Tải bản đầy đủ (.docx) (34 trang)

THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT DOANH NGHIỆP 1999 NHỮNG NĂM QUA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.24 KB, 34 trang )

Thực tiễn áp dụng Luật Doanh nghiệp 1999 những năm
qua
I. Công tác tổ chức triển khai thi hành Luật Doanh nghiệp.
1. Phổ biến, tuyên truyền Luật Doanh nghiệp.
Để Luật Doanh nghiệp thực sự phát huy hiệu lực trong thực tiễn thì việc
cần làm đầu tiên là tổ chức tốt công tác phổ biến, tuyên truyền Luật Doanh nghiệp
cho các đối tợng có liên quan. Sau khi Luật Doanh nghiệp đợc ban hành các cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền, đặc biệt là Bộ T Pháp và Bộ Kế hoạch và Đầu T đã
phối hợp đẩy mạnh việc tập huấn, tuyên truyền và phổ biến các quy định của Luật
cho ba đối tợng chủ yếu. Các đối tợng đó bao gồm:
Thứ nhất, là các doanh nghiệp, bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn,
Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và Doanh nghiệp t nhân kể từ khi có Luật
Doanh nghiệp sẽ chịu sự điều chỉnh của một Luật duy nhất với nhiều điểm mới
về thành lập, tổ chức hoạt động doanh nghiệp, nên chính các doanh nghiệp này sẽ
là đối tợng bị ảnh hởng hơn cả khi luật đi vào áp dụng. Do vậy, các loại hình
doanh nghiệp này đã đợc tuyên truyền phổ biến những nội dung mới của Luật để
các doanh nghiệp thấy đợc những u điểm của Luật Doanh nghiệp so với các văn
bản pháp luật đơn lẻ trớc đây và cũng nhằm tránh cho hoạt động các loại hình
doanh nghiệp kểv trên không bị gián đoạn.
Thứ hai, các nhà đầu t tiềm năng. Các nội dung mới của Luật Doanh
nghiệp mở ra nhiều cơ hội cho các nhà đầu t với việc da dạng hoá hình thức kinh
doanh cũng nh các hình thức góp vốn kinh doanh và quyền lợi của họ cũng đợc
đảm bảo hơn. Chính vì vậy, các cơ quan có liên quan đã nhanh chóng tuyên
truyền, phổ biến các quy định mới của Luật Doanh nghiệp để các nhà đầu t nắm
bắt kịp thời các u điểm của Luật Doanh nghiệp và tiến hành đầu t , tổ chức sản
xuất kinh doanh.
Thứ ba, các cán bộ quản lý Nhà nớc có liên quan. Đây là các cán bộ làm
trong các cơ quan trực tiếp quản lý việc thành lập, tổ chức hoạt động của các
doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 1999. Do vậy để tăng c-
ờng cho công tác quản lý của các cán bộ này và cũng nhằm đảm bảo lợi ích cho
các cơ công ty, các cơ quan chức năng cũng đã tiến hành tập huấn và phổ biến các


