Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ CÔNG TÁC KHAI THÁC TRONG BH HÀNG HOÁ XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.36 KB, 34 trang )

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XNK VẬN CHUYỂN
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ CÔNG TÁC KHAI THÁC TRONG BH HÀNG
HOÁ XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1.Tổng quan về BH hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển.
1.1.1.Vai trò của vận chuyển bằng đường biển và các loại rủi ro,tổn thất trong
quá trình vận chuyển bằng đường biển.
1.1.1.1.Vai trò của vận chuyển bằng đường biển.
Trong xu thế vận động và phát triển của kinh tế toàn cầu ngày nay,thương
mại ngày càng phát triển mạnh mẽ,đặc biệt là thương mại quốc tế, trong đó vận
chuyển đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối cho sự lưu thông và
phát triển của thương mại quốc tế.Có thể nói “không có thương mại nếu không
có vận chuyển”,đặc biệt là vận chuyển bằng đường biển chiếm khoảng 90%
tổng khối lượng hàng hoá XNK của thế giới.Có rất nhiều lý do khiến vận
chuyển bằng đường biển trở nên phổ biến như vậy:
- Vận chuyển bằng đường biển có thể đảm nhận những khối lượng hàng hoá lớn
với khối lượng lớn mà các phương tiện vận tải khác không làm được chẳng hạn
vận chuyển các loại hàng hoá siêu trường, siêu trọng.
- Hiệu quả sử dụng của các tuyến đường cao vì đường biển rất rộng lớn mà chi
phí đầu tư xây dựng không cao do dựa nhiều vào điều kiện tự nhiên.Cũng chính
vì vậy mà giá thành vận chuyển bằng đường biển thường thấp hơn so với các
phương tiện khác.
- Vận chuyển bằng đường biển còn có đặc thù là trải qua nhiều vùng biển khác
nhau và nhiều nước khác nhau nên nó góp phần phát triển tốt mối quan hệ kinh
tế với các nước và mở rộng quan hệ làm ăn cho các bên,góp phần tăng thu ngoại
tệ cho Nhà Nước.
1.1.1.2.Các loại rủi ro,tổn thất trong vận chuyển bằng đường biển.
 Các loại rủi ro.
Mặc dù vận chuyển bằng đường biển có rất nhiều lợi thế nhưng nó vẫn tồn tại
một số nhược điểm mà nhược điểm lớn nhất chính là khả năng xày ra rủi ro đối
với tàu biển là khá lớn,không những thế giá trị tổn thất khi xảy ra rủi ro cũng rất


cao. Rủi ro ở đây được hiểu là rủi ro hàng hải,đó là những rủi ro do thiên tai, tai
nạn bất ngờ trên biển gây ra làm hư hỏng hàng hoá và phương tiện chuyên
chở.Để tiện cho việc kiểm soát và sử dụng các biện pháp khắc phục người ta
thường phân loại các loại rủi ro theo nguyên nhân, theo đó có rủi ro do thiên tai,
rủi ro do tai nạn bất ngờ trên biển và rủi ro do hành động của con người :
+ Thiên tai là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra như biển động, bão, lốc,
sét,thời tiết quá xấu… mà con người không chống lại được.
+ Tai nạn bất ngờ trên biển:Mắc cạn, đắm tàu, bị phá huỷ, cháy nổ,mất tích,
đâm va với các tàu khác hoặc đâm va với một vật thể nào đó mà không phải là
nước,sự phá hoại của thuyền trưởng và thuỷ thủ trên tàu…
+ Hành động của con người:Ăn trộm, ăn cắp hàng,mất cướp, chiến tranh, đình
công,bắt giữ,tịch thu…
Ngoài ra còn có các rủi ro khác như rủi ro lúc xếp dỡ hàng,hàng bị nhiễm mùi,
lây bẩn…
 Các loại tổn thất.
Rủi ro xảy ra thường gây ra tổn thất đối với hàng hoá được vận chuyển bằng
đường biển, thông thường rủi ro được phân chia theo các cách sau:
- Căn cứ vào mức độ và quy mô, tổn thất đựơc chia thành hai loại:
+ Tổn thất bộ phận (patial loss): Là sự mất mát một phần đối tượng bảo hiểm
thuộc một hợp đồng bảo hiểm. Ví dụ lô hàng 10 tấn đường trong quá trình vận
chuyển bị tổn thất 1 tấn.
+ Tổn thất toàn bộ (total loss): Là hàng hóa bảo hiểm bị mất 100% giá trị hoặc
gía trị sử dụng. Tổn thất toàn bộ gồm 2 loại:
* Loại 1: Tổn thất toàn bộ thực sự (actual total loss) : Là tổn thất mà do hàng
hóa bị phá hủy hoàn toàn hay bị hư hỏng nghiêm trọng không còn là vật phẩm
như cũ hoặc người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu với hàng hóa.
Như vậy tổn thất toàn bộ thực sự có thể là do hàng hóa bảo hiểm bị phá hủy
hoàn toàn như cháy hoặc nổ, hay hàng hóa bị hư hỏng nghiêm trọng như gạo
hay ngô bị thối do ngấm nước hoặc người được bảo hiểm bị tước hẳn quyền
sở hữu đối với hàng hóa như hàng vị mất do mất tích hay do tầu bị đắm.

