Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

Thực trạng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (263.75 KB, 44 trang )

Danh mục bảng biểu
Bảng 1: Xếp hạng thị trường Nhật năm 2010 đối với hàng xuất khẩu Việt
Nam
Bảng 2: 10 chủng loại mặt hàng chủ yếu xuất khẩu sang Nhật Bản năm
2010 so với năm 2009
Bảng 3:Thống kê hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản ở Việt Nam năm 2010 so
với năm 2009
Biểu đồ 1: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản trong giai
đoạn 1997 – 2010
1
Danh mục các từ viết tắt
AJCEP : Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản
APEC: Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM: Diễn đàn Hợp tác Á-Âu
DN: Doanh nghiệp
EAS : Hội nghị cấp cao Đông Á
EU: Liên minh châu Âu
JVEPA : Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản
GSP: Hệ thống ưu đãi phổ cập
METI : Bộ trưởng Kinh tế-Thương mại-Công nghiệp Nhật Bản
ODA: Nguồn vỗn hỗ trợ phát triển chính thức
TBCN : Tư bản chủ nghĩa
UN: Liên hợp quốc
UNESCO: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên hiệp quốc
VJEPA : Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
VJEPA : Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
2


Lời nói đầu
1. Tính tất yếu của nội dung nghiên cứu
Vào những năm đầu những năm của thập kỷ 90 trở lại đây, việc
mở rộng hội nhập và hợp tác kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu
của quá trình phát triển nền kinh tế. Những lợi ích kinh tế của việc hội nhập
kinh tế quốc tế đã mang lại cho mỗi thành viên tham gia, những lợi ích kinh
tế mà không một quốc gia nào có thể phủ nhận. Việt Nam cũng vậy, để đẩy
mạnh quá trình Công nghiệp hoá Hiện đại hoá, Đảng và nhà nước ta đã và
đang thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hóa
quan hệ kinh tế quốc tế, lấy mục tiêu vì hoà bình và phát triển làm tiêu
chuẩn cho mọi hoạt động đối ngoại. Đồng thời, trong bối cảnh phân công lao
động quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế… đã và
đang trở thành cách tốt nhất để các quốc gia phát huy được tối đa lợi thế của
mình, cũng như khai thác triệt để những lợi ích của các quốc gia khác để
phục vụ cho nước mình.
Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều đã
tìm thấy ở nhau những điều kiện thuận lợi, cũng như lợi ích kinh tế của bản
thân mỗi nước khi xây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệ hợp tác song
phương giữa hai nước. Bên cạnh những kết quả khả quan đã đạt được, trong
quan hệ buôn bán giữa Việt Nam - Nhật Bản còn có một số hạn chế cần
được khắc phục, loại bỏ nhằm phát triển hơn nữa cho xứng với tiềm năng
của hai nước, đưa mối quan hệ này lên tầm cao mới. Việc nghiên cứu những
thành tựu và những mặt tồn tại đó là rất cần thiết nên nhóm em quyết định
nghiên cứu đề tài: :”Thực trạng và giải pháp phát triểnquan hệ thương mại
Việt Nam – Nhật Bản”
3
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về nền kinh tế Nhật Bản và tình hình quan hệ thương
mại giữa Việt Nam và Nhật Bản để tìm ra những mặt hạn chế từ phía nước ta
để đề ra giải pháp khắc phục và tận dụng những ưu đãi từ phía Nhật Bản

