Tải bản đầy đủ (.docx) (22 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀN SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (348.06 KB, 22 trang )

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ
THÀN SẢN PHẨM TẠI DOANH NGHIỆP
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG
TY
1. Qua trình hình thành và phát triển Công ty
Công ty Giầy Thuỵ Khuê Hà Nội ( trước đó là xí nghiệp Giầy Thuỵ Khuê)
được thành lập tháng 4 năm 1989. Trước khi thành lập, nơi đây chỉ là một phân
xưởng giầy của Xí nghiệp Giầy vải Thượng Đình. Nhưng chính nơi đây cũng là
một cơ sở SX giầy vải tiền thân của xí nghiệp giầy vải Hà Nội. Như vậy tuy tuổi
đời chưa cao, nhưng bề dày lịch sử của Công ty đã nghi nhiều thành tích cho
nền công nghiệp Hà Nội.
- Năm 1956, từ chỗ là một PX sản xuất tràn cục của Tổng cục Hậu cần
quân đội được thành lập với tên gọi là Xí nghiệp giầy vải Hà Nội trực thuộc Cục
Công nghiệp Hà Nội ( nay là cơ sở Công nghiệp Hà Nội). Năm 1978 sát nhập
với xí nghiệp giầy vải Thượng Đình mang tên Xí nghiệp giầy vải Thượng Đình.
- Ngày 1 - 4 - 1989 được UBND thành phố Hà Nội ra quyết định số 93
QĐUB tách ra thành lập riêng mang tên Xí nghiệp Giầy vải Thụy Khuê và đến
tháng 8 - 1993 được UBND thành phố Hà Nôi ra quyết định 2558 cho phép đổi
thành Công ty giầy Thuỵ Khuê Hà Nội.
- Khi được UBND thành phố quyết định thành lập tháng 4 - 1989, Công ty
giầy Thuỵ Khuê chỉ có 458 CBCNV và 2 PXXS, một số dẫy nhà xưởng hầu hết
là nhà cấp bốn cũ nát, thiêt bị máy móc cũ kỹ, già cỗi, lạc hậu, SX chủ yếu bằng
phương pháp thủ công, sản lượng mỗi năm đạt trên 400.000 sản phẩm, phần lớn
là sản phẩm cấp thấp.
Sau khi được thành lập, Công ty đã đầu tư nhiều cho phát triển SX, cụ thể
như sau:
- Xây dựng trên 200.000 m
2
nhà xưởng cao ráo, thoáng mát, nhập dây
chuyền sản xuất của Đài Loan, công suất mỗi năm đạt từ 2.000.000 đôi giầy dép
các loại trở lên. Sản phẩm của Công ty hầu hết giầy dép nữ trang, phục vụ xuất


khẩu gồm giầy vải thể thao, giầy da nam, giầy dép nữ thời trang, đảm bảo mức
tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước.
Năm 1994 : SX 1.235.000 đôi, trong đó có 1.000.500 đôi xuất khẩu
Năm 1995 : SX 1.255.000 đôi, trong đó có 1.022.000 đôi xuất khẩu
Năm 1996 : SX 1.429.657 đôi, trong đó có 1.109117 đôi xuất khẩu.
Năm 1997 : SX 2.000.000 đôi, trong đó có 1.800.000 đôi xuất khẩu
- Về lao động, năm 1990, số CBCNV của Công tylà 450 người, năm 1992
là 480 người, năm 1992 là 720 người, năm 1993 là 810 người, năm 1994 là
1140 người, năm 1995 là 1250 người, năm 1996 là 1036 CBCNV trong đó có
95 cán bộ quản lý ( thì 35 tốt nghiệp đại học, cao đẳng).
- Ngoài kế hoạch của Công ty la trong năm 1997 sẽ thành lập một Công ty
cổ phần xây dựng khách sạn tại khu vực 152 Thuỵ Khuê để đưa vào kinh doanh
dịch vụ, du lịch.
- Tính đến đầu năm 1997, một số chỉ tiêu kinh tế tại DN như sau:
Nguyên giá TSCĐ khấu hao: 14.606.647.683 đồng
Tài sản lưu động : 22.822.486.901 đồng
Đầu tư cho XDCB: 5.117.258.175 đồng
Tổng tài sản : 39.069.396.542 đồng
Tổng doanh thu năm 1996 : 41.982.192.530 đồng
Trong đó doanh thu xuất khẩu : 39.641.442.846 đồng
Nộp ngân sách nhà nước:
Kế hoạch 1997, Công ty hy vọng sản xuất được khoảng 2.000.000 đôi giầy
dép các loại. Ngoài ra Công ty cũng chú trọng đến việc liên doanh, hợp tác với
nứơc ngoài. Tự bản thân Công ty đã đầu tư đổi mới công nghệ SX, cải thiện
điều kiện cho công nhân lao động trên 11 tỷ đồng. không kể đâu tư cho xây
dựng, cũng như cải tạo nhà xưởng SX. Nhờ vậy Công ty có tiền đề vững chắc
để tham gia các hợp đồng liên doanh với Công ty nước ngoài.
Năm 1992: Liên doanh hợp tác với Công ty Hai Thal - Thái lan.
Năm 1992: Liên doanh với Công ty Chaiming - Đài Loan
Năm 1992 : Liên doanh Công ty ASE - Hàn Quốc.

