Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.15 KB, 30 trang )

Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại
Sự ra đời và phát triển của khoa học quản lý kinh tế gắn liền với sự
phát triển của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của xã hội loài người. Chính
vai trò to lớn của quản lý kinh tế là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu
liên quan đến lĩnh vực này đó là: công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Hoạt
động kinh doanh của các ngân hàng thương mại là một ngành kinh tế đặc biệt,
kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.Ngành Ngân hàng là một trong nhiều ngành
kinh tế quan trọng của toàn bộ hoạt động nền kinh tế đất nước. Chính vì vậy,
trước khi tìm hiểu nội dung của công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại và vận
dụng chúng trong thực tiễn cần phải tìm hiểu về quản lý kinh tế, đặc biệt là
những vấn đề cơ bản của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại có liên quan đến
công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Đó là nội dung chính cần làm rõ ở
chương này.
1.1. VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
[9,9-21]
1.1.1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ.
Có nhiều dạng quản lý, nói cụ thể là có nhiều đối tượng cần quản lý. Từ
quản lý giới vô sinh đến giới hữu sinh, từ quản lý kinh tế đến quản lý xã hội.
Bài viết này chỉ quan tâm đến lĩnh vực quản lý kinh tế.
Quản lý kinh tế có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Quản lý kinh tế được phân chia thành hệ thống quản lý và hệ
thống bị quản lý (sự phân chia này chỉ là tương đối và trong những điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể nó có thể thay đổi vị trí cho nhau).
Thứ hai: Quản lý phải có khả năng thích ứng với môi trường hoạt động.
Thứ ba: Quản lý luôn liên quan đến vấn đề trao đổi thông tin giữa hệ
thống này với hệ thống khác và trong nội bộ mỗi hệ thống.
Thông tin
Thông tin bên ngoài
Chủ thể quản lý
Đối tượng quản lý


Thông tin phản hồi
Thứ tư: Quản lý có mối quan hệ hai chiều trong lĩnh vực thông tin,có
nghĩa là trong bất kỳ một hệ thống quản lý nào khi truyền đạt thông tin đi thì
nó sẽ phải thu được thông tin phản hồi. Nếu mất thông tin phản hồi thì hệ
thống quản lý đó coi như không còn giá trị.
SƠ ĐỒ CHUNG CỦA QUẢN LÝ
(Theo quan điểm điều khiển học)
Chủ thể quản lý phát ra mệnh lệnh quản lý dưới dạng thông tin, đối
tượng quản lý tiếp nhận thông tin và có thông tin phản hồi cho chủ thể quản lý
biết được các yêu cầu cần thiết từ việc xử lý thông tin đến để có thông tin phản
hồi.
Từ các đặc trưng cơ bản của quản lý nêu trên,có rất nhiều cách khác
nhau định nghĩa về quản lý kinh tế. Tuy nhiên, định nghĩa sau đây thường
được dùng hơn cả: Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm duy trì sự
phát triển của hệ thống kinh tế. Sử dụng một cách hiệu quả nhất các
tiềm năng cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ hội của hệ thống kinh tế để đưa hệ
thống đến mục tiêu dự định một cách tốt nhất trong sự biến động
không ngừng của môi trường hoạt động kinh tế.
Quản lý diễn ra trước hết như là một quá trình tác động qua lại giữa
chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Tuy nhiên,việc phân biệt giữa chủ thể
quản lý và đối tượng quản lý chỉ là ước lệ vì nhiều khi chủ thể quản lý lại trở
thành đối tượng quản lý và ngược lại. Muốn xác định chủ thể quản lý phải đặt
chúng vào từng môi trường hoàn cảnh cụ thể. Mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý được xây dựng theo qui tắc mối liên hệ qua lại. Điều đó
có nghĩa là: Đối tượng quản lý không chỉ chịu sự tác động có hướng đích của
chủ thể quản lý, mà nó còn vận động và phát triển theo những qui tắc vốn có
của nó và từ đó tác động lại chủ thể quản lý. Tùy theo nội dung, hình thức và
phương pháp quản lý sẽ dẫn đến kết quả quản lý nhất định. Tóm lại, hiệu quả
của quản lý do tính chất của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể quản lý