* Loại 2: Tổn thất toàn bộ ước tính (contructive total loss) : Là tổn thất về
hàng hóa mà không sao tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực sự hay những chi phí
phải bỏ ra để sửa chữa, khôi phục và đưa hàng hóa về bến đến bằng hoặc vượt
quá trị giá hàng hóa.
Tổn thất toàn bộ ước tính gồm 2 dạng:
• Thứ nhất: Chắc chắn tổn thất toàn bộ thực sự sẽ xảy ra, ví dụ một lô
ngô được chở từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường ngô bị ngấm
nước và bắt đầu thối, nếu cố mang về Việt Nam thì ngô sẽ thối hết, tổn
thất toàn bộ thực sự chắc chắn sẽ xảy ra.
• Thứ hai: Xét về tài chính thì coi là tổn thất toàn bộ, ví dụ vận chuyển
sắt thép từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường tàu hỏng máy buộc
phải vào Hồng Kông để sửa chữa. Ðể chữa tàu phải dỡ sắt lên bờ, trong
thời gian chữa phải lưu kho lưu bãi sắt thép, khi chữa xong phải tái xếp
sắt thép xuống tàu và đưa sắt thép về Việt Nam. Tổng các chi phí phải
bỏ ra trong trường hợp này có thể bằng hoặc lớn hơn trị giá bảo hiểm
của sắt thép.
Khi hàng hóa bị tổn thất toàn bộ ước tính, người được bảo hiểm có thể từ bỏ
hàng hóa. Từ bỏ hàng hóa là từ bỏ mọi quyền lợi liên quan đến hàng hóa hay
là sự tự nguyện của người được bảo hiểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa
cho người bảo hiểm để đòi bồi thường toàn bộ. Muốn từ bỏ hàng phải tuân thủ
các quy định sau;
• Một là: Tuyên bố từ bỏ hàng (notice of abandonment - NOA) gửi cho
người bảo hiểm bằng văn bản.
• Hai là: Chỉ từ bỏ khi hàng hóa còn ở dọc đường và chưa bị tổn thất toàn
bộ thực sự.
• Ba là: Khi từ bỏ đã được người bảo hiểm chấp nhận thì không thay đổi
được nữa, sở hữu về hàng hoá thuộc về người bảo hiểm và người được
bảo hiểm được đòi bồi thường toàn bộ.
- Căn cứ vào quyền lợi và trách nhiệm, tổn thất được chia làm hai loại:
+ Tổn thất riêng (particular average) : Là tổn thất của từng quyền lợi bảo

