Tải bản đầy đủ (.docx) (19 trang)

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH VỐN TẠI CHI NHÁNH QUỸ HTPT HÀ GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (156.42 KB, 19 trang )

GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VÀ
QUẢN LÝ ĐIỀU HÀNH VỐN TẠI CHI NHÁNH QUỸ HTPT HÀ GIANG
I/ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN TRONG NĂM 2004
Trong năm 2003 Chi nhánh Quỹ HTPT Hà giang đã vạch ra nhiều phương
hướng, cũng như nhiều chiến lược khác nhau. Trong công tác huy động vốn Chi
nhánh đã dự kiến tăng trưởng huy động vốn bình quân là 5 %. Chi nhánh Quỹ
HTPT Hà giang đã đề ra mục tiêu phải tạo lập được nguồn vốn vững chắc, có tốc
độ tăng trưởng cao nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình phát triển và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bao gồm vốn trung và dài hạn, vốn ngắn hạn hỗ
trợ các doanh nghiệp xuất khẩu. Từng bước nâng cao chất lượng nguồn vốn huy
động, đa dạng hoá nguồn vốn, phong phú về hình thức huy động.
Một số cơ sở trong việc định hướng nguồn vốn những năm tiếp theo:
- Đảm bảo đủ nguồn vốn cho vay tín dụng đầu tư phát triển theo phân cấp
huy động và quyết định cho vay của Chi nhánh.
- Xây dựng các chỉ tiêu phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của
địa bàn Tỉnh Hà giang.
- Cân đối nguồn vốn sử dụng trong năm kế hoạch.
- Chất lượng nguồn vốn, sử dụng vốn trong năm kế hoạch
- Nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm, công nghệ huy động vốn mới của
toàn hệ thống...
II/ CÁC GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động
của Quỹ HTPT đã đa dạng hơn, bao gồm cho vay dài hạn, trung hạn , hỗ trợ lãi
suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu... theo
đó nhu cầu về vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng tăng từ 3-5 lần so
với các năm trước đây. Mặt khác Chính phủ cũng đổi mới cách thức giao kế hoạch
vốn tín dụng ĐTPT trong đó nguồn vốn cho vay chủ yếu do Quỹ HTPT tự tổ chức
huy động. Đây thực sự là bài toán khó trong giai đoạn hiện nay khi nhu cầu về vốn
nội tệ của nền kinh tế rất lớn. Lãi suất huy động vốn bằng tiền đồng của các tổ
chức tín dụng liên tục tăng và các tổ chức này cũng đang gặp khó khăn trong công
tác huy động vốn.


Đứng trước tình hình như vậy, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ tín dụng ĐTPT
của Nhà nước, song song với việc đẩy mạnh công tác thu hồi nợ vay để tạo nguồn
ngày 12 / 8/ 2002 Tổng giám đốc Quỹ đã có văn bản số 1564 HTPT-KHNV thực
hiện đổi mới một bước công tác huy động vốn . Nếu trước đây công tác huy động
vốn chỉ chủ yếu thực hiện ở Quỹ TW thì nay đã giao một phần cho các Chi nhánh
Quỹ. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề ở các Chi nhánh Quỹ đặc biệt là các
Chi nhánh Quỹ ở các Tỉnh có điều kiện kinh tế chưa phát triển trong đó đặc biệt
hơn nữa là Tỉnh Hà giang, một trong một số Tỉnh nghèo nhất cả nước, kinh tế
chậm phát triển, điều kiện thiên nhiên khí hậu khắc nghiệt , xuất phát điểm thấp thì
nhiệm vụ mới này càng khó khăn nặng nề.
Để thực hiện được nhiệm vụ trên một cách tích cực và có hiệu quả Chi
nhánh cần thực hiện một số giải pháp sau:
1/ Đề xuất với UBND Tỉnh hỗ trợ trong công tác huy động vốn
Chi nhánh phải khẩn trương phối hợp với các Ban, Ngành xây dựng và trình
UBND Tỉnh đề án huy động vốn trên đại bàn. Trên cơ sở đó UBND Tỉnh ban hành
quy chế huy động vốn cho TD ĐTPT trên địa bàn. Đây là hành lang pháp lý quan
trọng làm cơ sở cho Chi nhánh huy động và tiếp nhận các nguồn vốn trong Tỉnh.
Trong điều kiện của Tỉnh kinh tế xã hội phát triển chậm, một số nguồn vốn cần
được UBND Tỉnh chỉ đạo huy động gồm :
1.1. Nguồn vốn từ kinh phí bảo hành công trình của các dự án đầu tư bằng
nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định, có thể huy
động được với số lượng lớn. UBND Tỉnh cần có định hướng cho các đơn vị gửi
nguồn kinh phí bảo hành công trình tại Chi nhánh Quỹ HTPT.
1.2. Nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ bảo lãnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa của
địa phương. UBND Tỉnh cần chỉ đạo các ban ngành chức năng trong Tỉnh sớm
hình thành và đưa vào hoạt động quỹ bảo lãnh tín dụng các doanh nghiệp nhỏ và
vừa của địa phương theo quy định cuỉa Chính phủ, trong đó nguồn vốn của Quỹ
này cần gửi tập trung tại Chi nhánh Quỹ HTPT , tạo điều kiện thuận lợi cho nghiệp
vụ nhận uỷ thác của Chi nhánh Quỹ HTPT và tận dụng được nguồn vốn tạm thời
nhàn rỗi phục vụ cho công tác tín dụng ĐTPT tại địa phương.