mang lại từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương đẵ kí kết.
Từ đó nâng quan hệ thương mại song phương hai nước lên một tầm cao mới
phù hợp với tiềm năng cảu hai nước, đưa Nhật Bản trở thành đối tác chiến
lược hàng đầu của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là quan hệ thương mại song phương giữa
hai nước Việt Nam và Nhật Bản. Do thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài có
hạn nên nhóm em chỉ tiến hành đề tài này bằng cách thu thập tài liệu thông
quan mạng thứ cấp về thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
và các hiệp định thương mại đã được chính phủ hai nươc kí kết. Từ đó tìm
kiếm giải pháp mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện để nâng cao quan hệ
thương mại của hia nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập và xử lý số liệu: thu thập thông
tin từ sách báo, thông tin từ các tổ chức và Bộ công thương, các tổ chức
chính phủ khác thông qua mạng Internet... sau đó phân tích và so sánh số
liệu đẵ thu thập được để tìm ra các thông tin phù hợp nhất với đề tài.
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài luận gồm 3 chương:
- CHƯƠNG 1: Lược sử quan hệ Việt- Nhật (1973 – 1991
- CHƯƠNG 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản từ năm
1992 đến nay
4
- CHƯƠNG 3: Định hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam – Nhật Bản.
CHƯƠNG 1: Lược sử quan hệ Việt- Nhật (1973 – 1991)
Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Nhật
Bản đã được chính thức thiết lập kể từ ngày 21/9/1973, song do nhiều
nguyên nhân lịch sử và đương đại khác nhau cùng chi phối, trong đó phải kể
đến nguyên nhân cơ bản nhất là mỗi nước đều thuộc về một hệ thống chính

trị-xã hội khác biệt, nên từ đó đến nay quan hệ giữa hai nước cũng đã từng
trải qua những bước thăng trầm trong sự phát triển. Căn cứ vào động thái đó,
ta có thể phân chia tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nước từ năm 1973
đến năm 1991 thành hai giai đoạn: 1973-1978 và 1979-1991.
1.1. Giai đoạn 1973 – 1978
- Trước năm 1975 do chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ gây
ra, hai miền Nam-Bắc Việt Nam còn bị chia cắt và thuộc về hai hệ thống
chính trị-xã hội đối lập nhau, nên quan hệ Việt- Nhật chưa có điều kiện phát
triển.
- Chỉ từ sau ngày 30/41975, khi đất nước Việt Nam đã thống
nhất, quan hệ giữa hai nước mới từ đó được nâng dần lên. Tháng 10/1975 và
tháng 1/1976, Việt Nam và Nhật Bản đã trao đổi Đại sứ quán ở thủ đô của
mỗi nước. Chính phủ Nhật Bản đã ký thoả thuận về việc bồi thường chiến
tranh cho Việt Nam với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại 13,5 tỷ yên
(tương đương 49 triệu USD ). Tiếp theo đó, trong hai năm 1977-1978, Chính
phủ hai nước đã ký kết thoả thuận về việc Việt Nam nhận trả nợ cũ của
Chính quyền Sài Gòn trước đây 20,8 tỷ yên, Nhật Bản cam kết viện trợ
không hoàn lại 16 tỷ yên cho Việt Nam trong 4 năm ( kể từ năm1978 ) và
cho Việt Nam vay 20 tỷ yên trong 2 năm 1978-1979. Tính đến hết năm
1978, phía Nhật Bản đã cho Việt Nam vay 10 tỷ yên, viện trợ không hoàn lại
5
4 tỷ yên. Phía Việt Nam cũng đã trả gần 3 tỷ yên nợ cũ của Chính quyền Sài
Gòn.
Các quan hệ khác như trao đổi kinh tế thương mại, giao lưu
văn- hoá xã hội những năm này tuy vẫn diễn ra nhưng nhìn chung chỉ là
khởi sắc ban đầu, do đó chưa đáng kể.
1.2. Giai đoạn 1979 – 1991
Đây là giai đoạn " lạnh nhạt " và đầy khó khăn đã diễn ra trong
quan hệ Việt Nam - Nhật Bản. Nguyên nhân chủ yếu vì vấn đề Campuchia.
Do không đồng quan điểm với Việt Nam, phía Nhật Bản đã đơn phương

