Tải bản đầy đủ (.doc) (105 trang)

Khóa luận TN Ngoại thương Thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (607.81 KB, 105 trang )

MỤC LỤC
3.1. Những nhân tố quốc tế........................................................................10
3.2. Những nhân tố trong nước..................................................................11
1.1. Cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế..........................................13
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.................................................................17
2.1. Nhóm các nhân tố khách quan.............................................................18
2.2. Nhóm các nhân tố chủ quan................................................................22
3.1. Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành....................23
3.2. Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ........24
3.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế............24
1.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành...............................................29
Bảng 1: Cơ cấu Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo ngành kinh tế 1986
– 2008
................................................................................30
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ..................................33
1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế...........................35
2.1. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư
...................................................................................................................39
2.2. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo địa bàn đầu tư41
2.3.Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngồi tại Việt Nam theo hình thức đầu tư
...................................................................................................................41
2.4. Cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam theo đối tác đầu tư.42
1.1.Tình hình thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam từ 1988-2008
...................................................................................................................43


1.2. Tình hình triển khai hoạt động sản xuất của các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp .......................................................57
2.1.Một số nhận xét....................................................................................59
2.2. Nguyên nhân hạn chế nguồn vốn FDI vào ngành nông nghiệp Việt
Nam............................................................................................................61


1.1.Tác động tích cực.................................................................................64
1.2.Tác động tiêu cực.................................................................................71
Một trong những tác động tiêu cực của nguồn vốn FDI vào nông nghiệp
đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung đó là làm mất cân đối cơ cấu
ngành kinh tế..............................................................................................71
2.Tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ..................73
2.1.Tác động tiêu cực.................................................................................77
Quy mô vốn đầu tư quá nhỏ. Số vốn đăng ký bình quân 1 dự án mới đạt 6
triệu USD, Với số vốn như vật chắc chắn sẽ gặp khó khăn trong q trình
triển khai thực hiện ở các địa phương, nhất là ở các tỉnh miền núi cao, vốn
đối ứng phí VN chỉ có giá trị quyền sử dụng đất, khơng có vốn bằng tiền. 77
3.Tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế trong
khu vực nông nghiệp, nông thôn.................................................................78
2.1. Quan điểm thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp...........................84
2.2. Phương hướng thu hút FDI vào ngành nông nghiệp đến năm 2010 ...86
1.1.Quy hoạch phát triển ngành.................................................................88
1.2.Quy hoạch phát triển vùng...................................................................90
2.1.Quá trình thẩm định và triển khai dự án..............................................93

2


2.2.Quản lý nhà nước đối với các dự án FDI sau khi được cấp giấy phép
đầu tư.........................................................................................................93

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội lồi người, nơng nghiệp ln giữa vai trị
quan trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cho xã hội, là nguyên liệu cho
ngành công nghiệp và các ngành khác, nhiều hàng cho xuất khẩu… Bước vào thế kỷ

XXI, với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái,… nông
nghiệp được dự báo là vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với con người nói chung và
mỗi nước nói riêng. Việt Nam là một nước có nền sản xuất nơng nghiệp lâu đời. Hiện
nay, hơn 70% dân số nước ta vẫn sống chủ yếu ở khu vực nông thôn và dựa vào sản xuất
nơng nghiệp là chính. Sản xuất nơng nghiệp nước ta không những phải đảm bảo thoả
mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước, mà còn phục vụ xuất
khẩu ra thị trường thế giới, vì thế nó đóng vai trị hết sức quan trọng trong sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội và xố đói giảm nghèo ở nước ta. Những cơ hội và thách thức
mới của một nền kinh tế đang trong giai đoạn cơng nghiệp hố, hiện đại hóa và hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới địi hỏi nước ta phải xây dựng một nền nơng
nghiệp hàng hố mạnh, hiện đại và có năng lực cạnh tranh cao. Để đạt được những mục
tiêu trên, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn phải tập trung huy động mọi nguồn
lực, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nguồn lực quan trọng và góp
phần đẩy nhanh sự phát triển của tồn ngành và kinh tế của toàn đất nước. FDI là nguồn
bổ sung vốn cho phát triển, là nguồn cung cấp công nghệ, tăng cường khả năng xuất
khẩu các sản phẩm nông nghiệp cũng như tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao mức
sống cho người dân. Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tử sau năm

3


1987 cho đến nay còn nhiều hạn chế, chưa thực sự phát huy được hết tiềm năng của
ngành.
Hơn nữa, một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc phát triển kinh tế
đất nước, đó là phải chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với tiến trình phát
triển của lực lượng sản xuất. Vì thế, phát triển nông nghiệp phải đi đôi với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, phát huy lợi thế so sánh của từng khu vực, đảm bảo
cơ cấu kinh tế cân đối và phát triển bền vững.
Đến nay, vì khả năng thu hút nguồn vốn FDI vào ngành nông nghiệp còn nhiều
hạn chế nên những tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là trong nội ngành

và những vùng nơng thơn cịn chưa thực sự phát huy hiệu quả. Nhận thức được tầm quan
trọng của việc thu hút nguồn vốn FDI đối với phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong
bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước, năm 2005, chương trình hành động thực
hiện đề án “Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng đầu tư nước ngồi trong lĩnh vực nơng
lâm nghiệp và phát triển nông thôn” đã được xây dựng và sẽ từng bước được thực hiện
dưới sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phối hợp với Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Cơng Thương, Bộ Tài ngun và Mơi trường.
Vì vậy, nghiên cứu, đánh giá thực trạng thu hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp
trong điều kiện phát triển của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đất nước, tìm ra những nguyên nhân hạn chế trong khả năng thu hút FDI của khu vực
này, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI cho sự phát triển của
ngành nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực là cần thiết. Do đó, người
viết xin chọn đề tài: “Thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam trong bối
cảnh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài được tiến hành nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá thực trạng thu hút FDI
của ngành nông nghiệp trong thời gian qua và những tác động của nó đối với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, từ đó đề ra các giải pháp tăng cường thu hút FDI trong thời gian tới

4


nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tích cực.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
Tìm hiểu thực trạng thu hút FDI vào ngành nông nghiệp Việt Nam và những tác
động của nguồn vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cung cấp những số liệu tổng quan về thực trạng thu hút FDI vào ngành nông
nghiệp Việt Nam và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước.