1.3. Nguồn vốn từ các tổ chức bảo hiểm ( ngoài Tổng công ty Bảo hiểm Việt
nam) hiện nay các tổ chức bảo hiểm được Nhà nước cho phép thành lập rất đa
dạng. Do đó Chi nhánh cần tiếp cận để huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các tổ
chức này.
1.4. Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của Quỹ đầu tư địa phương, hiện nay trong
Tỉnh chưa có Quỹ này, nếu có Chi nhánh cần tận dụng để huy động nguồn vốn
nhàn rỗi từ các Quỹ này trên cơ sở có ý kiến chỉ đạo của UBND Tỉnh.
1.5. Nguồn vốn từ các tổ chức Tài chính và các tổ chức tín dụng khác, trong
tình hình chung, các tổ chức này cũng đang gặp khó khăn về nguồn vốn. Tuy nhiên
có một số tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng có thể có một lượng tiền tạm thời
nhàn rỗi , nên có thể tận dụng nguồn này để tập trung vốn cho vay tín dụng ngắn
hạn hỗ trợ xuất khẩu.
1.6. Nguồn vốn từ các khoản đảm bảo tiền vay Quỹ HTPT, trong một số
trường hợp có thể huy động nguồn từ các khoản đảm bảo tiền vay Quỹ HTPT nếu
chủ đầu tư bảo đảm tiền vay bằng tiền.
1.7. Nguồn vốn từ khấu hao cơ bản, quỹ phát triển sản xuất ở các doanh
nghiệp. Đối với Tỉnh kinh tế xã hội còn chậm phát triển UBND Tỉnh cần có cơ chế
khuyến khích các doanh nghiệp Nhà nước như cơ chế ưu tiên trong việc vay vốn
thì Quỹ cũng có thể huy động được nguồn vốn này.
2. Cơ cấu lại nguồn vốn huy động
Đối với Quỹ HTPT nguồn vốn bao gồm : Vốn Nhà nước cấp hàng năm để
đầu tư phát triển, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và nguồn vốn Chi nhánh tự huy động để
cho vay tín dụng đầu tư phát triển theo phân cấp và cho vay ngắn hạn hỗ trợ xuất
khẩu... Do đó Chi nhánh sẽ lên kế hoạch cụ thể mục tiêu cho vay trong năm đối với
từng dự án để từ đó có kế hoạch huy động vốn được sát với nhu cầu cho vay các dự
án có hiệu quả kinh tế – chính trị – xã hội.
Đối với các nguồn vốn huy động có kỳ hạn theo quy định sẽ được điều
chuyển quản lý tập trung trong toàn hệ thống, Chi nhánh sẽ căn cứ vào kế hoạch cụ
thể giao trong năm của Quỹ TW giao cho Chi nhánh để huy động.
Đối với nguồn vốn huy động cho vay theo phân cấp và cho vay ngắn hạn hỗ