hiểm do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây nên. Ví dụ, dọc đường tàu bị sét đánh
làm hàng hóa của chủ hàng A bị cháy, tổn thất của hàng A là do thiên tai, chủ
hàng A phải tự chịu, hoặc đòi công ty bảo hiểm, không được phan bổ tổn thất
cho chủ tàu và các chủ hàng khác. Tổn thất trong trường hợp này là tổn thất
riêng.
+ Tổn thất chung (general average): Là những thiệt hại xảy ra do những chi
phí hoặc hi sinh đặc biệt được tiến hành một cách cố ý và hợp lý nhằm mục
đích cứu tàu, hàng hóa và cước phí trong một hành trình chung trên biển khỏi
sự nguy hiểm chung đối với chúng.
Tổn thất chung được chia làm 2 bộ phận
* Bộ phận thứ nhất: Hy sinh tổn thất chung : Là những thiệt hại hoặc chi phí
do hậu quả trực tiếp của một hành động tổn thất chung. Ví dụ: Tàu gặp bão
lớn, buộc phải vứt hàng của chủ hàng A xuống biển để cứu toàn bộ hành
trình. Hàng A bị vứt xuống biển là hy sinh tổn thất chung.
* Bộ phận thứ 2: Chi phí tổn thất chung: Phải trả cho người thứ ba trong việc
cứu tàu, hàng, cước phí thoát nạn hoặc chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình.
Những chi phí sau đây được coi là chi phí tổn thất chung; Chi phí tàu ra vào
cảng lánh nạn, chi phí lưu kho lưu bãi tại cảng lánh nạn, chi phí tạm thời sửa
chữa những hư hại của tàu, chi phí tăng thêm về nhiên liệu... do hậu quả của
hành động tổn thất chung.
Các thiệt hại,chi phí hoặc hành động được coi là tổn thất chung khi có các đặc
trưng sau:
• Hành động cứu tàu phải là hành động tự nguyện,hữu ý của người có
quyền hành trên biển là thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền
trưởng.
• Hy sinh hoặc chi phí phải đặc biệt, bất thường.
• Hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung, vì lợi ích chung của
tất cả quyền lợi của các bên liên quan trong cuộc hành trình.
• Nguy cơ đe doạ toàn bộ hành trình phải nghiêm trọng và thực tế.
• Mất mát,thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổn

thất chung.
• TTC phải xảy ra trên biển.
TTC và TTR có những điểm khác nhau: TTR xảy ra một cách ngẫu nhiên và chỉ
ảnh hưởng đến quyền lợi riêng biệt của các bên mà không có sự đóng góp
chung trong khi TTC là cố tình và có sự chia sẻ tổn thất của các bên có liên
quan.TTR có thể xảy ra trên biển hoặc bất kì địa điểm nào khác trong khi TTC
chỉ xảy ra trên biển và đây là loại tổn thất mà công ty bảo hiểm luôn chịu trách
nhiệm bồi thường cho các chủ hàng đối với mức đóng góp của mỗi bên còn đối
với TTR công ty bảo hiểm có bồi thường hay không còn tuỳ vào điều kiện bảo
hiểm.Thông thường khi có TTC xảy ra công ty bảo hiểm phải tiến hành tính
toán mức độ đóng góp tổn thất của các bên để bồi thường hợp lý.
1.1.2.Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển.
Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều
rủi ro và tổn thất khó lường , trong lịch sử đã có không ít các rủi ro gây tổn thất
rất lớn cho các chủ hàng, gây ra những ảnh hưởng rất xấu đến công việc kinh
doanh của họ và con người đã có nhiều biện pháp chống lại những tác động xấu
này nhưng thực tế cho thấy biện pháp hữu hiệu nhất là bảo hiểm. Hình thức sơ
khai ban đầu là các chủ hàng đã tự bảo hiểm cho nhau bằng cách cùng chở hàng
cho nhiều chủ hàng trên một con tàu, như vậy nếu có xảy ra rủi ro tổn thất thì
các chủ hàng sẽ san sẻ tổn thất cho nhau và không ai phải gánh chịu rủi ro một
mình cả, đây là cách làm rất hiệu quả vì vậy nó tiếp tục được nhân rộng và hoàn
thiện dưới dạng các đơn bảo hiểm được cung cấp đa dạng bởi các công ty bảo
hiểm như ngày nay. Vì bảo hiểm có quy mô và phạm vi bảo vệ rộng nên nó có
thể đảm nhận vai trò là tấm lá chắn cho các chủ hàng khỏi những tổn thất lớn về
tài chính mà họ không thể kham nổi. Nếu không có bảo hiểm các chủ hàng có
thể sẽ không thể vực dậy hoạt động kinh doanh của mình khi có những tổn thất
lớn xảy ra, nền kinh tế có thể sẽ gặp phải những biến động lớn khi những tổn
thất mang tính chất thảm hoạ, chính bảo hiểm sẽ là tấm lá chắn che chở cho
hoạt động kinh tế của các chủ thể diễn ra một cách an toàn và thông suốt. Hơn