Từ những kết quả đạt được và những hạn chế của việc thu hút FDI vào ngành
nông nghiệp trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khoá luận xin đề xuất một số
giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI vào ngành nông nghiệp Việt Nam theo
hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.
4. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận cố gắng nghiên cứu thu hút FDI vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam
trong giai đoạn 1988-2008, và những tác động của nó tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo ngành, theo vùng lãnh thổ và theo thành phần kinh tế một cách bao qt tồn diện.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với trình độ của một sinh viên năm cuối khoa Kinh Tế và Kinh doanh quốc tế
của trường Đại học Ngoại Thương, còn nhiều yếu kém trong cả lý luận và thực tiễn, do
đó trong đề tài này, phương pháp chủ yếu được thực hiện là phương pháp thống kê, tổng
hợp, phân tích, so sánh, đánh giá những tài liệu thu thập được, đồng thời tham khảo ý
kiến hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn, của các thầy cô giáo trong khoa… để rút ra
những kết luận cần thiết phục vụ cho việc hoàn thành khố luận này.
6. Kết cấu của khố luận
Ngồi phần lời cảm ơn, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần phụ lục, khoá luận gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về FDI và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

5


Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào lĩnh vực nông nghiệp trong bối cảnh
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
Chương III: Một số giải pháp tăng cường thu hút FDI vào ngành nông nghiệp
Việt Nam nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam

6



CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ FDI VÀ CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI)
FDI là một hình thức xuất khẩu tư bản, là tất yếu của sự phát triển kinh tế. Cho
đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI đã trở thành hoạt động quan trọng trong nền
kinh tế thế giới. Tuy nhiên, mỗi tổ chức kinh tế, tài chính, và luật quy định về đầu tư
nước ngồi của các quốc gia có những khái niệm khác nhau về FDI.
Theo IMF, “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được
những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một
nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành
quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.”
Theo OECD, “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm
thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt những
khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp
nói trên bằng cách:
Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn
quyền quản lý của chủ đầu tư.
Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
Tham gia vào một doanh nghiệp mới.
Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm)
Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở
lên.
Khái niệm của OECD về cơ bản cũng giống như khái niệm của IMF về FDI, đó là
cũng thiết lập các mối quan hệ lâu dài (tương tự với việc theo đuổi lợi ích lâu dài trong
khái niệm IMF), và tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái

7



niệm này chỉ ra cụ thể hơn các cách thức để nhà đầu tư tạo ảnh hưởng đối với hoạt động
quản lý doanh nghiệp.
Theo UNCTAD, “Đầu tư trực tiếp nước ngồi FDI được định nghĩa như là
một hình thức đầu tư liên quan đến mối quan hệ dài hạn và phản ánh sự kiểm
sốt và những lợi ích lâu bền bởi một thực thể cư ngụ tại một nền kinh tế (nhà
đầu tư nước ngồi hoặc cơng ty mẹ) vào một doanh nghiệp cư ngụ tại một nền
kinh tế khác với nhà đầu tư nước ngoài.”
Ngân hàng Pháp quốc (Banque de France) lại quy định khá chi tiết về FDI, “Một
đầu tư là đầu tư trực tiếp nước ngoài khi:
(a) Thiếp lập được một pháp nhân hoặc một chi nhánh ở nước ngồi;
(b) Nắm giữ được một tỷ lệ có ý nghĩa về vốn, cho phép nhà đầu tư nước ngồi
có quyền kiểm sốt việc quản lý doanh nghiệp nước ngoài tiếp nhận đầu tư
(tham gia bằng hoặc trên 10%);
(c) Các khoản cho vay hoặc ứng trước ngắn hạn của nhà đầu tư cho công ty tiếp

nhận đầu tư một khi đã thiết lập giữa hai bên mối quan hệ công ty mẹ và chi
nhánh.”
Luật đầu tư năm 2005 của nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khơng đưa
ra định nghĩa về FDI, nhưng có quy định: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do
nhà đầu tư tự bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”; và “Đầu tư
nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các
tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Do đó, có thể
hiểu FDI trên tinh thần của Luật đầu tư 2005 là: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp để
tiến hành đầu tư tại Việt Nam và tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Mặc dù được diễn đạt theo những cách khác nhau nhưng tựu chung lại FDI là
một hình thức di chuyển vốn trên thị trường tài chính quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn


8


và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư
trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền
kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay
doanh nghiệp chi nhánh hay chi nhánh nước ngoài). FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có
một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh
tế khác. Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất
định thì mới được coi là FDI.
2.Các đặc điểm của FDI
Đối với nhà đầu tư, đặc điểm chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là quyết
định đầu tư và kinh doanh của chính bản thân nhà đầu tư. Nhà đầu tư tự chịu trách
nhiệm về kết quả đầu tư của mình. Do đó, họ phải tìm hiểu các điều kiện môi trường và
dự kiến lỗ lãi trước khi tiến hành, chỉ khi chắc chắn hoạt động kinh doanh tại nước nhận
đầu tư sẽ cho kết quả tốt, nhà đầu tư nước ngồi mới thực hiện. Vì vậy, FDI thường
mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, tính khả thi và hiệu quả kinh tế
nghiêng về bên nào hơn, nhà đầu tư hay nước nhận đầu tư?
Tùy thuộc vào hình thức chủ thể được thành lập theo giấy phép đầu tư, nhà đầu tư
phía nước ngồi có thể trực tiếp điều hành tồn bộ hoặc tham gia điều hành các hoạt
động của doanh nghiệp FDI. Đặc điểm này cho thấy rõ sự khác nhau giữa đầu tư trực
tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngồi. Trong khi đầu tư gián tiếp khơng cần sự
tham gia quản lý doanh nghiệp, các khoản thu nhập chủ yếu là các cổ tức từ việc mua
chứng khoán tại các doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư, ngược lại nhà đầu tư trực tiếp
nước ngồi có quyền tham gia hoạt động quản lý doanh nghiệp FDI. Tuy vậy để có thể
tham gia quản lý, nhà đầu tư nước ngồi phải có một tỷ lệ vốn góp nhất định tùy theo
quy định của từng nước. Theo hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) và Bộ thương mại Hoa Kỳ nhà đầu tư nước ngoài phải chiếm tối thiểu 10% cổ
phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết trong các doanh nghiệp FDI để nhà đầu
tư có tiếng nói hay tham gia quản lý trong các doanh nghiệp FDI.


9


Thu nhập của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động của đối
tượng mà nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư. Nếu hoạt động của doanh nghiệp có lãi, nhà đầu tư
sẽ thu được lợi nhuận cho mình, ngược lại nếu doanh nghiệp hoạt động khơng hiệu quả,
nhà đầu tư sẽ tự gánh thiệt hại đó.
Nguốn vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm vốn đầu tư ban đầu hay
vốn pháp định, vốn vay của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và vốn tái đầu tư từ
lợi nhuận để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh.
Với nước nhận đầu tư, tùy vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch
phát triển các ngành, cũng như các hiệp định, cam kết quốc tế đã tham gia, sẽ cho phép
nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc loại hình doanh nghiệp có
một phần vốn góp của phía nước ngồi.
Cùng với hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), ngày nay các quốc gia đều chú
trọng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI bởi nguồn vốn này không gắn nước
nhận đầu tư với bất cứ ràng buộc về mặt chính trị, cũng như khơng để lại gánh nặng nợ
nần cho các thế hệ sau như nguồn vốn ODA.
Một đặc điểm nổi bật của FDI và khác với đầu tư gián tiếp nước ngồi là thơng
qua chuyển giao cơng nghệ, nước chủ nhà có thể có được cơng nghệ tiên tiến của nước
ngồi. Những nhà quản lý của nước chủ nhà cũng có cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý
hiện đại khi được làm việc cùng đội ngũ những nhà quản lý nước ngoài.
3.Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu hút FDI
3.1. Những nhân tố quốc tế.
* Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trong khu vực và quốc tế
Trong những năm gần đây, mơi trường kinh tế đã có những biến đổi quan trọng.
Các quốc gia ngày càng có xu hướng tham gia sâu rộng vào các tổ chức kinh tế quốc tế
trong khu vực và trên Thế giới. Q trình tồn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ, tạo
ra sự lưu chuyển theo xu hướng tự do đối với luồng vốn, hàng hóa và dịch vụ trên phạm

vi tồn cầu.

10


Các quốc gia đang trong quá trình chạy đua để thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, để tăng cường khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI, ngày càng có nhiều quốc
gia điều chỉnh chính sách và mơi trường đầu tư để tạo sự hấp dẫn và cởi mở hơn cho các
nhà đầu tư.
Các yếu tố thúc đẩy thu hút đầu tư, ngồi các chính sách ưu đãi, cịn phụ thuộc
vào những yếu tố quan trọng trong nội tại của quốc gia tiếp nhận như: nguồn nhân lực,
cơ sở hạ tầng, sự phát triển của khoa học công nghệ… Do đó, các quốc gia phải có sự
cạnh tranh lẫn nhau, nhất là những nước có điều kiện tương đối tương đồng nhau nhưng
môi trường đầu tư khác nhau.
* Xu hướng tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế
Các quốc gia đang chuyển dần sang thực hiện chính sách tự do hóa, mở cửa thị
trường và loại bỏ những cơ chế điều hành cản trở các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trên thế giới, hầu như khơng cịn tồn tại tình trạng thị trường đơn nhất ngay ở cả các
nưóc phát triển, thị trường nội địa của các nước gắn liền với thị trường Thế giới, là một
bộ phận của thị trường Thế giới.
Điều kiện tự do hóa thương mại đã tạo ra mơi trường thơng thống cho sự phát
triển của các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, tạo điều kiện tồn cầu hóa tiến triển
nhanh hơn. Các nước thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của mình thơng qua thị
trường quốc tế. Q trình tự do hóa đang có xu hướng tập trung chủ yếu vào lĩnh vực
đầu tư và thương mại.
3.2. Những nhân tố trong nước.
* Môi trường đầu tư và môi trường kinh doanh
Đó là tổng thể các điều kiện chi phối các hoạt động đầu tư và các yếu tố liên quan
đến chi phí kinh doanh của các nhà đầu tư, bao gồm:
- Hệ thống luật pháp của một nước, đảm bảo các quyền cơ bản cho các nhà đầu tư

như đảm bảo không tước đoạt, đảm bảo này thông thường được quy định ở những điều
khoản đầu tiên của Luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN).