quy định mới của Luật Doanh nghiệp cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nớc có liên
quan.
2. Hớng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp.
Ngày 12 tháng 6 năm 1999 Luật Doanh nghiệp đợc chính thức thông qua
và ngay sau đó Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, cơ quan có liên quan chuẩn bị các
văn bản hớng dẫn thi hành. Tuy vậy, công việc soạn thảo các văn bản hớng dẫn thi
hành đợc tiến hành chậm. Đến hết năm 1999 vẫn cha có dự thảo hoàn chỉnh trình
Chính phủ. Trớc tình hình đó, ngày 19 tháng 12 năm 1999, Thủ tớng Chính phủ
quyết định thành lập Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp do Bộ trởng Bộ Kế
hoạch và Đầu t làm Tổ trởng. Kể từ thời điểm đó, việc soạn thảo các văn bản hớng
dẫn thi hành Luật đợc thực hiện tập trung, thống nhất thông qua Tổ công tác thi
hành Luật Doanh nghiệp đặt dới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Thủ tớng Nguyễn
Tấn Dũng. Nhờ đó công việc chuẩn bị triển khai thi hành Luật Doanh nghiệp đợc
tiến hành nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Ngày 03 tháng 02 năm 2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/
2000/ NĐ-CP về đăng ký kinh doanh, Nghị định số 03/ 2000/ NĐ-CP hớng dẫn thi
hành một số điều của Luật Doanh nghiệp. Thủ tớng Chính Phủ ra quyết định số
19/2000/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính Phủ về bãi bỏ các loại giấy phép trái với
quy định của Luật Doanh nghiệp. Đến hết năm 2000, có 30 văn bản hớng dẫn thi
hành Luật Doanh nghiệp đã đợc ban hành. D luận xã hội đã hoan nghênh một số
Bộ, cơ quan nh Bộ Xây dựng, Bộ Thơng mại, Tổng Cục Bu điện đã ban hành kịp
thời các quy định hớng dẫn về điều kiện kinh doanh xây dựng và cấp chứng chỉ
hành nghề, Bộ công an đã kịp thời trình Chính phủ ban hành Nghị định số 08/
2001/NĐ-CP ngày 22/1/ 2001 với nhiều nội dung đổi mới thay thế Nghị định số
17/ CP ngày 23 tháng 12 năm 1992. Hai Bộ: Giao thông Vận tải và Công nghiệp
đã thực hiện Điều 2 Quyết định số 19/ 2000/ QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ
quyết định bãi bỏ một số giấy phép trái với quy định của Luật Doanh nghiệp
(Quyết định 2901/200/QĐ-BGTVT của Bộ trởng Bộ Giao thông Vận tải ngày 29/
9/ 2000 và Quyết định 60/2000/QĐ-BCN của Bộ trởng Bộ Công nghiệp ngày 20
tháng 10 năm 2000).

Trên cơ sở xem xét về tiến độ, nội dung các văn bản hớng dẫn thi hành
Luật và công tác chỉ đạo thực hiện có thể rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, các văn bản của Chính phủ và Thủ tớng Chính phủ hớng dẫn thi
hành Luật Doanh nghiệp đợc ban hành tơng đối kịp thời, đồng bộ và đầy đủ hơn
so với các Luật khác. Nói chung về căn bản khắc phục đợc tình trạng Luật chờ
Nghị định, Nghị định chờ thông t vv
Thứ hai, nội dung các văn bản hớng dẫn, nhất là Nghị định của Chính
phủ và Quyết định chỉ thị của Thủ tớng Chính phủ, rõ ràng, nhất quán với nội
dung và tinh thần của Luật Doanh nghiệp. Hiện tợng Luật thông thoáng, thuận
lợi; Nghị định của Chính phủ hạn chế dần; Thông t và Quyết định của Bộ trởng
tiếp tục hạn chế, thu hẹp nội dung của Luật và Nghị định theo cơ chế xin cho
đã đợc khắc phục về căn bản.
Thứ ba, cùng với những đổi mới trong việc ban hành văn bản hớng dẫn thi
hành, công tác chỉ đạo thực hiện cũng đã tập trung, nhất quán và sát với yêu cầu
thực tế hơn. Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp đã thờng xuyên theo dõi tình
hình, định kỳ báo cáo Thủ tớng và Phó Thủ tớng Chính phủ. Nhờ đó đã kịp thời
uốn nắn những biểu hiện sai lệch và giải quyết đợc một phần không nhỏ các vớng
mắc phát sinh trong triển khai thực hiện Luật. Trong phiên họp tháng 10 năm
2000, Chính phủ đã đợc báo cáo sơ bộ về kết quả 10 tháng thi hành Luật Doanh
nghiệp, đồng thời đã ra quyết định về tiếp tục đẩy mạnh thi hành Luật Doanh
nghiệp.
Thứ t, so với các Luật khác, thì việc thi hành Luật Doanh nghiệp đã thu hút
đợc sự tham gia tích cực của công chúng, của cộng đồng doanh nghiệp và các ph-
ơng tiện thông tin đại chúng vào việc giám sát, theo dõi thực hiện, phát hiện và
phản ánh kịp thời các vớng mắc, cản trở đối với việc thực thi Luật. Thực tế cho
thấy đó cũng là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa góp phần làm cho hiệu lực của
Luật đợc phát huy nhanh và đầy đủ trong thực tế.
Nhìn chung, các văn bản hớng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp ở cấp
Chính phủ và một số Bộ đã đợc ban hành tơng đối kịp thời, đã hớng dẫn đợc phần
các nội dung cơ bản của Luật Doanh nghiệp. Nội dung hớng dẫn nhất quán, phù

