Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHNO và PTNT HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.3 KB, 24 trang )

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHN
O

PTNT HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHN
O
&
PTNT HÀ NỘI
3.1.1. Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT
Hà Nội trong giai đoạn 2001 – 2005.
Trong thời gian tới để duy trì và phát huy hơn nữa thế mạnh của mình
nhằm đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh, Ngân hàng xây
dựng định hướng phát triển giai đoạn 2001- 2005 như sau:
- Nguồn vốn: tăng 40% năm sau so với năm trước, chú trọng huy động
nguồn vốn ngoại tệ USD trung và dài hạn.
- Dư nợ: tăng 30% năm sau so với năm trước, trong năm 2003 tập trung
đầu tư cho các dự án sản xuất, chế biến hàng nông sản xuất khẩu và các mặt
hàng thay thế nhập khẩu.
- Nợ quá hạn: dưới 3% năm.
- Lợi nhuận: tăng 20% năm sau so với năm trước.
- Tiếp tục phát triển đổi mới hiện đại công nghệ thông tin ngân hàng.
3.1.2. Một số thuận lợi và khó khăn.
3.1.1.1. Thuận lợi:
 Nền kinh tế tiếp tục phát triển ổn định và vững chắc, một số doanh
nghiệp đã dần khẳng định mình và ngày càng phát triển trong cơ chế thị
trường, một số ngành, mặt hàng đã tìm được chỗ đứng trong nước và trên thị
trường thế giới. Bên cạnh đó chính sách kinh tế của nhà nước cũng như ngành
ngân hàng ngày một thông thoáng hơn có tác dụng tích cực thúc đẩy các thành
phần kinh tế phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng, trong
đó có hoạt động huy động vốn của NHNo & PTNT Hà Nội.
 NHNo & PTNT Hà Nội được Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, NHNo &


PTNT Việt Nam, Thành Uỷ, Uỷ Ban Nhân dân thành phố Hà Nội thường xuyên
quan tâm, giúp đỡ về nhiều mặt, được sự hỗ trợ tích cực của các ban ngành
Trung Ương, sự hợp tác chặt chẽ trên nguyên tắc cùng có lợi ở mọi thành phần
kinh tế.
 Sự đoàn kết thống nhất từ các ban chấp hành Đảng Uỷ, ban Giám Đốc,
sự đồng tâm nhất trí, hăng say lao động của tuyệt đại đa số cán bộ viên chức,
cùng kỷ cương điều hành kinh doanh ngày càng khoa học và nhất thống. Đã
tạo nên sức mạnh tổng hợp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng
vượt qua mọi khó khăn và ngày càng phát triển, trong đó việc khoán tài chính,
tiền lương là động lực quan trọng thúc đẩy việc tăng trưởng nguồn vốn.
 Các ngân hàng quận, khu vực đã nhận thức đúng vai trò của nguồn vốn
đối với hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hà Nội nên đã tích cực triển
khai nguồn vốn hơn các năm trước, đã chủ động mở rộng mạng lưới huy động,
tích cực thu hút vận động khách hàng nên đã tạo điều kiện tăng trưởng nguồn
vốn nhất là nguồn tiền gửi của khu vực dân cư.
 Hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Hà Nội đã đổi mới việc phục
vụ khách hàng tốt hơn, vì thế đã thu hút được thêm nhiều khách hàng mới, đặc
biệt xử lý nhanh nhạy, hợp lý về lãi suất tiền gửi theo cơ chế cạnh tranh nên
nguồn vốn huy động ngày càng nhiều.
3.1.1.2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản đã nêu trên, trong giai đoạn 2003 –
2005 NHNo & PTNT Hà Nội đã và sẽ còn những khó khăn không nhỏ, đó là:
 Nợ tồn đọng của một số doanh nghiệp Nhà Nước từ những năm trước
dồn lại đến nay chưa giải quyết được thực sự là gánh nặng cho năm 2003 và
những năm sau này đối với NHNo & PTNT Hà Nội. Một số doanh nghiệp Nhà
Nước chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường, hoạt động kinh doanh còn bấp
bênh nhất là các doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp không có mặt hàng chủ
chốt.
 Tỷ giá ngoại tệ không ngừng biến động (tăng nhanh trong thời gian qua),
trong khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ liên tục giảm không những gây bất lợi cho