11


- Tính chuyển đổi của tiền tệ, đối với các đồng tiền có thể chuyển đổi được một cách
tự do thơng thường các Chính phủ sẽ khơng đưa ra quy định nào.
- Các thủ tục liên quan đến tất cả các khâu của quá trình đầu tư,
- Các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực, nhà đầu tư quan tâm đến cán bộ quản
lý Nhà nước trong lĩnh vực ĐTNN,
- Những yếu tố và điều kiện liên quan đến chi phí kinh doanh của nhà đầu tư, liên
quan đến những chi phí kinh doanh này là chi phí và chất lượng điện, nước, chi phí viễn
thơng…
+ Các chính sách đối với ĐTNN
- Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính, chính sách này bao gồm các
chính sách thuế và các khuyến khích khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN phải nộp cho ngân sách Nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp
kinh doanh có lợi nhuận.
- Chính sách tiền tệ, bao gồm chính sách về tỷ giá hối đối trong các giao
dịch, việc bảo đảm hay cân đối ngoại tệ cho các dự án quan trọng mà nguồn thu chủ
yếu từ đồng tiền nội tệ, việc bảo lãnh vốn vay hoặc bảo đảm việc chuyển vốn ra
nước ngoài, chuyển (gửi) ngoại hối, đối với các nhà ĐTNN.
- Chính sách về cơ cấu đầu tư, chính sách này liên quan đến việc xác định rõ
những ngành/lĩnh vực, địa bàn mà các nhà ĐTNN được đầu tư tự do, những ngành/lĩnh
vực, địa bàn đòi hỏi một số điều kiện nhất định và những ngành/lĩnh vực, địa bàn được
khuyến khích hoặc cấm đầu tư.
- Chính sách đất đai, chính sách này xác định quyền của nhà ĐTNN trong quan
hệ sở hữu đất đai, thời hạn và giá cả thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất; vấn đề góp vốn
bằng giá trị quyền sử dụng đất.

- Chính sách Lao động, chính sách này liên quan đến việc các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN có được phép tự do tuyển dụng lao động hay không và phải tôn trọng các
nguyên tắc nào trong mối quan hệ chủ- thợ.

12


II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ
1. Các khái niệm
1.1. Cơ cấu kinh tế và phân loại cơ cấu kinh tế
1.1.1.Khái niệm về cơ cấu kinh tế
Để hiểu được khái niệm “cơ cấu kinh tế”, trước hết chúng ta sẽ bắt đầu từ khái
niệm “cơ cấu”.
Cơ cấu là một khái niệm triết học dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của
một hệ thống, biểu thị sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ
phận của nó. Có thể hiểu, cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên
kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của
một hệ thống. Do đó, khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp, chúng ta nhận thấy
có rất nhiều bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành, tùy theo cách mà chúng ta tiếp cận
khi nghiên cứu hệ thống đó. Đặc biệt, sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời
gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các
kiểu cơ cấu. Do đó, có thể hiểu: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ
phận kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng với chúng và mối quan hệ hữu cơ
tương đối ổn định hợp thành.”
1.1.2.Phân loại cơ cấu kinh tế
Theo hướng tiếp cận thông thường, cơ cấu kinh tế bao gồm ba bộ phận chủ yếu
là: cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng – lãnh thổ.
i.


Cơ cấu ngành kinh tế

Sự phát triển nền sản xuất xã hội từ kinh tế tự nhiên tới kinh tế hàng hóa cũng có
nghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất độc lập nhau, dựa trên những đối tượng sản
xuất khác nhau. Sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế quốc dân càng trở nên
phức tạp và đa dạng.

13


Đây chính là kết quả của phân cơng lao động xã hội theo ngành. Các ngành kết
cấu với nhau tạo nên cơ cấu nền kinh tế. Dưới góc độ ngành cơ cấu dược xem xét theo
các mặt chủ yếu:
-

Cơ cấu theo ba nhóm ngành lớn: cơng nghiệp - xây dựng, nông – lâm - thủy sản
và dịch vụ. Mỗi ngành tập hợp các doanh nghiệp có những đặc tính kinh tế kỹ
thuật giống nhau. Mỗi ngành lại bao gồm những ngành nhỏ hơn. Các ngành
trồng trọt kết hợp với các ngành chăn nuôi tạo nên cơ cấu ngành nông nghiệp.
Các ngành cơ khí, luyện kim kết hợp với các ngành năng lượng, dệt may, phân
bón, hóa chất…tạo nên cơ cấu ngành công nghiệp. Các ngành du lịch kết hợp
với các ngành thương mại, vận tải, bưu điện… tạo nên cơ cấu ngành dịch vụ.
Cơ cấu hai nhóm ngành dựa trên phương thức và công nghệ sản xuất: bao gồm

-

các ngành nông nghiệp và ngành phi nông nghiệp. Người ta thường dung cách
phân chia này để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển
hay chưa, bởi phương thức và cơng nghệ sản xuất trong hai nhóm ngành này có

trình độ khác nhau. Trong các ngành nơng nghiệp, công nghệ và phương thức sản
xuất đơn giản, lạc hậu hơn nhiều so với các ngành sản xuất phi nơng nghiệp.
Nhóm ngành nơng nghiệp ở đây bao gồm các ngành nơng nghiệp, lâm nghiệp,
thủy sản. Nhóm ngành phi nơng nghiệp bao gồm các ngành công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ.
-

Cơ cấu theo hai nhó ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng: đó là hai
nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất và nhóm ngành sản xuất sản phẩm dịch
vụ. Nếu xét theo hành vi tăng trưởng thì các ngành sản xuất ra các sản phẩm vật
chất và các ngành sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ có quan hệ khăng khít với
nhau trong một tương quan nhất định.
Vì vậy, nghiên cứu loại cơ cấu này là nhằm tìm ra những cách thức duy trì tính tỷ

lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của
quốc gia trong mỗi thời kỳ nhằm thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

14


một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Trong khóa luận này, người viết chỉ sự dụng cách phân chi cơ cấu kinh tế theo ba
nhóm ngành lớn là cơng nghiệp – xây dựng, nông – lâm – thủy sản và dịch vụ, trong q
trình phân tích các vấn đề lien quan đề cơ cấu ngành kinh tế.
ii.