thế nữa,bảo hiểm cho hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển góp phần
thúc đẩy mối quan hệ kinh tế quốc tế thông qua con đường thương mại và còn
có ảnh hưởng tới vấn đề kinh tế xã hội của cả nước xuất khẩu và nước nhập
khẩu.Chính vì lẽ đó, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu trở thành một vấn đề
quan trọng và cần thiết,trở thành tập quán thương mại quốc tế bắt buộc được áp
dụng rộng rãi trên thế giới ngày nay.
1.1.3.Những nội dung cơ bản của bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu bằng
đường biển.
1.1.3.1.Đối tượng bảo hiểm và trách nhiệm các bên liên quan
Đối tượng được bảo hiểm là hàng hoá xuất nhập khẩu được vận chuyển và xếp
dỡ bằng đường biển có giấy tờ mua bán và nguồn gốc xuất xứ rõ ràng được thể
hiện qua các hợp đồng mua bán,hợp đồng vận chuyển và hợp đồng giao nhận.
Thông thường hoạt động XNK hàng hoá được thực hiện qua 3 loại hợp đồng cụ
thể là:
- Hợp đồng mua bán
- Hợp đồng vận chuyển
- Hợp đồng bảo hiểm
Ba loại hợp đồng này cũng là cơ sở pháp lý để phân định trách nhiệm của các
bên liên quan và trách nhiệm này phụ thuộc vào điều kiện mua hàng của hợp
đồng mua bán.Theo các điều kiện thương mại quốc tế “INCOTERM
2000”(international commercial terms) thì hiện nay có 13 loại điều kiện giao
hàng được chia thành 4 nhóm như sau:
- Nhóm E: EXW(ex-work) nghĩa là điều kiện trong đó hàng xuất đi được bảo
hiểm kể từ khi nó được giao tại cơ sở của người bán
- Nhóm F: Hàng hoá được bảo hiểm không bao gồm cước vận chuyển chính và
bao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ FCA( free carrier ) : hàng được bảo hiểm kể từ khi nó được giao cho người
vận chuyển gọi là điều kiện giao hàng cho người vận chuyển
+ FAS( free alongside ship): hàng hoá được bảo hiểm kể từ khi nó được giao
qua mạn tàu gọi là điều kiện giao hàng dọc mạn tàu.

+ FOB (free on board) : hàng hoá được bảo hiểm khi nó đã nằm trên tàu gọi là
điều kiện giao hàng lên tàu.
- Nhóm C :Hàng hoá được bảo hiểm đã bao gồm cả cước vận chuyển chính và
bao gồm các điều kiện giao hàng cụ thể sau:
+ CFR( Cost and freight): Giá trị bảo hiểm được bao gồm tiền hàng và cước phí
vận chuyển
+ CIF( Cost insurance freight) : Giá trị bảo hiểm bao gồm tiền hàng, phí bảo
hiểm và cước phí.
+ CPT ( carriage paid to…): cước trả tới
+ CIP ( Carriage and insurance paid to…) tiền cước và phí bảo hiểm trả tới.
-Nhóm D: Bảo hiểm cho hàng hoá khi hàng đến, tức là khi người bán đã giao
hàng tại nước người mua, bao gồm:
+ DAF (Delivered at frontier) : bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại biên giới
+ DES ( Delivered ex-ship): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại tàu.
+ DEQ(Delivered ex-quay): bắt đầu bảo hiểm có hiệu lực khi hàng hoá được
giao tại cầu cảng.
+ DDU( Delivered duty paid) : hàng hoá bắt đầu được bảo hiểm khi nó được
giao tại đích và đã nộp thuế cho hải quan.
Trong các điều kiện trên thì điều kiện FOB và điều kiện CIF là được sử dụng
thường xuyên nhất trong đó điều kiện FOB thường được các doanh nghiệp Việt
Nam sử dụng khi xuất khẩu và điều kiện CIF thường được sử dụng khi nhập
khẩu.
Về cơ bản, trách nhiệm của các bên được phân chia như sau:
- Người bán(người xuất khẩu): Chuẩn bị hàng hoá theo đúng hợp đồng về số
lượng, chất lượng, loại hàng,bao bì đóng gói, thời hạn tập kết hàng ở cảng. thủ
tục hải quan, kiểm dịch…
Nếu bán theo giá CIF thì người bán phải mua bảo hiểm cho hàng hoá, sau đó kí
hậu vào đơn bảo hiểm để chuyển nhượng quyền lợi bảo hiểm cho người mua.