ngừng các mối quan hệ chính thức , đông kết các khoản viện trợ đã cam kết,
đưa ra yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia làm điều kiện để
phía Nhật mở lại viện trợ. Mặt khác, Nhật Bản đã phối hợp với Mỹ và
phương Tây thực hiện bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam, ngăn cản các tổ
chức tài chính - tiền tệ quốc tế cho Việt Nam vay tiền...
Trên thực tế, sự " lạnh nhạt " cùng với các biện pháp " cứng rắn
" trên đây của Nhật Bản đối với Việt Nam như nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước đã cho rằng có phần chủ yếu là do ảnh hưởng của Mỹ từ
những ràng buộc bởi Hiệp ước liên minh Nhật - Mỹ đã được hai bên ký kết
từ sau Thế chiến thứ hai, chứ không hẳn là vì ý muốn chủ quan của Nhật
Bản.Có hai lý do chính giải thích cho vấn đề này:
- Thứ nhất, Nhật Bản khi này đã luôn mong muốn thực thi một
chính sách đối ngoại nhằm nâng cao vị thế chính trị nước lớn trên thế giới,
nhất là ở châu Á, đặc biệt là ở Đông Á, mà Việt Nam như đã biết là một
quốc gia cộng sản có vị trí,vai trò quan trọng nhiều mặt lại vừa đánh thắng
Mỹ... nên Nhật Bản không thể không muốn có quan hệ với Việt Nam;
- Thứ hai, như đã biết , Nhật Bản và Việt Nam là hai nước vốn
đã các mối quan hệ giao lưu từ lâu đời, nhất là trong lĩnh vực kinh tế thương
6
mại đã đem lại nhiều lợi ích lớn cho cả hai nước, đặc biệt là cho phía Nhật
do là nước nghèo tài nguyên, vì thế Nhật Bản rất cần duy trì các quan hệ hợp
tác phát triển với Việt Nam.
Chính vì thế, mặc dù "lạnh nhạt và cứng rắn" với Việt Nam
nhưng suốt thời gian này, Nhật Bản vẫn tiếp tục "giữ cầu" quan hệ với Việt
Nam nên cuối thập niên 1980 vẫn có giao lưu, hợp tác phát triển văn hóa
như : Hỗ trợ tài chính của phía Nhật Bản dành cho Việt Nam để xây dựng
các cơ sở hạ tầng và mua sắm trang thiết bị văn hoá thông tin. Đó là các dự
án như: 24 triệu yên cho Bộ Văn hoá năm 1987; 10 triệu yên cho việc bảo
dưỡng và tôn tạo phố cổ Hội An thông qua Tổ chức UNESCO năm 1989; 23
triệu yên cho mua sắm trang thiết bị in ấn các chương trình văn hoá giáo dục

cho Đài Truyền hình Việt Nam năm 1990; 18 triệu yên cho việc xây dựng và
mua sắm các trang thiết bị của nhà hữu nghị.
Cho đến khi Việt Nam thực thi công cuộc đổi mới theo đường
lối mở cửa từ cuối năm 1986 và từng bước rút dần quân đội khỏi Campuchia
thì giao lưu hai nước đã được nối lại ngay qua các chuyến thăm Nhật Bản
của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tháng 10/1990, Ngoại trưởng
Nhật Bản Nakayama thăm Việt Nam tháng 6/1991. Cùng thời gian này,
Nhật Bản cũng đã nối lại viện trợ nhân đạo, y tế, văn hoá và giáo dục cho
Việt Nam nhưng còn ở quy mô nhỏ.
Như vậy do điều kiện lịch sử nhất định nên nước Nhật đẵ thi
hành một số chính sách khiến cho giao lưu kinh tế, văn hóa hai nước Việt
Nam – Nhật Bản bị gián đoạn. Tuy vậy thì giai đoạn này quan hệ hai nước
cũng đẵ dần được phát triển, làm tiền đề cho giai đoạn sau này.
7
CHƯƠNG 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
từ năm 1992 đến nay.
2.1 Hiệp định thương mại Việt – Nhật
2.1.1 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần Việt Nam ký kết với các nước
Việt nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa
việc trốn lậu thuế đối với thu nhập với hơn 40 nước trên thế giới trong đó có
Nhật Bản kí kết ngày 24/10/1995 và bắt đầu có hiệu lực ngày 31/12/1995.
Mục đích ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc
đánh thuế trùng bằng cách: (a) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt nam cho
các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc (b) khấu trừ số thuế mà
đối tượng cư trú Việt nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải
nộp tại Việt Nam. Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc
hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế
các nước kết trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn
lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản.
2.1.2 Sáng kiến Việt Nam- Nhật Bản