Cơ cấu vùng – lãnh thổ
Cơ cấu kinh tế vùng là cơ cấu kinh tế mà mỗi bộ phận hợp thành là một vùng

kinh tế lãnh thổ. Việc phân chia các vùng kinh tế của một quốc gia thường căn cứ vào vị

trí địa lý, các điều kiện tự nhiên, những lợi thế và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của
vùng. Trong phạm vi một nước, mỗi vùng có vị trí địa lý khác nhau, có những tiềm
năng, lợi thế khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau… do đó, có
những thuận lợi cũng như khó khăn khác nhau trong phát triển kinh tế, đồng thời giữa
các vùng lãnh thổ lại có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và có sự liên kết với nhau trong
q trình phát triển.
Thơng thường người ta phân tích những thế mạnh hiện thực và tiềm năng của
từng vùng để từ đó hình thành nên tổng sơ đồ phân bổ lực lượng sản xuất nhằm phát huy
tối đa sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế. Ngoài các vấn đề kinh tế,
nó thường gợi ý về việc đẩy nhanh sự phát triển xã hội ở những vùng có điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển, làm động lực cho cả nền kinh tế hoặc những vùng nào đó bị lạc hậu
trong mối tương quan với các vùng khác để nâng cao mức độ đồng đều về phát triển
kinh tế và xã hội của cả nước. Cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế một nước thường được
xem xét dưới các góc độ khác nhau:
-

Cơ cấu theo các vùng kinh tế - xã hội: Đối với một nước, người ta thường
chia lãnh thổ ra thành những vùng có quy mơ lớn để hoạch định chiến lược,
chính sách phát triển. Các vùng lớn ấy có ý nghĩa như những khung sườn để
các tỉnh căn cứ hoạch định chính sách phát triển cho bản thân mỗi tỉnh. Ví dụ
ở Việt Nam là vùng đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc,…

-

Cơ cấu thành thị và nơng thơn: Sự phát triển hài hịa giữa đô thị và nông thôn

15


trên cơ sở đòi hỏi của phát triển kinh tế sẽ đem lại tiền đề cần thiết cho quá

trình phát triển kinh tế đất nước. Thành thị phải được xem là hạt nhân của sự
phát triển bởi sự phát triển của q trình đơ thị hóa, trình độ phát triển của đô
thị là minh chứng cho sự phát triển của nền kinh tế, sự văn minh của đất nước.
Nông thôn đóng vai trị là hậu phương cho đơ thị, có quan hệ mật thiết với đô
thị.
-

Cơ cấu kinh tế lãnh thổ giữ các tiểu vùng: Việc phân chia lãnh thổ thành các
tiểu vùng là cần thiết khi hoạch định chủ trương phát triển. Lãnh thổ càng lớn
càng cần thiết phải phân chia thành các tiểu vùng để xem xét và quản lý. Thực
tiễn cho thấy các nhà kinh tế chia Đồng bằng sông Hồng thành hai tiểu vùng
lớn: Bắc đồng bằng sông Hồng và Nam đồng bằng sông Hồng. Các tiểu vùng
liên kết với nhau thành hệ thống lãnh thổ thống nhất. Tính chun mơn hóa
với những loại sản xuất kinh doanh tiêu biểu thể hiện rất rõ ở mỗi tiểu vùng.

Có nhiều cách để phân chia cơ cấu lãnh thổ của một nước, nhưng trong khóa luận
này, người thực hiện sẽ nghiên cứu dưới góc độ các vùng kinh tế - xã hội. Nghiên cứu cơ
cấu kinh tế vùng có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác các tiềm năng lợi thế phát
triển kinh tế của vùng lãnh thổ, trong việc định hướng phát triển kinh tế, xã hội vùng
cũng như xác định vai trò của từng vùng trong phát triển kinh tế đất nước.
iii.

Cơ cấu thành phần kinh tế
Nếu như phân công lao động xã hội là cơ sở hình thành cơ cấu ngành và cơ cấu

lãnh thổ thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ cấu
thành phần kinh tế là cơ cấu kinh tế mà mỗi bộ phận hợp thành là một thành phần kinh
tế. Cơ cấu thành phần kinh tế có thể được xem xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, hay
theo từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ. Mục đích của nghiên cứu cơ cấu thành
phần kinh tế trong phát triển kinh tế đất nước cũng như từng thành phần kinh tế, từng

vùng lãnh thổ. Trên cơ sở chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế cơ
bản ở nước ta hiện nay gồm:

16


 Kinh tế Nhà nước
 Kinh tế tư nhân
 Kinh tế hợp tác
 Kinh tế cá thể
 Kinh tế tư bản Nhà nước
 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Các thành phần kinh tế cùng song song tồn tại, hỗ trợ lẫn nhau phát triển. Chủ
trương của Đảng và Nhà nước hiện nay là tập trung xây dựng một cơ cấu thành phần
kinh tế hợp lý theo chủ trương: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
định hướng XHCN” với “cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh đa dạng dựa trên sở hữu toàn dân…” Một cơ cấu thành phần kinh tế
hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức kinh tế với chế độ sở hữu có khả năng thúc
đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội… Theo đó,
cơ cấu thành phần kinh tế cũng là một nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ
cấu vùng – lãnh thổ.
Việc phân chia các loại cơ cấu kinh tế như trên không phải là cách phân chia duy
nhất, và cũng không phải chỉ có từng ấy loại cơ cấu kinh tế, mà tùy theo mục tiêu nghiên
cứu người ta có thể phân chia theo những cách khác nhau. Ba loại hình cơ cấu kinh tế
trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong q trình phát triển kinh tế, trong đó cơ cấu
ngành kinh tế được xem là quan trọng và phổ biến nhất, là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá
trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất và phân công lao động xã hội. Nó khơng cố định mà ln ln biến đổi, chuyển

dịch phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
trong nước và quốc tế. Trong quá trình phát triển kinh tế không chỉ số lượng các ngành
thay đổi mà cả quy mơ, trình độ và các mối liên hệ cũng thay đổi, từ đó vai trị, vị trí của