- Người mua(người nhập khẩu) :Có trách nhiệm nhận hàng của người chuyên
chở theo đúng số lượng, chất lượng đã ghi trong hợp đồng vận chuyển và hợp
đồng mua bán, lấy giấy chứng nhận kiểm đến. biên bản kết toán giao nhận hàng
với chủ tàu, biên bản hàng hoá hư hỏng đổ vỡ do tàu gây nên (nếu có).
Nếu sai lệch về số lượng, chất lượng với hợp đồng mua bán nhưng đúng đối với
hợp đồng vận chuyển thì người mua bảo lưu quyền khiếu nại đối với người
bán.Nếu phẩm chất, số lượng sai lệch so với biên bản giao hàng thì người mua
căn cứ vào hang hư hỏng do tàu đổ vỡ gây nên mà khiếu nại người vận chuyển.
Ngoài ra, người mua còn có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hoá hoặc nhận
hợp đồng bảo hiểm do người bán chuyển nhượng lại.
- Người vận chuyển: Có trách nhiệm chuẩn bị phương tiện vận chuyển theo yêu
cầu kỹ thuật thương mại và kỹ thuật hàng hải,giao nhận hàng theo đúng quy
định của hợp đồng vận chuyển. Theo tập quán thương mại quốc tế, tàu chở hàng
cũng được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm thân tàu.Ngoài ra, người vận chuyển
còn có trách nhiệm cấp vận đơn cho người gửi hàng. Vận đơn( Bill of Lading)
là một chứng từ vận chuyển hàng trên biển do người vận chuyển cấp cho người
gửi hàng nhằm nói lên mối quan hệ pháp lý giữa người vận chuyển, người gửi
hàng và người nhận hàng.
- Người bảo hiểm có trách nhiệm đối với hàng hoá đăng kí bảo hiểm.Chẳng hạn
kiểm tra chứng từ về hàng hoá,về hành trình và bản thân con tàu vận chuyển…
1.1.3.2.Giá trị bảo hiểm,Số tiền bảo hiểm và Phí bảo hiểm.
 Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm(GTBH) là giá trị thực tế của lô hàng đăng kí tham gia bảo
hiểm,thường là giá CIF,bao gồm : Giá hàng hoá, cước phí vận chuyển,phí bảo
hiểm và các chi phí liên quan khác.Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu khách hàng,
các công ty bảo hiểm còn tổ chức bảo hiểm cho lợi nhuận dự tính của lô hàng.
Giả sử là các hợp đồng bảo hiểm đều bảo hiểm cho cả lô hàng hoá và cả lợi
nhuận thương mại của lô hàng(tối đa 10% giá CIF) thì giá trị bảo hiểm của lô
hàng lớn nhất bằng 110% CIF. Có thể xác định giá trị bảo hiểm( GTBH ) theo
giá CIF theo công thức sau:

V=C+F/1-R
Trong đó:
- V (Value) là GTBH của hàng hoá XNK theo giá CIF
- C(Cost) là giá hàng được tính bằng giá FOB ở cảng đi
- F(freight) là cước phí vận chuyển
- R(rate) là tỷ lệ phí bảo hiểm
Hoặc nếu bảo hiểm theo lãi dự tính thì GTBH = (C+F).(a+1)/1-R
Trong đó a là tỉ lệ phần trăm lãi dự tính của lô hàng so với tổng giá trị của lô
hàng(gồm giá trị hàng hoá và cước phí vận chuyển)
 Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm(STBH ) là số tiền được đăng kí bảo hiểm ghi trong hợp đồng
bảo hiểm,nó được xác định trên cơ sở GTBH . GTBH lại thường được xác định
căn cứ vào hoá đơn hàng hoá.Thường thì có 3 trường hợp sau đây:
-Nếu STBH bằng GTBH thì gọi là bảo hiểm ngang giá trị hay bảo hiểm toàn
phần.
-Nếu STBH cao hơn GTBH thì gọi là bảo hiểm trên giá trị hay bảo hiểm vượt
mức
-Nếu STBH thấp hơn GTBH thì gọi là bảo hiểm dưới giá trị hay bảo hiểm dưới
mức.
Các chủ hàng thường đăng kí bảo hiểm cho hàng hoá theo bảo hiểm ngang giá
trị hoặc thấp hơn giá trị.
 Phí bảo hiểm.
Khi tham gia bảo hiểm, người tham gia phải trả cho nhà bảo hiểm một khoản
phí gọi là phí bảo hiểm để nhà bảo hiểm bảo hiểm cho những rủi ro mà hàng
hoá có thể gặp phải.Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở STBH và tỷ lệ phí
bảo hiểm.Phí bảo hiểm(P) được xác định như sau:
P = Sb.R
Trong đó:
- Sb là STBH
- R là Tỷ lệ phí bảo hiểm được tính toán dựa trên các điều kiện liên quan đến

đối tượng bảo hiểm như GTBH, điều kiện bảo hiểm, mức khấu trừ, hạn mức
trách nhiệm của các công ty bảo hiểm v.v…
Như đã nói ở trên,vì các chủ hàng thường mua bảo hiểm ngang giá trị nên phí
bảo hiểm có thể được xác định theo công thức :
P=CIF.R(nếu không có phần bảo hiểm thêm cho lãi dự tính)
Hoặc P=CIF.(a+1).R(nếu bảo hiểm thêm phần lãi dự tính a)
Tỷ lệ phí bảo hiểm R được thoả thuận và quy định trong hợp đồng bảo hiểm.Tỷ
lệ này phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại hàng hoá:Hàng dễ bị tổn thất nhưng dễ vỡ,dễ bị mất cắp thì tỉ lệ phí bảo
hiểm sẽ cao hơn.
- Loại bao bì:Bao bì càng chắc chắn thì tỷ lệ phí bảo hiểm càng hạ
- Phương tiện vận chuyển cũng là một nhân tố quan trọng quyết định đến tỷ lệ
phí bảo hiểm:hàng hoá được chở trên tàu trẻ và có chất lượng chuyên chở tốt sẽ
có tỉ lệ phí bảo hiểm thấp hơn hàng chở bằng tàu già.
- Hành trình: Tỷ lệ phí bảo hiểm tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủi
ro(theo thống kê kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột vũ
trang…
- Điều kiện bảo hiểm:Điều kiện bảo hiểm có phạm vi càng hẹp thì tỷ lệ phí bảo
hiểm càng thấp.
Các bộ luật và quy tắc bảo hiểm hàng hải đều lưu ý rằng việc nộp phí bảo hiểm
là điều kiện vô cùng quan trọng để xác định HĐBH có hiệu lực .Công ty bảo
hiểm có quyền huỷ HĐBH nếu người được bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ
trả phí theo thoả thuận hoặc có quyền từ chối bồi thường khi rủi ro xảy ra.
 Giám định và bồi thường tổn thất.
 Nghĩa vụ của người được bảo hiểm khi xảy ra tổn thất.
Khi có rủi ro xảy ra đối với phương tiện vận chuyển hoặc đối với bản thân hàng
hoá mà đe doạ tới sự an toàn của hàng hoá của người được bảo hiểm thì người
được bảo hiểm phải có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan liên quan nơi gần
nhất như cơ quan hàng hải, cơ quan bảo hiểm …để những cơ quan này có biện
pháp theo dõi và phòng bị cho tàu và hàng hoá.Nếu nhận được thông tin hay