Vừa qua tiếp tục hợp tác với hãng Yenkee - Đài Loan.
Do chú trọng về công tác này, cộng với Công ty thường xuyên mạnh công
tác kỹ thuật, áp dụg tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào sản xuất. Sản phẩm
của Công ty ngày càng khẳng định chổ đứng của mình trên thi trường cạnh
tranh ngày càng gay gắt trong và ngoài nước ưu chuộng và tiêu thụ nhanh trên
thị trường. Với đà phát triển này chắc chắn Công ty sẽ phát triển và có thêm
nhiều bạn hàng mới.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công Ty
Công ty giầy thuỵ khê chuyên sản xuất các mặt hàng giầy dép các loại
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Sản phẩm của công ty được sản
xuất trên dây chuyền hiện đại , theo hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn
ISO 9002. Công ty sản xuất các mặt hàng giầy vảI như : giầy vảI nữ , giầy vảI
nam, giầy vảI trẻ em .Mộu mã sản phẩm công ty phong phú đa dạng .Do vậy
mức tăng trưởng hàng năm cao , xuất khẩu sang các nước như Singapore , Nhật
…, công ty liên tục được thành phố Hà Nội , Bộ công nghiệp tặng bằng khen về
các hoạt động sản xuất kinh doanh
3. Bộ máy quản lý của Công ty
Để quản lý sản xuất và điều hành mọi hoạt động SXKD, các doanh nghiệp
đều phải tổ chức bộ máy quản lý tuỳ thuộc vào qui mô, loại hình Doanh nghiệp,
đặc điểm và điều kiện SX cụ thể mà Doanh nghiệp thành lập ra các bộ phận
quản lý thích hợp được gọi là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý.
Công ty giầy Thuỵ Khê là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, bộ máy
quản lý của công ty đượ tổ chức thành các phòng, ban, thực hiện các chức năng
quản lý nhất định. Bao gồm:
*Ban giám đốc: Gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc điều hành
- Giám đốc là chủ DN đứng đầu bộ máy quản lý của công ty, chịu trách
nhiệm chỉ huy toàn bộ bộ máy quản lý, ngoài việc uỷ quyền trách nhiệm cho
các phó giám đốc điều hành, giám đốc còn trực tiếp chỉ huy thông qua trưởng
phòng của các phòng.
- Phó giám đốc điều hành: Có nhiệm vụ trực tiếp chỉ đạo các bộ phận

được phân công uỷ quyền và giúp việc cho giám đốc
* Các phòng ban chức năng: Được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý
SXKD, chịu sự chỉ đạo trực tiếp và giúp việc cho Ban giám đốc, đảm bảo lãnh
đạo hoạt động SXKD thông suốt trong toàn công ty. Cụ thể là hệ thống các
phòng ban trong công ty bao gồm:
-Phòng tổ chức
-Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu
- Phòng tài vụ
- Phòng cung tiêu
-Phòng kỹ thuật
-Phòng Hành chính
Nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban là:
- Chấp hành và kiểm tra việc chấp hành các chế độ chính sách của nhà
nước cũng như của công ty, các chỉ thị, mệnh lệnh của giám đốc.
- Tham gia đề xuất với Ban Giám đốc công ty những chủ trương biện pháp
tăng cường công tác quản lý SXKD và giải quyết những khó khăn vướng mắc
trong công ty theo quyền hạn và trách nhiệm của từng phòng.
Với phương pháp quản lý thống nhất từ trên xuống dưới, đồng thời có sự
liên quan phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban, các bộ phận nên công việc điều
hành, quản lý SX tại DN luôn có hiệu quả.
GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PHÓ GIÁM ĐỐCPhụ trách kỹ thuậtPHÓ GIÁM ĐỐCPhụ trách SXKD
Phòng kỹ thuật Phòng Hành chínhPhòng cung tiêuPhòng Tổ chức Phòng Tài VụPhòng KD xuất nhập khẩu
Phân xưởng ChaimingsPhân xưởng cơ điệnPhân xưởngASE Phân xưởng YENKEEBộ phận bối vải
Xưởng may
Xưởng gò
Xưởng gò
Xưởng may Xưởng mayXưởng gò
Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty giầy Thuỵ Khuê
. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán

* Hình thức tổ chức bộ máy kế toán:
Ở công ty Giầy Thuỵ Khuê, phòng kế toán tài vụ là một trong những
phòng quan trọng nhất. Với chức năng quản lý về tài chính, phòng Tài vụ đã
góp phần không nhỏ trong việc hoàn thành kế hoạch SX hàng năm của Công ty.
Có thể nó phòng kế toán - Tài vụ là người trợ lý đắc lực cho giám đốc và lãnh
đạo công ty để đưa ra các quyết định đúng đắn, hiệu quả trong điều hành quản
lý quá trình SXKD, vừa là những người ghi chép, thu thập tổng hợp các thông
tin về tình hình kinh tế, tài chính và hoạt động của công ty một cách chính xác,
kịp thời đầy đủ.
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức SX, tổ chức quản lý của công ty để phù hợp
với đặc điểm của DN, bộ máy kế toán được tổ chức theo hình thức tập trung,
đứng đầu là kế toán trưởng, phòng kế toán - tài vụ chịu sự lãnh đạo chung của
Giám đốc
Theo hình thức tổ chức kế toán tập trung, ở công ty toàn bộ công tác kế
toán - Tài chính được thực hiện trên phòng kế toán - tài vụ của Công ty từ khâu
tổng hợp số liệu, ghi sổ kế toán, lập báo cáo kế toán, phân tích kiểm tra kế toán..
ở các phân xưởng không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ bố trí các nhân
viên hạch toán kinh tế làm nhiệm vụ chuyên thanh toán lương, BHXH cho công
nhân ở PX mình, tổng hợp số liệu về vật liệu xuất dùng và thành phẩm hoàn
thành nhập kho. Về mặt nhân sự, các nhân viên hạch toán kinh tế chịu sự quản
lý của giám đốc công ty, phòng kế toán - tài vụ chỉ hướng dẫn, kiểm tra họ về
mặt chuyên môn, nghiệp vụ.
Hình thức tổ chức này theo tôi là hoàn toàn hợp lý, đảm bảo gắn chặt
quyền lợi và trách nhiệm của nhân viên hạch toán kinh tế với các phân xưởng
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các nhân viên hạch toán kinh tế hoàn
thành nhiệm vụ, đảm bảo chính xác khách quan của số liệu.
*Hình thức kế toán
Để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý kinh tế tài chính, hiện nay công
ty áp dụng hình thức sổ kế toán NK-CT với hệ thống các sổ kế toán chi tiết,
tổng hợp, báo cáo kế toán tương đối đầy đủ.

*Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán:
Trong công ty, phòng kế toán- tài vụ là trung tâm cung cấp những thông tin
về sự vận động của tài sản, cung cấp chính xác và cụ thể những con số thống kê
hàng tháng là căn cứ cho ban lãnh đạo của công ty tổ chức công tác thông tin
kinh tế và phân tích hoạt động kinh tế, hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các bộ
phận trong công ty thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu, chế độ hạch toán,
chế độ quản lý kinh tế tài chính.
Để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, đảm bảo sự lãnh đạo và chỉ đạo tập
trung thống nhất, trực tiếp của kế toán trưởng, đảm bảo sự chuyên môn hoá lao
động của cán bộ kế toán, đồng thời căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ
chức quản lý, yêu cầu và trình độ quản lý, bộ máy kế toán của công ty được tổ
chức như sau:
01 kế toán trưởng (Kiêm kế toán tổng hợp): điều hành công việc chung
trong phòng và kế toán tổng hợp.
01 phó phòng (kiêm kế toán bán hàng, thu nhập và phân phối kết quả): Phụ
trách công tác tài chính -kế toán trong phòng và thay thế kế toán trưởng khi kế
toán trưởng đi vắng.
- Bộ phận kế toán TSCĐ kiêm kế toán bộ bằng tiền
- Bộ phận kế toán hàng tồn kho (vật liệu, CCDC)

×