trợ xuất khẩu chi nhánh sẽ có kế hoạch cụ thể để huy động nhằm tăng số dư nợ vay
trong năm của Chi nhánh.
3. Tiếp thục đẩy mạnh chính sách khách hàng
Khách hàng chính là điều kiện sống còn và phát triển của Chi nhánh. Do đó
trong năm 2004 Chi nhánh sẽ có những kế hoạch cụ thể đối vời khách hàng như
sau :
Kiến nghị với Quỹ TW về lãi suất huy động vốn sao cho phù hợp với điều
kiện tại Tỉnh Hà giang.
Tổ chức Hội nghị khách hàng nhằm tuyên truyền hơn nữa về hoạt động của
Quỹ cũng như các quyền lợi của khách hàng được hưởng khi tham gia vào hoạt
động của Quỹ.
Tiếp tục thay đổi lề lối làm việc tạo cho khách hàng cảm giác thoải mái vui
vẻ khi giao dịch tại Quỹ. Phục vụ khách hàng chu đáo nhiệt tình , luôn đặt lợi ích
của khách hàng lên hàng đầu. Do đó cần vạch ra một chính sách cụ thể, vận động
toàn bộ cán bộ viên chức trong Chi nhánh tham gia.
Tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhanh nhất cho khách hàng khi gửi cũng như
khi rút tiền. Bởi chất lượng phục vụ khách hàng là một nhân tố hết sức quan trọng
để giúp Chi nhánh có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh cho Chi nhánh Quỹ vì chất
lượng phục vụ khách hàng là con đường ngắn nhất, bền vững nhất giúp Chi nhánh
Quỹ chiến thắng trong việc cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại cùng hoạt
động trên địa bàn trong công tác huy động vốn và các công tác khác như cho vay...
4. Tăng cường các hoạt động dịch vụ liên quan đến huy động vốn
- Tư vấn khách hàng : Trình độ dân trí ở Việt nam chưa cao, đặc biệt là tại
Tỉnh Hà giang một trong những một số Tỉnh nghèo nhất cả nước thì lĩnh vực tín
dụng đầu tư phát triển và các hoạt động khác của Quỹ HTPT là còn khá mới mẻ.
Vì thế Quỹ cần phải có những thông tin , giải thích kỹ càng cho khách hàng hiểu
về Quỹ HTPT, cung cấp những thông tin có thể giúp cho khách hàng lựa chọn các
hình thức gửi tiền phù hợp nhất ....
- Tiếp tục mở rộng dịch vụ Homebanking : Khách hàng chỉ cần ở nhà cũng
biết được các thông tin về tỷ giá, lãi suất, xem thông tin về các dịch vụ khách hàng,

theo dõi số dư, số phát sinh trên tài khoản ...
5. Nâng cao tỷ trọng hợp đồng tiền gửi, tiền gửi thanh toán trong nguồn
vốn huy động.
Trong các hình thức huy động vốn thì hình thức hợp đồng vay vốn sẽ có
nhiều khó khăn cho Quỹ, mất thời gian, chi phí để thực hiện. Trong khi đó hình
thức mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại Chi nhánh Quỹ có nhiều thuận lợi và đã
thu được kết quả tốt trong việc huy động vốn từ hình thức này. Vì vậy Chi nhánh
cần phát huy hơn nữa việc thu hút số lượng khách hàng mở tài khoản tiền gửi
thanh toán tại Chi nhánh Quỹ.
6. Nâng cao uy tín của Chi nhánh Quỹ HTPT, tạo lòng tin với khách
hàng gửi tiền.
Việc chuyển quyền sử dụng vốn cho người khác mang đầy tính rủi ro, người
gửi tiền luôn muốn đồng tiền của mình được an toàn và sinh lợi nên họ phải gửi nó
vào nơi đáng tin cậy.
Để nâng cao uy tín trên thị trường, Chi nhánh Quỹ HTPT Hà giang phải chú
trọng đến công tác thanh khoản, tránh rơi vào tình trạng thiếu hụt vốn thanh toán
dù chỉ là tạm thời bởi vì điều này sẽ làm mất lòng tin của khách hàng đối với Chi
nhánh Quỹ. Vì vậy hoạt động của Chi nhánh Quỹ HTPT phải đảm bảo an toàn hiệu
quả.
7.Tăng cường công tác kiểm tra nội bộ
Công tác kiểm tra giám sát rất quan trọng đối với bất kỳ đơn vị nào khi thực
hiện bất kỳ nhiệm vụ nào. Do đó cần phải tăng cường kiểm tra giám sát việc thực
hiện nhiệm vụ tại Chi nhánh Quỹ từ việc thẩm định các dự án vay vốn, huy động
vốn đến công tác cho vay và thu hồi nợ. Khi công tác kiểm tra giám sát được tăng
cường thì sẽ kịp thời đưa ra được biện pháp xử lý phù hợp. Phải có công tác kiểm
tra giám sát thì mới biết được việc thực hiện công tác thẩm định, huy động vốn,
cho vay có đúng quy trình đã được Quỹ TW ban hành, các dự án vay vốn có đảm
bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định hay không, hiệu quả của dự án đó như thế
nào, sẽ ảnh hưởng tới việc thu hồi nợ đến đâu ...
Đối với công tác huy động vốn, cần phải kiểm tra giám sát để phát hiện