các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhập khẩu mà còn là trở ngại
không nhỏ trong việc khai thác và cung ứng ngoại tệ thanh toán với nước
ngoài.
 Sự cạnh tranh trong huy động nguồn vốn của các ngân hàng trên địa bàn
thành phố Hà Nội ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Một số ngân hàng, nhất là
các ngân hàng cổ phần, ngân hàng nước ngoài không ngừng nâng lãi suất huy
động nội tệ lên cao, có khi cao hơn lãi suất cơ bản do Thống Đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định nhưng lại hạ lãi suất tín dụng thấp hơn lãi suất
mặt bằng chung cho các ngân hàng thực hiện nghiêm các quy chế tín dụng,
tiền tệ được Nhà Nước cho phép, rất nhiều. Mà thực chất làm rối loạn không
đáng có về hoạt động tín dụng ngân hàng. Nhiều khi lãi suất huy động lên quá
cao NHNo & PTNT Hà Nội không thể cạnh tranh nổi.
 Việc nhận thức kinh doanh của một số cán bộ ngân hàng, cùng với một số
cán bộ lãnh đạo là chưa hợp lý, khi chưa quan tâm đúng mức tới việc tạo
nguồn vốn.
 Công tác tuyên truyền vận động thu hút nguồn vốn đã triển khai nhưng
chưa thường xuyên, các hình thức huy động còn đơn điệu.
 Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém so với nhu cầu hiên đại hoá của ngân
hàng trong khu vực và trên thế giới trong tương lai. Phong cách phục vụ của
cán bộ nhân viên, nhất là các phòng giao dịch tuy đã đổi mới, song còn nhiều
hạn chế nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thu hút khách hàng.
3.1.3. Kế hoạch huy động vốn năm 2003.
Thực hiện định hướng của Tổng Giám Đốc NHNo & PTNT Việt Nam về
huy động và sử dụng nguồn vốn giai đoạn 2001 - 2005. Tập trung huy động
nguồn vốn tại các thành phố lớn chuyển tải về nông thôn, từng bước hiện đại
hoá Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn, xoá dần ranh giới giữa Thành Thị
và Nông Thôn. Trong năm 2003 NHNo & PTNT Hà Nội phải đẩy mạnh hơn nữa
tạo nguồn vốn cùng với việc mở rộng đầu tư tín dụng.
NHNo & PTNT Hà Nội xây dựng kế hoạch huy động vốn mở rộng mạng
lưới các loại hình dịch vụ ngân hàng nhằm hoàn thành tốt kế hoạch kinh

doanh năm 2003, dần khẳng định và nâng cao uy tín của mình, góp phần ổn
định và phát triển vững chắc NHNo & PTNT Việt Nam trong giai đoạn 2001 –
2005.
Để đạt được mục tiêu của Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Tổng Giám Đốc
NHNo & PTNT Việt Nam, NHNo & PTNT Hà Nội cụ thể hoá các kế hoạch, mục
tiêu huy động vốn trong năm 2003 và giai đoạn 2001 – 2005 như sau:
3.1.3.1. Mục tiêu:
Trong năm 2003, và các năm tới định hướng của NHNo & PTNT Hà Nội
là tạo nhanh nguồn vốn để có nhiều chênh lệch tạo quỹ thu nhập và trích rủi ro,
trong xu hướng chênh lệch lãi suất ngày càng bị thu hẹp.
Phấn đấu đến hết năm 2003 đạt tối thiểu 9000 tỷ nguồn vốn, vừa đạt chỉ
tiêu kế hoạch, vừa tạo quỹ thu nhập để đủ chi lương theo đơn giá mới và có
khả năng tài chính trích rủi ro cho nợ tồn đọng
3.1.3.2. Định hướng huy động vốn năm 2003:
Năm 2003 định hướng huy động vốn của NHNo & PTNT Hà Nội đạt 9000
tỷ, tăng 40 % so với năm 2002, với các kết cấu như bảng sau:
Bảng 3.1: Kế hoạch huy động năm 2003 tại NHNo & PTNT Hà Nội.
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Thực hiện năm 2002 Kế hoạch năm 2003
Chênh lệch năm 2002
so 2003
Tổng số
Tỷ trọng
(%)
Tổng số
Tỷ trọng
(%)
Tuyệt đối
Tương