Ngày 7/4/2003, Thủ tướng Phan Văn Khải và Thủ tướng Nhật
Bản Junichiro Koizumi đã thống nhất và quyết định thực hiện Sáng kiến
chung Nhật Bản - Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường
sức cạnh tranh của Việt Nam.
Sáng kiến này có mục đích tăng cường sức cạnh tranh về kinh tế của Việt
Nam thông qua xúc tiến đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Mục tiêu cụ thể của
Sáng kiến này là chia sẻ, áp dụng các chính sách, biện pháp đặc biệt và ưu
8
tiên, với phương châm phát huy triệt để sự tham gia và cam kết một cách
tích cực của chính phủ hai nước.
Sáng kiến này được thực hiện trên nhiều lĩnh vực và nhất là
trong lĩnh vực đầu tư như luật đầu tư, cơ chế hành chính, thủ tục hành
chính, phát triển và xây dựng chiến lược thu hút đầu tư, xây dựng chương
trình xúc tiến thương mại… sang kiến này là tiến đề để chính phủ hai nước
đi đến kí kết “ hiệp đinh về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam –
Nhật Bản” được kí kết ngày 14/11/2003.
2.1.3 Hiệp định về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư Việt Nam – Nhật Bản
Ngày 19 tháng 11 năm 2003, tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt
Nam tại Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Norio
Hattori và Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã ký công hàm
trao đổi để “Hiệp định giữa Nhật Bản và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam về tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư” có hiệu lực.
- Xét từ góc độ tự do hóa đầu tư và bảo hộ quyền lợi của nhà đầu tư thì
hiệp định đầu tư này ở mức độ cao.
- Hiệp định quy định các nguyên tắc đối xử quốc gia trong giai đoạn
cấp phép đầu tư và quy định cấm về mặt nguyên tắc yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ.
- Hiệp định này có ý nghĩa to lớn trong việc đảm bảo tính minh bạch,
tính ổn định về pháp luật và tính dự báo cho nhà đầu tư.
- Đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam được mong đợi sẽ tăng đột phá sau

khi Hiệp định có hiệu lực. (Trong điều kiện Hiệp định được ký và môi
trường đầu tư được cải thiện nhờ thực hiện Sáng kiến chung Nhật Bản
9
– Việt Nam, vốn đầu tư Nhật Bản vào Việt Nam đang tăng đều, vốn
đầu tư từ tháng 1 đến tháng 10 năm nay tăng khoảng 2,8 lần so với
cùng kỳ năm ngoái, đạt 198 triệu 710 nghìn đô la Mỹ.
Hiệp đinh mong muốn thúc đẩy hơn nữa đầu tư nhằm tăng cường
mối quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia;
- Nhằm tạo thêm những điều kiện thuận lợi đối với việc đầu tư của các
nhà đầu tư của nước này trong Khu vực của nước kia;
- Nhận thức được tầm quan trọng ngày càng lớn của quá trình tự do
đầu tư đối với thúc đẩy đầu tư và sự phồn vinh cho hai quốc gia; và
- Nhận thức được các mục tiêu trên có thể đạt được mà không ảnh
hưởng đến việc áp dụng chung các biện pháp về sức khỏe, an toàn và môi
trường;
2.1.4 Hiệp định song phương ASEAN- Nhật Bản (AJCEP)
Hiệp định AJCEP là văn kiện pháp lý quan trọng, xác lập mối
quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện, chặt chẽ giữa ASEAN và Nhật Bản trong
thời gian tới. Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện (EPA) song phương nhằm
thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư.
Việc ký kết Hiệp định AJCEP sẽ diễn ra tại thủ đô của 10 nước
ASEAN và Nhật Bản theo hình thức ký luân phiên. Hiệp định đối tác kinh
tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP)đã chính thức có hiệu lực kể từ
ngày 1/12/2008.
Nội dung
Theo hiệp định trên, Nhật Bản sẽ xoá bỏ ngay lập tức thuế quan
đối với 90% hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN.6 nước ASEAN, gồm Brunei,
Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan sẽ bãi bỏ thuế
quan đối với 90% hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản về cả giá trị và số mặt
10