17


các ngành cũng có sự biến đổi. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi của cơ
cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hồn thiện hơn, phù hợp hơn
với mơi trường và điều kiện phát triển của nền kinh tế. Trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, mỗi quốc gia, hay mỗi một ngành kinh tế, hay mỗi vùng, địa phương có thể
đưa vào cơ cấu kinh tế những ngành mới (sản phẩm, dịch vụ mới) hay có thể loại ra khỏi
cơ cấu kinh tế những ngành (những sản phẩm) khơng cịn phù hợp hoặc có thể chuyển
dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành nào đó. Đó là q trình chuyển
dịch từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh tế hợp lý; hoàn thiện và bổ
sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù hợ hơn.
Sự thay đổi như vậy không đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ trọng
của mỗi ngành, mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ
cấu ngành.
Trạng thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia. Quá trình phát triển kinh tế ln gắn với q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tiến bộ. Ngược lại, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại
phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành linh hoạt, phù hợp với việc
khai thác được các tiềm năng và lợi ích tương đối cũng như các điều kiện bên trong và
bên ngoài của nền kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện CNH –
HĐH của các quốc gia, vì để xây dựng và phát triển một nền kinh tế ổn định, vững chắc,
với tốc độ nhanh đòi hỏi phải xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý, giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa các ngành kinh tế quốc dân, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành
phần kinh tế với nhau. Xu hướng chung trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước

đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng là giảm dần tỷ trọng của ngành nông
nghiệp và tăng nhanh tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1. Nhóm các nhân tố khách quan

18


2.1.1.Nguồn lực tự nhiên
Bao gồm đất đai, nguồn tài nguyên, khống sản, tài ngun động, thực vật, nguồn
nước, khí hậu, vị trí địa lý…
Tự nhiên vừa cung cấp các yếu tố vật chất trực tiếp tham gia vào các hoạt dộng
kinh tế, vừa tạo môi trường cho các hoạt động đó. Những yếu tố vật chất mà tự nhiên
cung cấp cho loài người (tài nguyên thiên nhiên) là nguồn lực kinh tế, là những yếu tố
đầu vào không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế, vì thế, nó có ảnh hưởng rất
lớn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia.
Đối với những nước đang phát triển, trình độ cơng nghiệp hóa cịn thấp thì cơ cấu
kinh tế nói chung cịn phụ thuộc rất lớn vào nhân tố tự nhiên. Mỗi quốc gia tùy vào điều
kiện tự nhiên của mình mà lựa chọn phát triển các ngành có lợi thế về tài nguyên (có thể
phát triển nông nghiệp, khai thác tài nguyên…)
Nhận thức nhân tố này đòi hỏi Nhà nước phải tiến hành điều tra, khảo sát, tham
dị các nguồn tài ngun,đánh giá chính xác điều kiện khí hậu, thời tiết của từng vùng,
địa phương…trên cơ sở đó, cần xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội, chiến lược
phát triển từng ngành kinh tế, từng vùng địa phương phù hợp với lợi thế về tài nguyên,
vị trí địa lý, đồng thời tiến hành quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên gắn với quy
hoạch phát triền ngành và quy hoạch phát triển từng vùng địa phương. Đó là cơ sở để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế trong từng ngành kinh tế và trong
từng vùng địa phương.
Những đánh giá khơng chính xác, thiếu cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên sẽ
dẫn đến sai lầm trong việc lựa chọn ngành từ đó dẫn đến sai lầm trong đầu tư cho

chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế việc lựa chọn các ngành dựa vào khai
thác lợi thế về tài nguyên phải kết hợp với phát triển ngành côn ghiệp chế biến tài
nguyên hiện đại mới đảm bảo khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên và phát triển
bền vững.

19


2.1.2.Các nhân tố xã hội
Như mật độ dân số, quy mô dân số, tháp dân số, số lượng và chất lượng lao động,
phong tục tập quán, lịch sử truyền thống…Trong đó, nguồn lực con người được xem là
yếu tố vơ cùng quan trọng.
Mỗi nhân tố khác nhau trong nhóm nhân tố xã hội có ảnh hưởng khác nhau đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
-

Mật độ dân số cao hay thấp, quy mô dân số lớn hay nhỏ liên quan đến quỹ tiêu
dùng của một quốc gia, trong từng quốc gia là giữa các vùng địa phương. Trong
điều kiện mức thu nhập bình quân đầu người như nhau, những quốc gia nào có
số dân đơng sẽ có quy mơ thị trường nội địa lớn hơn. Do đó, đối với một số
hãng tiêu dùng nhất đinh, nhất là hàng cơng nghiệp, có thể tạo ra sản xuất nhờ
vào khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô. Ngược lại, nếu quy mô dân số nhỏ
với mức thu nhập bình quân đầu người tương tự thì thị trường nọi địa đối với
mặt hàng đó trở nên nhỏ bé, khơng đủ khai thác lợi thế kinh tế theo quy mơ, khi
đó, chỉ dựa vào thị trường nội địa sẽ khó phát triển.