đối (%)
-Tổng
nguồn vốn
6152 100 9000 100 2848 + 46,3
+ VND 5378 87,4 7800 86,7 2422 + 45,03
+USD
(quy đổi)
774 12,6 1200 13,3 426 + 55
Chia ra:
TGTK+ Kỳ
Phiếu
3027 49,2 4800 53,3 1773 + 58,6
TGKB 156 2,5 170 18,9 1544 + 1,089
TGTCKT 899 14,6 1100 12,2 101 + 22,4
TGTCTD 1930 31,4 1200 13,3 - 730 - 47,9
- Tiền gửi
khác
140 2,3 200 2,3 + 60 + 42,9

(Nguồn: Phòng kế hoạch NHNo & PTNT Hà Nội)
Trong đó:
• Nguồn vốn huy động bằng nội tệ dự tính đạt 7800 tỷ đồng tăng 45,4 % so với
năm 2002. Tập trung vào tăng nguồn tiền gửi dân cư lên 600 tỷ, tăng 28,5 %
so với năm 2002. Và tiền gửi lớn hơn 12 tháng (kỳ phiếu) lên 3600 tỷ, tăng
81,6 % so với năm 2002.
• Nguồn huy động bằng ngoại tệ dự tính đạt 1200 tỷ, tăng 55 % so với năm
2002. Tập trung vào tăng nguồn tiền gửi của dân cư lên đến 900 tỷ, tăng 78,2
% so với năm 2002. Tiền gửi lớn hơn 12 tháng lên đến 200 tỷ, tăng 177,7 % so
với năm 2002.
• Để đạt kế hoạch huy động vốn năm 2003 như trên NHNo & PTNT Hà Nội phân

bổ đều chỉ tiêu cho các ngân hàng quận và đặc biệt kế hoạch cho trung tâm.
• Dự kiến đến năm 2003, tổng nguồn vốn huy động của trung tâm đạt 4300 tỷ,
tăng 46,5 % so với năm 2002, với kết cấu như bảng sau:
Bảng 3.2: Kế hoạch huy động vốn tại Trung tâm NHNo & PTNT Hà
Nội
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu/Năm 2002 2003
So sánh 2003 với 2002
Tuyệt đối Tương đối (%)
Tổng nguồn 2935 4300 + 1365 + 46,5
Nội tệ 2656 3900 + 1244 + 46,8
TGTK + Kỳ Phiếu 438 900 + 462 105,5
TGTCKT 512 600 + 138 + 27
TGTCTD 1452 1000 - 452 - 31,1
TGKB 124 1200 + 1076 + 867,7
BHXHvà tiền gửi khác 130 200 + 20 + 15,4
Ngoại tệ 297 400 + 421 + 43,4
Tiết kiệm USD 80 182 + 103 + 128,8
Tiết kiệm EUR 81 6 + 5 + 500
TCKT 37 40 3 8,1
TCTD 149 160 + 11 + 7,4
Kỳ phiếu 24 tháng 12 12 0 0
(Nguồn: Phòng kế hoạch NHNo & PTNT Hà Nội).
Tập trung chú trọng vào nguồn tiền gửi của dân cư đạt 900 tỷ, tăng
105,5 % so với năm 2002.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHN
O
& PTNT HÀ NỘI TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Để đạt được mục tiêu, kế hoạch đặt ra trong công tác huy động vốn năm