hàng trong vòng 10 năm tới.Tiến trình trên đối với 4 nước ASEAN còn lại
gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar sẽ được thực hiện chậm hơn.
Tại cuộc gặp cấp cao ASEAN-Nhật Bản, Thủ tướng Nhật Bản
Yasuo Fukuda cam kết tăng cường hợp tác với ASEAN trong nhiều lĩnh
vực khác nhau, trong đó có hỗ trợ chống dịch cúm gia cầm.
Hiệp định mới giữa Nhật Bản với khối ASEAN phải tạo ra các
giá trị gia tăng và bổ sung cho các hiệp định song phương. Hiệp định khu
vực phải góp phần nâng cao giá trị của các hiệp định song phương và ngược
lại, các hiệp định song phương đóng vai trò mở đường để tạo ra một mô
hình hiệp định khu vực hiệu quả hơn.
Về khả năng ký kết hiệp định về đầu tư, bài toán tương tự cũng
được đặt ra tại tiểu ban về đầu tư, với mục tiêu có thể đạt được thỏa thuận
về vấn đề này vào năm 2011. Cho đến nay, Nhật Bản đã có hiệp định đầu tư
song phương với 9 nước thành viên ASEAN (trừ Mianma).
Ngoài ra, tại Hội nghị hai bên đã thảo luận về chương trình hợp
tác trong khuôn khổ AJCEP. ASEAN dự định đưa ra một số đề xuất hợp tác
trong quản lý rừng và xây dựng nhãn mác về môi trường trong các sản
phẩm, hàng hóa, lĩnh vực mà Nhật Bản có ưu thế.
• Việt Nam được hưởng lợi từ hiệp định
Việt Nam là một trong số các nước hưởng tương đối nhiều ưu
đãi trong hiệp định này. Việt Nam có lộ trình cam kết dài hơn so với một số
nước khác nhưng lại được hưởng ưu đãi như các nước ASEAN khác khi
tiếp cận thị trường Nhật Bản. Tỷ lệ sử dụng các ưu đãi thuế quan của doanh
11
nghiệp Việt Nam trong AJCEP tương đối cao, chiếm khoảng 27% tổng kim
ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản. Đây có thể coi là một mô hình đàm phán
thành công của Việt Nam bởi vì AJCEP thực sự mang lại lợi ích cho các
doanh nghiệp trong nước. Đối với các nước khác, việc thực hiện AJCEP
tương đối thuận lợi. Trong giai đoạn từ 2010 đến khi kết thúc, ASEAN và
Nhật Bản dự kiến sẽ đưa ra lộ trình toàn diện cho các cam kết cắt giảm thuế