hợp với nội dung và tinh thần của Luật Doanh nghiệp. Công tác tổ chức chỉ đạo
thực hiện của Thủ tớng Chính phủ đợc tiến hành thờng xuyên và nhất quán. Vì
vậy đã không xảy ra gián đoạn việc chuyển từ áp dụng Luật công ty và Luật
Doanh nghiệp t nhân (1990) sang áp dụng Luật Doanh nghiệp (1999), làm cho
Luật Doanh nghiệp nhanh chóng phát huy hiệu lực trên thực tế, góp phần cải
thiện môi trờng kinh doanh ở nớc ta.
II. Những kết quả đạt đợc sau hơn hai năm thực hiện Luật
Doanh nghiệp.
1. Những kết quả đạt đợc.
Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp góp phần cải thiện đáng kể môi trờng đầu t
kinh doanh.
Theo đánh giá của các cơ quan Nhà nớc từ Trung ơng đến địa phơng, cộng
đồng doanh nghiệp trong cả nớc, d luận xã hội trong nớc và quốc tế, Luật Doanh
nghiệp là cơ sở pháp lý thúc đẩy đổi mới t duy theo hớng thừa nhận và tôn trọng
quyền thành lập doanh nghiệp là quyền của công dân, thúc đẩy thay đổi cách thức
quản lý, kiểm soát sang hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Luật
Doanh nghiệp, các văn bản hớng dẫn thi hành Luật đã góp phần cải thiện một
cách đáng kể môi trờng kinh doanh ở nớc ta. Đó là:
Luật Doanh nghiệp đã thể chế hoá quyền kinh doanh của công dân theo
quy định của Hiến pháp Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của
pháp luật trên nguyên tắc doanh nghiệp đợc kinh doanh tất cả ngành nghề mà
pháp luật không cấm. Nhờ đó, doanh nghiệp đã từng bớc đợc hởng đầy đủ các
quyền cơ bản trong kinh doanh, điều này khắc phục một bớc tình trạng phân biệt
đối xử giữa các doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp dân doanh, hạn chế dần
sự can thiệp hành chính bất hợp lý và thiếu căn cứ pháp lý của các cơ quan nhà n-
ớc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp về cơ bản đã tạo lập đợc sự bình đẳng về cơ hội kinh
doanh. Ngày nay, mọi tổ chức, cá nhân (không thuộc đối tợng cấm kinh doanh),
nếu có cơ hội hoặc sáng kiến kinh doanh, đều thành lập đợc doanh nghiệp phù
hợp với yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể để thực hiện cơ hội hoặc sáng kiến kinh

doanh.
Luật Doanh nghiệp đã trở thành một khâu đột phá về cải cách hành chính,
thể hiện trên ba mặt cơ bản sau:
Một là, đơn giản hoá đợc trình tự, thủ tục và hồ sơ thành lập doanh nghiệp.
Nhờ đó, theo số liệu điều tra nhiều nguồn khác nhau, thời gian thành lập doanh
nghiệp đã giảm từ khoảng hơn 90 ngày trớc đây xuống trung bình còn khoảng 7
ngày, kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. ở nhiều tỉnh, thời gian đăng ký kinh doanh
đã rút xuống còn 2 đến 4 ngày. ở thành phố Hồ Chí Minh đã thử nghiệm đăng ký
kinh doanh qua mạng, rút ngắn thời hạn đăng ký kinh doanh xuống chỉ còn một
giờ. Chi phí cho việc đăng ký kinh doanh cũng đã giảm đáng kể, từ khoảng trung
bình 10 triệu đồng, xuống còn khoảng 5 trăm ngàn đồng.
Hai là, tạo đợc cơ sở pháp lý phân định rõ quyền của Nhà nớc, của cán bộ
công chức Nhà nớc, với quyền của ngời đầu t và của doanh nghiệp, từng bớc xoá
bỏ thói quen ôm đồm, làm thay và gây phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp từ
phía cơ quan Nhà nớc.
Ba là, đã bãi bỏ đợc 150 loại giấy phép kinh doanh, qua đó, xoá bỏ đợc
một phần không nhỏ những cản trở hành chính bất hợp lý đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp đã mở rộng quyền tự chủ, sáng tạo cho hoạt động kinh
doanh, đồng thời tạo cơ sở pháp lý đảm bảo tính ổn định về chính sách của Nhà
nớc, tính minh bạch trong quan hệ giữa cơ quan Nhà nớc và doanh nghiệp. Hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều ngành, nghề trở nên ổn định và
chắc chắn hơn, không còn bị giới hạn bởi nội dụng hạn hẹp, cứng nhắc và thời
hạn ngặt nghèo của giấy phép. Nhờ đó, đã giảm đợc đáng kể những rủi ro và chi
phí kinh doanh phát sinh trong việc xin phép, xin ra hạn giấy phép.
Chính vì những yếu tố trên mà doanh nghiệp có thể an tâm và tự tin hơn
trong việc khởi sự kinh doanh, trong đầu t mở rộng phạm vi và quy mô kinh
doanh.
Thứ hai, Góp phần tăng nhanh số lợng doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá
thể mới thành lập.