2003 nói riêng cũng như giai đoạn 2001 – 2005 nói chung NHNo & PTNT Hà
Nội phải không ngừng thực hiện các biện pháp để giữ vững khách hàng truyền
thống, đồng thời tăng cường tìm kiếm khách hàng tiềm năng, nâng cao chất
lượng thanh toán và ứng dụng công nghệ thông tin vào công nghệ ngân hàng.
Cụ thể có thể áp dụng một số biện pháp sau:
3.2.1. Mở rộng mạng lưới kinh doanh.
Để từng bước thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường một cách nhanh
nhất trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, một trong những giải
pháp hàng đầu cần thực hiện trong hoạt động huy động vốn là mở rộng mạng
lưới kinh doanh, đi sâu đi sát vào từng khu vực dân cư, đưa ra những biện
pháp tối ưu nhằm tập chung tối đa mọi nguồn lực nhàn rỗi vào ngân hàng. Đối
với NHNo & PTNT Hà Nội, giải pháp này phải thực sự được coi là giải pháp
trọng tâm, cấp bách. Thực tế khi mở rộng mạng lưới kinh doanh đã tạo điều
kiện giúp hoạt động huy động vốn của ngân hàng đạt được kết quả cao. Do đó
trong những năm tiếp theo, để giữ được khách hàng cũ và thu hút thêm khách
hàng mới ngân hàng cần phải xây dựng ngay kế hoạch mở rộng mạng lưới
kinh doanh. Hiện nay NHNo & PTNT Hà Nội đã có 1 Ngân hàng cấp I, 7 Ngân
hàng cấp quận, 3 Ngân hàng khu vực, cùng 33 phòng giao dịch.
Phấn đấu đến hết năm 2003, toàn chi nhánh sẽ có 48 phòng giao dịch tại
các quận và khu vực (tăng thêm 15 phòng giao dịch). Dựa trên cơ sở xác định
rõ số lao động kế toán dôi ra khi chương trình World Bank vận hành thông
suốt, cùng với nhu cầu thành lập các phòng giao dịch để cân đối điều hoà
chung trong toàn thành phố. Trước mắt trong quý 2, 3 năm 2003 tối thiểu mỗi
chi nhánh cấp quận và khu vực của ngân hàng phải thành lập được 1 phòng
giao dịch, riêng Chi nhánh Hoàn Kiếm phải tìm ngay địa điểm để mở lại phòng
giao dịch số 16. Xây dựng mạng lưới nắm bắt được thu nghập của từng khu
vực dân cư.
Để thực hiện tốt kế hoạch mở rộng mạng lưới kinh doanh như trên, các
chi nhánh ngân hàng quận và khu vực cần phải tự nỗ lực nhiều hơn, tập chung
khai thác vào các khu chung cư đã và sẽ đưa vào sử dụng trong thời gian tới,

và các trường Đại học, bệnh viện, các cơ quan, tổ chức xã hội, các trung tâm
kinh tế, siêu thị, chợ… tại khu vực để xây dựng các phòng giao dịch.
3.2.2. Đa dạng hoá các hình thức huy động.
Trong hoạt động đầu tư một phương châm luôn phải lưu ý là “không
nên bỏ trứng vào một giỏ”, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân
hàng. Việc mở rộng qui mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh và uy tín trên thị
trường là hết sức cần thiết và quan trọng. Nó đòi hỏi các Ngân hàng phải đa
dạng hoá các loại hình hoạt động đầu tư. Là một Ngân hàng hoạt động trên
địa bàn thủ đô luôn phải đối mặt với tình trạng cạnh tranh gay gắt, với
phương châm hoạt động: kết hợp kinh doanh tín dụng với kinh doanh nguồn
vốn và các khoản kinh doanh khác, đòi hỏi NHNo & PTNT Hà Nội luôn luôn
phải xây dựng chiến lược huy động vốn đa dạng và phù hợp, hoàn thiện các
hình thức huy động truyền thống và nghiên cứu đưa ra áp dụng các hình thức
huy động mới để đảm bảo cung cấp đủ vốn cho hoạt động kinh doanh của
mình.
3.2.2.1. Đối với tiền gửi dân cư:
Trong tất cả các nguồn vốn huy động được của NHNo & PTNT Hà Nội,
tiền gửi tiết kiệm của dân cư được coi là nguồn có tính ổn định và vững chắc
nhất cần khai thác, song để khai thác được nguồn vốn này chúng ta luôn gặp
phải những vấn đề bức xúc và nan giải. Làm sao đánh thức và khơi dậy được
sự: “Khao khát tiền lời trong nhân dân”, NHNo & PTNT Hà Nội cần phải xuất
phát từ cái gốc của người gửi tiền: mong muốn kiếm lợi thông qua nhận lãi
tiền gửi hoặc để đảm bảo an toàn về tài sản cũng như nhận được sự thuận lợi
trong giao dịch, thanh toán. Với mục tiêu phấn đấu trong năm 2003 NHNo &
PTNT Hà Nội có số dư tiền gửi dân cư là 4800 tỷ đồng, chiếm 58,6% nguồn vốn
kinh doanh nhằm tạo sự ổn định của nguồn cũng như lợi thế về lãi suất đầu
vào, NHNo & PTNT Hà Nội cần duy trì các hình thức huy động vốn cũ và mở
thêm nhiều các hình thức huy động vốn mới, phù hợp với tình hình huy động
vốn của các tổ chức tín dụng trên địa bàn, ví như:
 Huy động tiết kiệm bằng vàng: Khi điều kiện cho phép, ngân hàng nên huy