Việt Nam là nước có dân số đơng, khả năng phát triển thị trường nội địa rất lớn.
Vì vậy, trong chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần chú trọng phát triển các ngành
kinh tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước thay thế nhập khẩu là vấn đề có ý nghĩa

quan tọng cả về kinh tế và xã hội.
-

Số lượng và chất lượng lao động

Số lượng lao động thường có liên quan đến quy mô dân số, tháp dân số. Đối với
những nước có quy mơ dân số lớn, tháp dân số trẻ thì lực lượng lao động đơng. Số lượng
lao động nhiều hay ít có ảnh hưởng đến việc lựa chọn các ngành cần ưu tiên trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối với Việt Nam, những ngành cần ưu tiên trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là những ngành sử dụng nhiều lao động.
Về quy mô nguồn nhân lực: Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
hình thành cơ cấu kinh tế. Để cho các hoạt động kinh doanh đạt được hiệu quả kinh tế

20


theo quy mô, trong những điều kiện về khoa học – cơng nghệ nhất định, cần phải có một
lực lượng lao động nhất định. Đối với một số quốc gia, quy mô dân số và lao động nhỏ
bé đã là một trong những nguyên nhân khó phát triển ở một số lĩnh vực, thậm chí phải
“nhập khẩu lao động” và có chính sách cụ thể về việc nhập cư. Ngược lại, khá nhiều
quốc gia đang phát triển có hiện tượng dư thừa lao động. Vì vậy, hình thành một cơ cấu
kinh tế có khả năng tồn dụng lao động lại là một trong những ưu tiên hàng đầu của họ.
Về chất lượng nguồn nhân lực: Đối với nguồn nhân lực, chất lượng nguồn lao
động là yếu tố quan trọng nhất để hình thành cơ cấu kinh tế, đặc biệt là với những
ngành, những lĩnh vực đòi hỏi lao động qua đào tạo, tay nghề cao như một số lĩnh vực
dịch vụ gắn liền với công nghệ hiện đại, những lĩnh vực sản xuất cơng nghiệp cơ khí chế
tạo, cơ khí chính xác, điện tử, hóa dược, v.v…Chất lượng nguồn nhân lực cao hay thấp
ảnh hưởng đến việc lựa chọn các ngành cơng nghiệp hiện đại, những ngành địi hỏi chất
xám cao.
Việt Nam hiện được đánh giá là đang có một cơ cấu “Dân số vàng” với một

nguồn dân số và lao động trẻ, dồi dào. Song, nền kinh tế có điểm xuất phát thấp (sản
xuất nhỏ là chủ yếu), phải chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh, của cơ chế cũ nên
những yếu tố đó có tác dụng đến cả hai mặt thuận lợi và khó khăn trong q trình hình
thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
-

Phong tục tập quán, lịch sử truyền thống là những nhân tố không thể bỏ qua
khi định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước nói chung và từng vùng
địa phương nói riêng. Nếu biết đầu tư, khai thác, phát huy những yếu tố này
có thể tạo khả năng cho phát triển một số ngành, nghề vừa đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước vừa đẩy mạnh xuất khẩu (đối với Việt Nam là những
ngành nghề thủ công truyền thống ở các làng nghề).

2.1.3.Tiến bộ khoa học – cơng nghệ
Trình độ phát triển khoa học công nghệ và khả năng ứng dụng khoa học và công
nghệ vào sản xuất kinh doanh của mỗi nước có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến chuyển dịch

21


cơ cấu kinh tế. Khoa học và công nghệ phát triển, một mặt làm xuất hiện nhiều loại nhu
cầu mới, tác động đến sự thay đổi nhu cầu của ngành này hay ngành khác, làm thay đổi
tốc độ phát triển của từng ngành. Mặt khác, khoa học và công nghệ còn tạo khả năng
phát triển những ngành nghề mới, sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá
thành hạ, phù hợp thị hiếu khách hàng. Khoa học và cơng nghệ phát triển cịn cho phép
khai thác các ngành kinh tế phát hiện và khai thác có hiệu quả các nguồn lực từ đó làm
thay đổi số lượng ngành cũng như vai trị, vị trí của từng ngành trong nền kinh tế.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc lựa chọn các ngành cần ưu tiên phát
triển trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, một mặt phải đánh giá khách quan trình
độ khoa học và công nghệ của đất nước cũng như từng ngành kinh tế, từng vùng địa

phương, mặt khác phải biết tận dụng cơ hội tiếp thu để khác phục những khó khăn do
trình độ khoa học và cơng nghệ trong nước cịn thấp. Chỉ trên cơ sở đó, cơ cấu kinh tế
mới chuyển dần từ phát triển các ngành có lợi thế về tài nguyên và lao động sang phát
triển các ngành có giá trị gia tăng cao hơn, trên cơ sở sử dụng nhiều vốn và đòi hỏi hàm
lượng khoa học và công nghệ cao hơn.
2.1.4.Nguồn vốn
Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố quan trọng nhất đối với
tăng trưởng. Vốn là một yếu tố trong q trình sản xuất. Vốn đóng góp vào tăng trưởng
sản lượng không chỉ một cách trực tiếp như một yếu tố đầu vào mà cịn gián tiếp thơng
qua sự cải tiến kỹ thuật. Thông qua sự cải tiến kỹ thuật thì đầu tư sẽ giúp nâng cao kỹ
năng của người lao động và điều này sẽ làm tăng năng suất lao động, giúp cho quá trình
sản xuất trở nên hiệu quả hơn và cuối cùng là làm tăng trưởng kinh tế. Như vậy, vốn là
một yếu tố có vai trị quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
2.2. Nhóm các nhân tố chủ quan
2.2.1.Các chính sách của Nhà nước
Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và phát
triển của những phân ngành kinh tế nhất định. Sự khuyến khích hay khơng khuyến khích,

22


thậm chí cấm đốn đối với một số lĩnh vực nào đó sẽ tác động làm gia tăng hay kìm hãm
mức tăng trưởng, thậm chí loại bỏ một số lĩnh vực (sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ) mặc
dù tiềm năng cung và mức cầu của đầu tư vẫn tồn tại. Thường thì đây là những lĩnh vực có
thể đem lại lợi nhuận xét về mặt kinh tế tài chính, những việc có cho phép phát triển hay
khơng lại phụ thuộc vào các quan điểm chính trị, văn hóa và xã hội, ví dụ như sản xuất và
kinh doanh vũ khí, các hoạt động qn bar, vũ trường, v.v…
Tóm lại, chính các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ chế quản lý,
chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ mà cơ cấu kinh tế cũng bị tác
động theo.