Thật vậy, riêng số doanh nghiệp đăng ký mới trong năm 2000 đã bằng hoặc
gần bằng số doanh nghiệp đăng ký trong suốt 9 năm (1991-1999). Theo thống kê
sơ bộ, ngay trong năm 2000 số lợng doanh nghiệp mới đăng ký là 14.400 doanh
nghiệp, gấp khoảng 2,5 lần so với năm 1999. Trong số doanh nghiệp mới đăng
ký trong cả nớc, có khoảng 88% số doanh nghiệp (tức khoảng gần 12.800) thành
lập mới, 9% số doanh nghiệp thành lập bằng chuyển đổi từ hộ kinh doanh cá thể,
số còn lại đợc chuyển đổi từ hợp tác xã và các loại hình doanh nghiệp khác. Năm
2001 là 19.801 doanh nghiệp mới đăng ký, tăng gần 50% so với năm 2000.
Ngoài ra trong hai năm 2000-2001 còn có thêm gần 300.000 hộ kinh doanh cá
thể mới đăng ký kinh doanh (Tài liệu số 7).
Về cơ cấu loại hình doanh nghiệp cũng có thay đổi đáng kể. Trong số
doanh nghiệp thành lập năm 2000 có 6.468 doanh nghiệp t nhân (chiếm 44%),
7.244 công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm 51%), trong đó có gần khoảng 50 công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 726 công ty cổ phần và 3 công ty hợp
danh. (Trong những năm 1991-1999 doanh nghệp t nhân chiếm khoảng 75% tổng
số doanh nghiệp). Số công ty cổ phần mới thành lập trong năm 2000 nhiều hơn số
công ty cổ phần đợc thành lập trơcs đó (không kể doanh nghiệp nhà nớc cổ phần
hoá). Năm 2001 trong số doanh nghiệp thành lập có 7.100 doanh nghiệp t nhân
(chiếm 36%), 7.244 công ty trách nhiệm hữu hạn (chiếm 56%), trong đó có gần
khoảng 50 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, 1.550 công ty cổ phần và
3 công ty hợp danh (Tài liệu số 7).
Doanh nghiệp còn mở rộng thêm quy mô và địa bàn kinh doanh dới nhiều
hình thức nh mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, đầu t thêm vốn, sử dụng
thêm lao động, v.v...Đây cũng là hiện tợng mới rõ nét hơn nhiều so với thời kỳ tr-
ớc đó, trong 2 năm 2000-2001, trong cả nớc có khoảng 9.200 chi nhánh, và 900
văn phòng đại diện đăng ký thành lập. (Tài liệu số 7).
Những thành tựu trên chứng tỏ việc thực hiện Luật Doanh nghiệp đã Thổi
một luồng sinh khí mới vào môi trờng kinh doanh, đã khơi dậy và thúc đẩy mạnh
mẽ tinh thần kinh doanh, tinh thần tự lập nghiệp trong các tầng lớp nhân dân, góp
phần thúc đẩy hình thành một thế hệ doanh nhân trẻ và đầy tiềm năng, khuyến