và đối tượng quản lý quyết định.
Quản lý có thể được xem xét về phương diện tĩnh là cơ cấu quản lý hay
về phương diện động là quá trình quản lý.
- Cơ cấu quản lý là các bộ phận của hoạt động quản lý.
- Quá trình quản lý là quá trình hoạt động của cơ cấu quản lý.
Khi xem xét quá trình quản lý có thể phân tích trên nhiều mặt như về
nội dung: Làm gì ? Về tổ chức: Ai làm, làm theo trình tự nào ? Và về công nghệ:
Làm như thế nào ?.
Điều cần lưu ý khi nghiên cứu về quản lý là: quản lý kinh tế vừa có tính
khoa học vừa có tính nghệ thuật. Quản lý đã có từ lâu trong lịch sử tồn tại và
phát triển của loài người. Nhưng trước đây người ta thường phủ nhận tính
khoa học của quản lý kinh tế và đặc biệt là tính nghệ thuật của nó.Người ta
cho rằng yếu tố quyết định trong thắng lợi của quản lý đó là tài năng của
người quản lý.Vậy tính khoa học của quản lý được thể hiện ở chỗ nào ?
Trong quản lý có những nguyên tắc ổn định và bền vững mà chủ thể
quản lý cần nắm bắt, nghiên cứu và vận dụng chúng cho thích hợp với điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Ngoài ra quản lý kinh tế luôn liên
quan đến hoạt động của con người có ý thức, có nhận thức về hành động của
mình trong sự tồn tại vói cộng đồng xã hội. Tính khoa học của quản lý đòi hỏi
việc quản lý kinh tế phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các qui luật khách quan,
không chỉ các qui luật về kinh tế mà còn cả các qui luật xã hội,qui luật tự
nhiên... chứ không phải chỉ dựa trên kinh nghiệm hay trực giác của chủ thể
quản lý. Mặc dù kinh nghiệm có được cũng chính là kết quả của quá trình nhận
thức qui luật khách quan mà có.
Muốn quản lý kinh tế một cách khoa học đòi hỏi phải có tầm nhìn toàn
diện và đồng bộ các hoạt động của doanh nghiệp. Quản lý kinh tế không chỉ
giới hạn về những vấn đề liên quan đến kinh tế mà cả những vấn đề liên quan
khác như về tâm sinh lý con người, các qui luật xã hội, qui luật tự nhiên... Cả về
công nghệ, kỹ thuật và môi trường.
Tính khoa học của quản lý còn được hỗ trợ bởi các kỹ thuật và công

nghệ hiện đại mà con người sáng tạo và phát minh ra. Từ các công cụ này, chủ
thể quản lý có thể khẳng định các quyết định quản lý của mình là có căn cứ
khoa học.
Tính nghệ thuật của quản lý có thể tìm được những nguyên tắc
chung,thường là qui ước và mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Nghệ thuật
trong quản lý kinh tế là "biết làm thế nào" để đạt được một kết quả cụ thể.
Nghệ thuật quản lý kinh tế liên quan mật thiết đến các quyết định riêng có của
chủ thể quản lý nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong cùng một điều kiện
nhất định có nhiều giải pháp đúc kết và rút ra từ qui luật. Chẳng hạn trong
quản lý kinh tế, việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất là quan trọng (điều này
có tính qui luật). Tuy nhiên, chủ thể quản lý vận dụng yếu tố này vào thời điểm
nào, mức độ bao nhiêu và bằng phương pháp nào để tạo nên kết quả mong
muốn lại mang tính nghệ thuật. Có thể thưởng trực tiếp cho nhân viên
100.000đ, hay nhân dịp sinh nhật của người nhân viên "tặng" cho họ số tiền
được thể hiện bằng một kỷ vật nào đó thì người nhân viên rất khó quên và
năng lực làm việc, mức độ trung thành với doanh nghiệp đạt được nhiều khi
vượt xa so với mức độ thưởng trực tiếp.
Điều cần nhấn mạnh là để có tính nghệ thuật trong quản lý kinh tế thì
chủ thể quản lý phải nắm bắt được tính khoa học của quản lý, cũng có nghĩa là
tính nghệ thuật của quản lý được bắt nguồn từ tính khoa học của quản
lý nhưng nó "linh diệu" hơn, nâng quản lý lên thành mức "nghệ thuật", "nghệ
thuật" đến mức nhiều người đều biết nhưng chỉ có chủ thể quản lý đó ra được
quyết định hành động như vậy mà thôi. Có những qui luật nhiều người cùng
nhận thấy, nhưng nghệ thuật quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý cần phải nắm bắt
được những qui luật "ẩn" không chỉ thuộc qui luật kinh tế và vận dụng chúng
cho linh hoạt. Như ví dụ trên, việc tặng quà sinh nhật của chủ thể quản lý
không phải là hành động ngẫu nhiên mà có chủ định,ngoài việc vận dụng qui
luật trong kinh tế còn tính toán dựa vào qui luật tâm sinh lý của con người.
Như vậy có thể khẳng định: nghệ thuật quản lý kinh tế là sự phát triển của tính
khoa học trong quản lý. Điều đó cũng có nghĩa là nghệ thuật quản lý không