động tiết kiệm bằng vàng, vì vàng là phương tiện trao đổi có khối lượng tích
trữ trong dân cư là khá lớn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, do quá trình đô
thị hoá, giá đất tăng lên rất mạnh, nhiều gia đình đã có trong tay một lượng
tiền rất lớn thu được từ hoạt động buôn bán bất động sản này và thường dự
trữ dưới dạng vàng. Nếu để không là tiền chết rất phí, vì vậy ngân hàng nên
tìm cách khai thác nguồn này. Khi có vốn dư thừa bằng vàng, nếu khách hàng
gửi trực tiếp sẽ tiết kiệm thời gian, chi phí chuyển đổi. Mặt khác lượng tiền
vàng này rất ít khi mất giá. Do vậy NHNo & PTNT Hà Nội có thể huy động vốn
bằng hình thức này để thu hút tối đa nguồn vốn tích trữ dưới dạng vàng trong
dân cư.
 Huy động vốn theo nhiều loại kỳ hạn, với các hình thức trả lãi thích hợp
đối với tiết kiệm, kỳ phiếu (cả VND và ngoại tệ). Việc đa dạng các kỳ hạn gửi
tiền dễ kéo theo sự vất vả trong hoạt động quản lý lưu trữ hồ sơ của ngân
hàng, nhưng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và góp phần nâng cao uy tín
của ngân hàng, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho ngân hàng.
 Áp dụng linh hoạt phương thức trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi hàng quý
theo tình hình cân đối vốn từng thời kỳ, và từng món tiền, đồng thời đảm bảo
lợi ích của người gửi tiền. Nên đa dạng hoá các hình thức trả lãi hơn nhằm thu
hút tối ưu lượng khách hàng. Ví dụ như có thể áp dụng các hình thức sau:
+ Trả lãi bậc thang: Áp dụng cho loại tiền gửi kỳ hạn 12 tháng. Nếu rút
trước thời hạn trong thời gian nào thì được hưởng lãi suất của kỳ hạn trước nó.
Ví như nếu rút trước thời hạn 3 tháng thì hưởng lãi suất không kỳ hạn, trước 6
tháng hưởng lãi suất kỳ hạn 3 tháng, trước 9 tháng hưởng lãi suất kỳ hạn 6
tháng, trước 12 tháng hưởng lãi suất kỳ hạn 9 tháng. Điều này tạo thuận lợi
cho khách hàng linh động trong việc gửi và rút tiền.
+ Trả lãi cao nhất cho loại tiền gửi 1 lần rút một lần.
+ Trả lãi cho loại tiền gửi 1 lần lấy lãi nhiều kỳ, gốc giữ nguyên, có thể
cho lấy lãi 6 tháng 1 lần, hoặc tiến tới việc trả lãi hàng tháng cho tất cả các
loại tiền gửi có kỳ hạn khi chương trình World Bank đi vào hoạt động thuận
lợi.

+ Loại tiền gửi nhiều lần góp thành số lượng lớn trong thời gian dài
mới rút ra 1 lần, cần ưu đãi khách hàng bằng lãi suất tiền gửi thời hạn dài, khi
rút ra có thể tính theo phương pháp số dư bình quân.
+ Thực hiện trả lãi luỹ tiến theo số lượng tiền gửi (số lượng tiền gửi
tăng thì lãi suất tăng).
 Triển khai trong toàn thành phố việc nhận trả lãi tiền gửi tiết kiệm, kỳ
phiếu tại nhà đối với lượng tiền lớn (tương đương 100 triệu trở lên). Theo quy
trình do NHNo & PTNT Hà Nội quy định. Việc làm này rất cần thiết, nó khắc
phục tình trạnh bị động trong huy động vốn của ngân hàng, tạo sự thuận lợi, tin
tưởng cho khách hàng. Trong thời gian đầu áp dụng hình thức này có thể làm
tăng chi phí huy động, nhưng trong thời gian tới khi chươngtrình hiện đại hoá
ngân hàng của World Bank triển khai thuận lợi, 1 nhân lực có thể làm được
nhiều việc hơn sẽ hạ được chi phí xuống.
 Thực hiện hình thức huy động “Tiết kiệm học đường”: Áp dụng với các
đối tượng là học sinh, sinh viên. Đặc điểm của loại khách hàng này là nhận tiền
vào một thời điểm, chi tiêu trong một thời gian dài. Vì khi có tiền để không, tâm

×