khích tính sáng tạo tự chủ trong kinh doanh, làm cho cộng đồng doanh nghiệp tự
tin hơn trong hoạt động đầu t và kinh doanh, tăng thêm sự tin tởng của nhân dân
vào đờng lối và chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nớc.
Nh thế, nhân dân nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng đã ủng
hộ, hởng ứng và đón nhận "luồng sinh khí mới" một cách tích cực trên phạm vi
toàn quốc. Đa số doanh nghiệp đã nhận thức đợc sự thay đổi về quyền kinh doanh
và nhanh chóng phát huy sáng kiến, tận dụng các cơ hội kinh doanh, trên nguyên
tắc đợc kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Rõ ràng, Luật Doanh
nghiệp là một trong các điển hình về "ý Đảng hợp lòng dân", nhanh chóng phát
huy tác dụng trong thực tế cuộc sống.
Tuy nhiên số lợng doanh nghiệp mới đăng ký hơn hai năm qua mới chỉ đa
tỷ lệ bình quân đầu ngời trên doanh nghiệp đạt đến gần 1000 ngời/ doanh nghiệp.
Đây là tỷ lệ rất thấp so với mức bình quân ở nhiều nớc khác (50 ngời/ một doanh
nghiệp, thậm chí có nơi nh Hồng Kông thì 5 ngời/ một doanh nghiệp). Nh vậy, chỉ
xét riêng về số lợng, thì tổng số doanh nghiệp hiện nay ở nớc ta còn rất nhỏ bé so
với yêu cầu phát triển kinh tế và yêu cầu tạo công ăn việc làm cho ngời lao động.
Do đó vấn đề chủ yếu quan trọng ở nớc ta là khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy ngời
dân thành lập thêm nhiều doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả
để làm ra nhiều của cải cho xã hội, tạo ra nhiều công ăn việc làm ổn định cho ngời
lao động, chứ không phải lo ngại về có quá nhiều doanh nghiệp mới đờc thành
lập.
Thứ ba, Góp phần huy động thêm đợc vốn đầu t xã hội.
Trong hai năm 2000-2001, các doanh nghiệp đã đăng ký mới và bổ sung
tổng cộng gần 55.000 tỷ đồng vốn (khoảng gần 4 tỷ đô la Mỹ), không thấp hơn số
vốn đăng ký đầu t của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trong cùng thời
kỳ. Năm 2000 tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
và hộ kinh doanh cá thể đạt khoảng 24.000 tỷ đồng (tơng đơng khoảng 1,65 tỷ đô
la Mỹ), trong đó có 17.000 tỷ đồng là vốn đăng ký mới và 7.000 tỷ đồng vốn đăng
ký bổ sung, gấp khoảng gần 5 lần so với năm 1999. Năm 2001 là 35.500 tỷ đồng,
trong đó vốn mới đăng ký là 26.500 tỷ đồng, và số vốn đăng ký mới bổ sung là