hoàn toàn là chủ nghĩa kinh nghiệm trong quản lý kinh tế.
1.1.2. VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ KINH TẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Quản lý kinh tế là một phạm trù liên quan trực tiếp đến sự ra đời của
quá trình hợp tác và phân công lao động xã hội. Quản lý là kết quả tất yếu của
quá trình kết hợp nhiều lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một
quá trình lao động xã hội được phối kết hợp lại. C.Mác cho rằng: "Bất cứ lao
động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn,
đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân. Sự
chỉ đạo đó phải làm chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự
khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá
nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ
độc tấu thì tự mình điều khiển lấy mình, nhưng một giàn nhạc thì cần phải có
một nhạc trưởng"[9,9]. Như vậy chức năng quản lý là sự kết hợp một cách hợp
lý các yếu tố cơ bản của sản xuất, là việc tạo lập một quá trình ăn khớp giữa
những cá thể lao động riêng biệt. Rõ ràng hoạt động quản lý không thực
hiện thì quá trình sản xuất, quá trình hợp tác không thể diễn ra được.
Những nhân tố sau đây làm tăng vai trò của quản lý kinh tế:
Nhân tố thứ nhất: Tính chất và qui mô của sản xuất.
Chừng nào qui mô của hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh chưa lớn
lắm thì quản lý chưa cần phải có những yêu cầu đặc biệt. Qui mô sản xuất kinh
doanh càng mở rộng và phát triển thì chức năng quản lý càng trở nên phức
tạp và vai trò của nó càng trở nên rõ nét trong hoạt động của doanh nghiệp.
Điều này đặc biệt đúng trong nền kinh tế hiện đại ngày nay.
Nhân tố thứ hai: Vai trò của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, khoa học kỹ thuật đã bảo đảm cho sự phát triển của nhân loại
những nguồn lợi to lớn về vật chất. Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới công nghệ và
việc áp dụng những thành tựu mới của kỹ thuật cho phép đạt được hiệu quả kinh
tế cao hơn.Nhưng điều đó có được trước hết nhờ đổi mới công nghệ quản lý,
chính công nghệ quản lý tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới

vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu không có tầm nhìn, tính khoa học sáng
tạo trong quản lý thì kỹ thuật mới, công nghệ mới chỉ là sự phát triển trên giấy
mà thôi. Công nghệ quản lý kinh tế thực sự là điều kiện mở đường cho
khoa học kỹ thuật phát triển, trở thành hiện thực trong các quyết định về
kinh tế và là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của các doanh
nghiệp.
Nhân tố thứ ba: Nhân tố về chính trị, xã hội.
Quản lý làm cho sản xuất kinh doanh phát triển, làm cho đời sống của
nhân dân được cải thiện và nâng cao. Mà "dân giầu, nước mạnh" đó là qui luật
tất yếu, những tiêu cực trong cuộc sống được giảm thấp, xã hội ngày một văn
minh hơn. Chính quản lý là tiền đề cho việc thúc đẩy xã hội tiến lên.
Quản lý có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế, nhưng vai trò
của nó trong các doanh nghiệp còn quan trọng hơn nhiều. Người ta không thể
xác định chính xác được mức độ tác động cụ thể của quản lý đối với thành
công hay thất bại của doanh nghiệp. Nhiều người cho rằng không cần xác định
mức độ cụ thể vì không có quản lý hoặc quản lý yếu kém thì sự tồn tại của
doanh nghiệp đó xét theo giác độ thời gian chỉ còn là tạm thời mà thôi. Vậy
quản lý có vai trò như thế nào trong sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp ?
Thứ nhất: Quản lý vạch ra định hướng kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh cũng giống như người đi đường, nếu không đi
đúng hướng thì không tới đích. Quản lý có vai trò to lớn đối với các doanh
nghiệp trước hết ở chỗ xác định hướng đi cho doanh nghiệp. Việc xác định
hướng kinh doanh đúng giúp cho doanh nghiệp gặp thuận lợi ngay từ bước
khởi đầu.Hơn thế, làm cho doanh nghiệp tự tin hơn trong bước đường kinh
doanh của mình.
Thứ hai: Quản lý tạo ra sự tiết kiện chi phí, tăng lợi nhuận.
Là nhà kinh doanh ai cũng muốn tiết kiệm để tạo ra nhiều lợi nhuận
cho đơn vị. Nhưng để làm điều đó bằng cách nào ? Quản lý tốt chính là công cụ
để thực hiện mục tiêu đó. Vì quản lý tốt cho phép giảm bớt những thất thoát

vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra quản lý tốt còn có khả
năng làm giảm bớt những lãng phí vô hình, không cần thiết trong quá trình
kinh doanh. Đó là sự kết hợp một cách khoa học các bộ phận trong dây chuyền
sản xuất kinh doanh sao cho chúng ăn khớp với nhau tránh lãng phí thời gian
cũng như những lãng phí vô hình khác của doanh nghiệp.
Thứ ba: Quản lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển ổn
định và vững chắc.
Ngày nay cách mạng khoa học kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho sự
phát triển của các doanh nghiệp. Tuy nhiên việc đưa khoa học kỹ thuật vào
thực tế luôn đòi hỏi một sự sàng lọc, tính toán chặt chẽ nhằm đảm bảo không
để xảy ra sự hao mòn vô hình quá nhanh,mặt khác cũng không được vượt quá
mức khả năng tài chính cho phép của doanh nghiệp. Những yêu cầu này được
giải quyết thông qua công tác quản lý.
Không thể kể hết lợi ích mà quản lý đem lại cho doanh nghiệp. Chính vì
quản lý có vai trò quan trọng như vậy, nên thông qua việc nghiên cứu về quản
lý để từ đó xác định được cách thức quản lý tối ưu là điều kiện tiên quyết
cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các ngân
hàng thương mại nói riêng hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là một ngành kinh tế,cho nên hoạt động quản lý của ngân
hàng cũng không thoát ly được các vấn đề cơ bản của quản lý kinh tế nêu trên.
Việc nghiên cứu công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại dưới đây cũng phải dựa
vào những vấn đề cơ bản đó để luận giải các vấn đề liên quan.
1.2. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN LÝ.[47, 7-43]
1.2.1. SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC QUẢN
LÝ.
Trước thế kỷ 16, việc sản xuất kinh doanh chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự
cung tự cấp là phổ biến nên vấn đề quản lý chưa được quan tâm nghiên cứu và
áp dụng. Phải đến cuối thế kỷ 16, khi các hoạt động thương mại, đặc biệt ở khu
vực Địa Trung Hải được mở rộng thì sản xuất kinh doanh mới bắt đầu phát
triển,cùng với nó là sự đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh

doanh và việc nghiên cứu về quản lý mới được đặt ra.
Nhưng phải tới thế kỷ 18 với nhiều phát minh và sáng chế mới được
con người tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc phát minh ra động cơ
hơi nước đưa đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở Châu Âu.
Nền sản xuất kinh doanh được phát triển cả về phạm vi và qui mô hoạt động
thì vấn đề về quản lý mới thực sự là một đòi hỏi của thực tiễn.
Tuy nhiên phải tới những năm cuối của thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19,các tư
tưởng về quản lý mới được sắp xếp thành hệ thống và được nghiên cứu một
cách khoa học. Và phải tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện
các trường phái nghiên cứu về khoa học quản lý.
Trong thế kỷ 20 là giai đoạn bùng nổ các trường phái nghiên cứu về
quản lý. Có rất nhiều trường phái khác nhau nhưng tựu trung có một số các
trường phái chủ yếu sau:
- Trường phái cổ điển.
- Trường phái tác phong.
- Trường phái hệ thống.
- Trường phái định lượng.
- Các trường phái quản lý hiện đại.
Từ cuối thế kỷ 18 đến nay khoa học quản lý đã trải qua 3 giai đoạn chủ
yếu sau:
Giai đoạn 1: Cuối thế kỷ 18 đến những năm 30 thế kỷ XX.
Phương pháp: đơn lẻ, bất kể miễn đạt lợi nhuận.
Chủ yếu nghiên cứu có tính kinh nghiệm
chưa thực sự khoa học.
Cơ sở kinh tế: xuất phát là nền tảng cá nhân về sở hữu
kinh tế.
Giai đoạn 2: Từ năm 1930 - 1960.
Phương pháp: nghiên cứu có hệ thống, khoa học.
Mỗi hệ thống chỉ trọng tâm vào một vấn đề
=> tạo ra trường phái riêng => có nhiều

trường phái.
Cơ sở kinh tế : là các công ty tư bản (có tính tập thể).
Giai đoạn 3: Từ năm 1960 đến nay.
Xu hướng nghiên cứu: phương pháp kết hợp.
Lấy thị trường là tiêu điểm của nghiên cứu và ứng dụng
khoa học quản lý.

×