - CP ngày 29 tháng 12 năm 1999
về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Thông tư số 06/2000/TT - NHNN 1
ra ngày 4 tháng 4 năm 2000 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 178 /1999/NĐ - CP
ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra còn các quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn của ngân hàng đã

×