9.000 tỷ đồng; tăng hơn 1,78 lần so với năm 2000. (Tài liệu 7).
Và đến hết quý I năm 2002, cả nớc có khoảng 9426 tỷ đồng vốn mới đăng
ký, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2001. ( Tài liệu 7)
Việc có số lợng lớn doanh nghiệp mới thành lập với tổng số vốn khá lớn đ-
ợc đầu t kinh doanh này cũng đã làm tăng nhu cầu về thuê văn phòng, mua sắm
thiết bị văn phòng, vật liệu xây dựng, ô tô và phơng tiện vận chuyển khác, vv
Nhờ đó, nhu cầu có khả năng thanh toán của nền kinh tế đã có bớc cải thiện.
Thứ t, Góp phần tạo thêm khoảng hơn 700 ngàn chỗ làm việc mới, tăng thu
nhập cho ngời lao động.
Theo báo cáo sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu t, thì số doanh nghiệp mới
đăng ký kinh doanh, mở rộng thêm quy mô và địa bàn kinh doanh đã tạo ra
khoảng 500 chỗ làm việc mới, số hộ kinh doanh cá thể đăng ký mới cũng đã tạo
thêm khoảng hơn 200 chỗ làm việc mới. Trung bình thu nhập của ngời lao động ở
vùng nông thôn khoảng từ 300-500 ngàn đồng, ở đô thị khoảng 500-700 ngàn
đồng. Ngoài ra, một số lợng không nhỏ doanh nghiệp đã tăng thêm vốn đầu t, mở
rộng thêm quy mô kinh doanh, và do đó cũng đã thu hút thêm lao động mới. Số
công ăn việc làm mới đợc tạo ra nhờ tác động trực tiếp của Luật Doanh nghiệp đã
giải quyết công ăn việc làm cho khoảng gần 1/3 số lao động mới tăng thêm hàng
năm trong nền kinh tế.
Thứ năm, Việc triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp bớc đầu góp phần
thúc đẩy chuyển biến tích cực về cơ cấu kinh tế.
Theo số liệu điều tra 300 doanh nghiệp thành lập trong 6 tháng đầu năm
2000 ở 6 tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng cho thấy khoảng 32% doanh nghiệp
kinh doanh các ngành sản xuất, chế biến; 26% kinh doanh dịch vụ thơng mại,
15% kinh doanh xây dựng và dịch vụ thơng mại; 21% kinh doanh dịch vụ khác,
số còn lại đăng ký kinh doanh tổng hợp. Trong khi đó trớc năm 2000, doanh
nghiệp sản xuất chế biến chiếm 26%, thơng mại và dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia
đình chiếm 61%, xây dựng 3%, số còn lại là dịch vụ khác. ( Tài liệu 7)
Ví dụ nh ở tỉnh An giang (theo báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh
tại Hội nghị Chính phủ triển khai kế hoạch năm 2001) năm 2000 An giang có hơn

100 doanh nghiệp thành lập mới, và hầu hết đều hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp chế biến. Chủ tịch khẳng định việc thực hiện Luật Doanh nghiệp đợc coi là
một trong hai nguyên nhân cơ bản thúc đẩy tăng trởng kinh tế của tỉnh trong năm
2000.
Và ở thành phố Hồ Chí Minh, theo điều tra sơ bộ 32% số doanh nghiệp
đăng ký sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp chế biến; 39% số
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ thơng mại; cà 29% đăng ký kinh doanh
các dịch vụ khác.
Từ thực tế nói trên có rút ra hai điểm lu ý: Một là, số doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất có xu hớng tăng lên. Đó là dấu hiệu tích cực
chứng tỏ ngời đầu t đã tin tởng và yên tâm hơn về tính ổn định và môi trờng kinh
doanh ở nớc ta. Hai là, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh các loại dịch vụ khác
ngoài dịch vụ thơng mại đã tăng lên gấp nhiều lần so với trớc. Điều đó chứng tỏ
đã có nhiều loại dịch vụ mới xuất hiện trong nền kinh tế, loại hình dịch vụ kinh
doanh đã đa dạng hơn nhiều so với trớc đây.
Tóm lại, Luật Doanh nghiệp đã có tác động tích cực, lâu dài đối với phát
triển kinh tế đất nớc. Việc thực hiện Luật Doanh nghiệp có tác động tích cực đối
với phát triển khu vực kinh tế dân doanh. Năm 2000, tốc độ tăng giá trị sản xuất
công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh đạt 18,3% (năm 1999 chỉ 10%); và đạt
mức cao nhất trong 10 năm qua. Năm 2001 là 20,3% và quý I năm 2002 là 23%,
cao hơn hẳn so với khu vực doanh nghiệp Nhà nớc và đầu t nớc ngoài.
Thứ sáu, Việc triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp còn có tác dụng
không nhỏ về mặt đối ngoại.
Những nội dung có tính đột phá của Luật Doanh nghiệp kết hợp với sự chỉ
đạo triển khai thực hiện thể hiện rõ sự nhất quán và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng
và Chính phủ tiếp tục đổi mới xây dựng cơ chế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa; đợc d luận trong nớc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Điều đó đã thúc
đẩy họ cam kết hỗ trợ mạnh mẽ và nhiều hơn đối với tiến trình cải cách kinh tế ở
nớc ta. Tổ chức phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng thế giới (WB)
và một số nhà tài trợ khác đã đánh giá Luật Doanh nghiệp là một điểm sáng trong