2.2.2.Môi trường thể chế
Môi trường thể chế cũng là một nhân tố tác động không nhỏ đến sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Môi trường thể chế là yếu tố cơ sở cho quá trình xác định và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế. Môi trường thể chế gắn bó chặt chẽ với thể chế chính trị và đường lối xây
dựng kinh tế. Nói cách khác, quan điểm, đường lối chính trị nào sẽ có mơi trường thể
chế đó, đến lượt nó, mơi trường thể chế lại tác động tới các hướng chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế nói chung cũng như cơ cấu nội bộ từng ngành, từng vùng và thành phần
kinh tế. Như vậy, sự đồng bộ và tính ổn định của mơi trường thể chế có ý nghĩa quan
trọng đối với q trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Việt Nam có một mơi
trường thể chế chính trị và đường lối đối ngoại rõ ràng và rộng mở, đa phương hóa, đa
dạng hóa các mối quan hệ, … là một lợi thế quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước ta.
3. Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3.1. Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Thứ nhất: Tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế tăng
lên, cịn tỷ trọng ngành nơng nghiệp giảm xuống. Tức là tỷ trọng của các ngành có năng
suất lao động cao, chứa hàm lượng công nghệ cao và chất xám cao ngày càng lớn và tỷ
trọng của các ngành có năng suất thấp giảm đi trong toàn bộ bức tranh phân công lao

23


động xã hội. Xu hướng tăng, giảm này diễn ra càng nhanh càng tốt.
Thứ hai: Trong nội bộ các ngành, tỷ trọng sản xuất hàng hóa cũng như tỷ lệ chứa
hàm lượng công nghệ cao, chứa nhiều chất xám tăng lên, làm cho độ mở cửa nền kinh tế
lớn hơn. Độ mở cửa nền kinh tế càng lớn chứng tỏ nền kinh tế hội nhập càng mạnh với
bên ngoài. Bên cạnh mặt tích cực của xu hướng này cũng phải chú ý tới vấn đề phụ
thuộc bên ngoài khi mở cửa lớn, hội nhập sâu.
Thứ ba: Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức là số ngành,
số sản phẩm ngày càng nhiều, phạm vi liên kết ngày càng rộng; từ ít đến nhiều, từ trong

nước ra ngồi nước), từ trạng thái có trình độ thấp đến trạng thái có trình độ cao hơn (tức
là trình độ cơng nghệ và quy mơ, chất lượng sản xuất hàng hóa ngày một cao) nhằm đem
lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển.
3.2. Những xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ
Thứ nhất: Đóng góp vào các vùng có cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên thuận lợi
vào nền kinh tế tăng nhanh hơn của các vùng sâu, vùng xa, vùng cịn nhiều khó khăn.
Thứ hai: Trong một vùng, tỷ trọng đóng góp vào GDP của các thành phố lớn, các
đô thị tăng nhanh hơn các địa phương ở nông thôn.
Thứ ba: Các ngành có hàm lượng cơng nghệ cao và khu vực dịch vụ phát triển
mạnh mẽ ở các thành phố lớn.
3.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Tỷ trọng của khu vực quốc doanh trong một số lĩnh vực kinh tế dần giảm còn tỷ
trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngồi tăng lên tương ứng, đánh dấu những bước
chuyển dịch cơ bản trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Từ đó, tỷ
trọng vốn đầu tư từ khu vực Nhà nước có xu hướng giảm dần, tỷ trọng vốn từ khu vực
ngoài quốc doanh tăng nhanh.
Nếu cơ cấu kinh tế được lựa chọn sai hoặc được lựa chọn đúng nhưng không đủ
điều kiện cần thiết và việc điều hành lại kém thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ khơng
theo chiều hướng mong muốn, tức là chiều hướng xấu. Nhà nước đóng vai trị lớn đối

24


với chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các đường lối, chính sách quản lý và hỗ trợ
thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng tích cực.
III. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐỐI VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1. Tác động của FDI tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói cách khác là
tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế. Ba yếu tố cấu
thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia đó là: cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu thành

phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế. Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trị quan
trọng nhất quyết định hình thức của cơ cấu kinh tế khác. Do vậy, việc thay đổi cơ cấu
ngành kinh tế sẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Một cơ cấu kinh tế hợp lý
ở nước tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài đi kèm với các yếu tố vốn, cơng nghệ, kỹ năng và trình độ quản lý đã có tác
động mạnh mẽ đến cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến việc thay đổi và dịch chuyển cơ bản cơ
cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn đầu tư vào từng ngành nhiều hay ít, việc
sử dụng vốn có hiệu quả cao hay thấp… đều có ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến
khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo điều kiện tiền đề vật chất cho sự
phát triển các ngành mới, do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành.
Đầu tư gây nên sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ nhất là trong ngành công nghiệp và
dịch vụ. Chuyển dịch cơ cấu của khu vực công nghiệp được thực hiện gắn liền với sự phát
triển các ngành theo hướng đa dạng hóa, từng bước hình thành một số ngành trọng điểm và
mũi nhọn, có tốc độ phát triển cao, thuận lợi về thị trường, có khả năng xuất khẩu. Tỷ trọng
của khu vực công nghiệp trong GDP tăng dần thực sự trở thành động lực cho phát triển một
số ngành và sản phẩm mới thay thế nhập khẩu cung cấp cho thị trường nội địa, nhiều mặt
hàng có chất lượng cao đã chiếm lĩnh thị trường trong nước.
Đối với ngành dịch vụ, đầu tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngồi nói riêng
giúp phát triển các ngành thương mại, dịch vụ vận tải hàng hóa, mở rộng thị trường

25


×