phát hiện hàng hoá bị tổn thất thì người được bảo hiểm cần phải thông báo ngay
cho người bảo hiểm hay đại lý họ chỉ đến giám định .Việc giám định này chỉ
được thực hiện khi có đơn đề nghị của người được bảo hiểm gửi đến cho người
bảo hiểm.
Bên cạnh đó việc tổ chức các hoạt động bảo vệ tài sản trước những tổn thất lớn
hơn có thể xảy ra hoặc hạn chế tổn thất đã xảy ra là trách nhiệm của cả hai
bên,nó đòi hỏi nỗ lực lớn từ cả hai bên và hành động cứu chữa hàng hoá này
không hề là dấu hiệu cho thấy bất kì sự gian dối hay từ chối nào từ phía nhà bảo
hiểm hay nói cách khác việc cứu chữa hàng hoá không làm ảnh hưởng đến cách
thức và nội dung giải quyết bồi thường của cả hai bên mà nó chỉ có mục đích
duy nhất là nhằm giảm thiểu tổn thất cho hàng hoá.
 Khiếu nại đòi bồi thường.
Trong mọi trường hợp,người được bảo hiểm hay đại lý của họ có trách nhiệm
đảm bảo việc thực hiện và bảo lưu đầy đủ cho người bảo hiểm quyền khiếu nại
đối với người chuyên chở,người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba
khác.Đặc biệt họ cần làm theo các quy định sau đây:
- Khiếu nại ngay người vận chuyển,chính quyền cảng hay những người nhận uỷ
thác hàng về bất kì kiện hàng nào bị mất.
- Yêu cầu đại diện người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng hoá tham gia
việc chứng kiến giám định ngay khi phát hiện hàng hoá có hiện tượng mất mát
hư hỏng và qua giám định nếu thấy thực tế có giám định tổn thất thì phải lập hồ
sơ khiếu nại họ.
- Trừ khi đã có thư kháng nghị,trong mọi trường hợp không được cấp giấy biên
nhận hoàn chỉnh cho những hàng hoá có hiện tượng nghi vấn.
- Gửi giấy báo cho đại diện người chuyên chở hay người nhận uỷ thác hàng hoá
trong vòng ba ngày sau khi nhận hàng nếu tổn thất thuộc loại khó phát hiện vào
thời gian nhận hàng.
Nếu người được bảo hiểm không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như đã quy định
trên đây thì người bảo hiểm có quyền từ chối những khiếu nại thuộc trách nhiệm
người chuyên chở,người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba khác.

Khi đòi người bảo hiểm bồi thường về những mất mát hay hư hỏng thuộc trách
nhiệm hợp đồng bảo hiểm,người được bảo hiểm cần phải nộp đủ các giấy tờ
chứng minh trong đó tuỳ trường hợp liên quan phải có:
- Bản chính của đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Bản chính hoặc bản sao hoá đơn gửi hàng,kèm tờ kê chi tiết hàng hoá và/hoặc
phiếu ghi trọng lượng
- Bản chính của vận tải đơn và /hoặc hợp đồng chuyên chở các loại
- Biên bản giám định và chứng từ tài liệu khác chỉ rõ mức độ tổn thất.
- Giấy biên nhận và giấy chứng nhận tàu giao hàng và phiếu ghi trọng lượng tại
nơi nhận cuối cùng
- Bản sao báo cáo hải sự và/hoặc trích sao nhật kí hàng hải.
- Công văn thư từ trao đổi với người chuyên chở và các bên khác về trách nhiệm
của họ đối với tổn thất
- Thư đòi bồi thường.
Trường hợp các chứng từ trong bộ hồ sơ khiếu nại chưa làm sáng tỏ được tổn
thất có thuộc trách nhiệm của bảo hiểm hay không,người bảo hiểm yêu cầu
cung cấp thêm các chứng từ sau:
- Hợp đồng mua bán
- Thư tín dụng
- Lược khai
- Phiếu kiểm đếm
- Biên bản giám định hàng hoá xuất nhập khẩu
- Nhật kí hàng hải
- Giấy chứng nhận đăng kiểm tàu
- Các biên bản của công an,chính quyền cảng …
 Giám định và bồi thường tổn thất.
Sau khi nhận được thông báo tổn thất về hàng hoá của người tham gia bào
hiểm,nhà bảo hiểm phải nhanh chóng xem xét để giải quyết các khiếu nại này
cho khách hàng.Quy trình này bao gồm giám định và bồi thường tổn thất.

×