thực hiện cải cách thể chế một cách có hiệu quả, cần đợc nhân rộng không chỉ ở
nớc ta, mà còn ở các nớc đang phát triển khác. Thông qua Luật Doanh nghiệp, họ
cũng đã đánh giá cao sự nhất quán và nổ lực của Chính phủ trong đổi mới kinh tế
theo nguyên tắc kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó đã khơi thông thêm đợc một số vốn viện trợ ODA,
thúc đẩy thêm các nhà đầu t nớc ngoài vào tìm kiếm cơ hội và cam kết thực hiện
đầu t ở nớc ta.
Tóm lại, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hớng dẫn thi hành đã có tác
dụng tích cực trên nhiều mặt đối với quá trình cải cách và phát triển kinh tế xã hội
ở nớc ta. Nội dung của Luật và cách thức triển khai thực hiện phù hợp với đờng lối
đổi mới kinh tế và yêu cầu của thực tế, đợc d luận xã hội, nhất là giới doanh
nghiệp, ủng hộ và hởng ứng một cách rộng rãi. Thực tế hơn hai năm qua cho thấy
việc trao quyền tự chủ kinh doanh cho ngời dân, giảm bớt quyền can thiệp trực
tiếp của các cơ quan hành chính Nhà nớc,vv đã không tác động tiêu cực tới trật
tự kinh tế xã hội, không gây bất ổn định thị trờng, nh một số ý kiến đã lo ngại
trong nhửng thánh đầu năm 2000. Đó là thực tế đầy sức thuyết phục tạo thêm
niềm tin cho những đổi mới tiếp theo.
2. Nguyên nhân của các kết quả đã đạt đợc
Trong hai năm vừa qua việc thực hiện Luật Doanh nghiệp đã thu đợc nhiều
kết quả mang tính đột phá trong đổi mới kinh tế. Sở dĩ đạt đợc những kết quả đó
là do những nguyên nhân sau đây:
a. Những nguyên nhân từ mặt nhận thức.
Thứ nhất, nhận thức đợc cần có sự thống nhất cao và rộng rãi trong các cơ
quan Đảng,
Nhà nớc và nhân dân về sự cần thiết phải đổi mới có tính đột phá trong cải
thiện môi trờng kinh doanh để khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, giải phóng lực
lợng sản xuất góp phần phục hồi và thúc đẩy tăng trởng kinh tế thể hiện trong
Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VIII về tiếp
tục đẩy mạnh cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế
t nhân.

Hai là, nhận thức đợc cần có sự kết hợp đổi mới chính sách kinh tế và cải
cách hành chính trong triển khai thi hành Luật. Thực tế cho thấy việc thực hiện các
nội dung đổi mới kinh tế trong Luật Doanh nghiệp khó đạt đợc, nếu không có
những cải cách hành chính cần thiết, dứt khoát kèm theo.
b. Những nguyên nhân từ nội dung Luật
Luật có nội dung đầy đủ, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, điều này thể
hiện trên một số điểm chủ yếu sau đây.
Thứ nhất, Nội dung của Luật xuất phát từ đòi hỏi của tình hình đất nớc, và
phù hợp với đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc. Nội dung của Luật hớng về
trao quyền, đề cao và tôn trọng quyền hợp pháp của ngời dân và doanh nghiệp để
họ tự quyết định, tự chủ và sáng tạo trong đầu t và kinh doanh, thay vì chỉ quy
định chính sách u đãi, u tiên nh một số Luật khác.
Thứ hai, Nội dung Luật Doanh nghiệp phù hợp với các nguyên tắc của
kinh tế thị trờng, các thông lệ thơng mại quốc tế.
Thứ ba, Nội dung của Luật Doanh nghiệp về cơ bản rõ ràng, cụ thể, có
nhiều điều quy định có thể thực hiện đợc ngay mà không cần có sự hớng dẫn.
Nội dung của Luật thể hiện rõ nguyên tắc công bằng, bình đẳng không bị chi
phối bởi các nhóm lợi ích cục bộ ngành, địa phơng hay doanh nghiệp, phân biệt
rõ nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nớc của công chức các cấp với quyền kinh
doanh của ngời dân.
c. Những nguyên nhân từ việc hớng dẫn thi hành.
Thật vậy, theo đánh giá của d luận cũng nh cộng đồng các doanh nghiệp
thì việc hớng dẫn thi hành các nội dung của Luật Doanh nghiệp đợc thực hiện
một cách kịp thời và đầy đủ. Nội dung các văn bản hớng dẫn thi hành luật nhìn
chung phù hợp, tơng thích với nội dung và tinh thần của Luật, không có hiện t-
ợng Luật thông thoáng, nhng Nghị định hớng dẫn bó hẹp lại, đến thông t lại
"bó" thêm một lần nữa nh đối với một số luật khác.
d. Những nguyên nhân từ việc chỉ đạo thực hiện.
Sự chỉ đạo thực hiện Luật Doanh nghiệp là quyết liệt, tập trung và kịp thời
ngay từ đầu. Trớc hết, bản thân Thủ tớng, các Phó Thủ tớng rất quan tâm và đã

trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện Luật Doanh nghiệp, theo dõi, động viên và tháo gỡ
kịp thời một số vớng mắc trong thi hành Luật (Thủ tớng Chính phủ đã ban hành
10 chỉ thị và công văn chính thức yêu cầu thực hiện đầy đủ nội dung của Luật
Doanh nghiệp).
Thủ tớng đã giao Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp đứng đầu là Bộ
trởng Trần Xuân Giá trực tiếp giúp Thủ tớng trong việc triển khai tổ chức thực
hiện Luật. Tổ công tác thờng xuyên theo dõi và đánh giá một cách khách quan
việc thi hành Luật Doanh nghiệp trong bộ máy nhà nớc và trong giới doanh
nghiệp; là nơi luôn thẳng thắn trao đổi và phê phán sức ỳ, trì trệ và những việc làm
trái, cản trở Luật Doanh nghiệp đi vào cuộc sống; đồng thời, là đầu mối tổ chức
tập huấn về Luật Doanh nghiệp cho hàng nghìn chủ doanh nghiệp và ngời quản lý
trong cả nớc; cung cấp thông tin cho công chúng về quá trình thực thi Luật Doanh
nghiệp, huy động sự ủng hộ của d luận xã hội vào việc thực hiện đầy đủ nội dung
của Luật Doanh nghiệp. Hoạt động có hiệu quả và tích cực của Tổ công tác góp
phần đảm bảo cho việc thực hiện Luật đợc nhất quán, không bị chi phối bởi các
quyền và lợi ích cục bộ của cả doanh nghiệp và một số cơ quan nhà nớc có liên
quan.
e. Những nguyên nhân khách quan.
Luật Doanh nghiệp và việc triển khai thực hiện Luật đợc d luận xã hội,
nhất là báo chí truyền thông và của cộng đồng doanh nghiệp ủng hộ mạnh mẽ.
Họ luôn theo dõi rất sát toàn bộ quá trình đa Luật vào cuộc sống, phát hiện và
hiểu đợc những khó khăn, cản trở trong quá trình đó. Đây có thể nói là một lực
lợng gây áp lực mạnh và hữu hiệu thúc đẩy các bên luôn có ý thức chấp hành
đúng và kịp thời các quy định của Luật và các văn bản hớng dẫn thi hành; đồng
thời, ngăn ngừa đợc một phần không nhỏ những hành vi cố ý làm trái các quy
định của Luật, hạn chế tác động của nó vào cuộc sống thực tế.
III. Những bất cập trong quá trình thực hiện Luật Doanh
nghiệp 1999.
1. Những việc cha làm đợc và vấn đề bất cập trong triển khai thi hành Luật
Doanh nghiệp .

Bên cạnh việc công nhận những kết quả, tiến bộ đã đạt đợc nh trình bày
ở trên đây, chúng ta cũng phải ghi nhận một thực tế là vẫn còn không ít khó
khăn, cản trở cần tháo gỡ. Những khó khăn cản trở đó bao gồm những nội dung
sau.
a. Về văn bản hớng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp.
Từ thực tế hơn hai năm thực hiện Luật Doanh nghiệp có thể rút ra hai vấn
đề trong công tác ban hành văn bản hớng dẫn thi hành Luật nh sau.

×