những vi phạm pháp luật, những rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh tiền tệ, những tòn
tại yếu kém trong công tác huy động vốn từ đó báo cáo kịp thời để các phòng có kế
hoạch sửa đổi kịp thời. Những sai phạm, không đúng với kế hoạch đề ra trong công
tác huy động vốn cần được báo cáo kịp thời, Chi nhánh Quỹ phải theo dõi sát sao
quá trình huy động vốn, số vốn huy động được sử dụng như thế nào...
Chi nhánh nên có bộ phận kiểm tra giám sát hoạt động độc lập tách riêng
với các bộ phận khác. Các văn ban mới ban hành, quy chế mới cần được thông báo
kịp thời đến toàn thể cán bộ, đặc biệt là những cán bộ thực hiện công tác kiểm tra.
8. Một số giải pháp khác trong công tác huy động vốn
Từ khi luật doanh nghiệp có hiệu lực, hàng loạt các doanh mới ra đời với
nhu cầu vay vốn rất lớn để ĐTPT sản xuất, theo đó nhu cầu vốn tín dụng ĐTPT
của Nhà nước cũng tăng nhanh nhằm đáp ứng các nhu cầu đó. Hai năm gần đây,
mỗi năm kế hoạch vốn tín dụng ĐTPT của Nhà nước giao cho Quỹ HTPT thực
hiện là 25.000 tỷ đồng, trong đó số vốn Quỹ cần huy động để cho vay khoảng
15.000 tỷ đồng, tăng từ 3 – 5 lần.
Xuất phát từ tình hình trên Quỹ TW đã khẩn trương xây dựng chiến lược
huy động vốn, coi đây là một trong các nhiệm vụ trong tậm phải hoàn thành nhằm
chủ động đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn ngày càng lớn cho tín dụng ĐTPT và hỗ trợ
xuất khẩu. Do đó một số gải pháp góp phần thực hiện nhiệm vụ huy động vốn đó là
:
8.1. Rà soát lại các văn bản pháp quy trên cơ sở đó kiến nghị sửa đổi, bổ
sung cơ chế chính sách về công tác huy động vốn của hệ thống Quỹ HTPT. Cơ chế
khai thác và sử dụng nguồn vốn cần đựơc hoàn thiện.
Hoàn thiện việc xác định lãi suất huy động vốn cho phù hợp với thị trường
vốn từng thời kỳ. Các kỳ hạn huy động vốn phải đa dạng, hấp dẫn và phù hợp với
nhu cầu của các nhà đầu tư. Vì có thể nói lãi suất và kỳ hạn huy động vốn là hai
nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại trong việc tổ chức triển khai công tác
huy động vốn, nên phải được thường xuyên theo dõi chặt chẽ để điều chỉnh linh
hoạt sao cho phù hợp, hấp dẫn các nhà đầu tư trên thị trường vốn hiện nay.

×