quan.
Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thương mại hàng hóa,
ASEAN và Nhật Bản cùng trao đổi quan điểm về việc cải thiện các quy tắc
về xuất xứ theo hướng dễ thực hiện hơn nhằm giúp các doanh nghiệp hai
bên tiếp cận thị trường của nhau. Nhật Bản và ASEAN đã nêu ra một số
mặt hàng họ quan tâm, nhưng hai bên chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quan
điểm của nhau và nhất trí sẽ tiếp tục thảo luận trong thời gian tới.
Nhật Bản dành ưu đãi GSP cho một số mặt hàng của các nước
đang phát triển và kém phát triển, trong đó có Việt Nam khi xuất khẩu hàng
hóa sang nước này.
Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của
WTO từ 1/1/2007, với cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hóa từ mức
bình quân hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm. Đây là
cơ hội để các DN có thể tận dụng những ưu đãi này để nhập khẩu nguồn
nguyên vật liệu và công nghệ của Nhật Bản để sản xuất các sản phẩm có giá
trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu.
2.1.5 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)
12
Nhật Bản dành ưu đãi GSP cho một số mặt hàng của các nước
đang phát triển và kém phát triển, trong đó có Việt Nam khi xuất khẩu hàng
hóa sang nước này. Việt Nam đã chính thức ký Hiệp định Đối tác kinh tế
toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) vào ngày 1/4/2008 và hiệp định này
dự kiến sẽ có hiệu lực từ cuối năm 2008. Trong khuôn khổ AJCEP, Việt
Nam cam kết loại bỏ thuế quan đối với 82% giá trị thương mại hai chiều
Việt – Nhật trong 16 năm. Việt Nam mặc nhiên hưởng lợi từ ưu đãi của
Nhật Bản cam kết dành chung cho ASEAN. Theo cam kết AJCEP, Nhật Bản
đã loại bỏ thuế quan đối với gần 94% giá trị thương mại Việt – Nhật trong
vòng 10 năm.
Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của

WTO từ 1/1/2007, với cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hóa từ mức
bình quân hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% trong vòng 5-7 năm. Đây là
cơ hội để các DN có thể tận dụng những ưu đãi này để nhập khẩu nguồn
nguyên vật liệu và công nghệ của Nhật Bản để sản xuất các sản phẩm có giá
trị gia tăng cao, hàm lượng công nghệ cao phục vụ cho tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu.
2.1.6 Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản ( hay được gọi
tắt là JVEPA) là một hiệp định tự do hóa thương mại, dịch vụ, bảo hộ đầu tư
và khuyến khích thương mại điện tử giữa Việt Nam và Nhật Bản. Đây là
hiệp định tự do hóa thương mại song phương đầu tiên của Việt Nam và là
hiệp định đối tác kinh tế thứ mười của Nhật Bản.
Khái quát
13
Hai nước có ý định thành lập hiệp định này ngay từ năm 2005
và bắt đầu tiến hành đàm phán về Hiệp định này từ tháng 1 năm 2007 ngay
sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Sau 9 phiên đàm
phán chính thức và nhiều phiên đàm phán không chính thức, hai bên đã hoàn
tất thỏa thuận nguyên tắc vào tháng 9 năm 2008 và chính thức ký hiệp định
vào ngày 25/ 12 /2008.
Nội dung cơ bản của Hiệp định
 Theo cam kết của phía Nhật Bản, thuế suất bình quân đánh vào hàng hóa
của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản sẽ giảm dần xuống 2,8% vào năm
2018.
Nhật Bản cam kết sẽ giảm thuế suất cho 95% tổng số dòng
thuế, trong đó khoảng vài ngàn dòng thuế xuống 0%. Nếu Hiệp định được
ký kết và có hiệu lực. Đây là mức cam kết cao nhất của Nhật Bản đối với
một nước thành viên ASEAN. Cụ thể
- Ít nhất sẽ có 86% hàng nông lâm thủy sản và 97% hàng công nghiệp Việt
Nam xuất sang Nhật sẽ được hưởng ưu đãi thuế.

- Các mặt hàng khoáng sản sẽ được hưởng thuế nhập khẩu là 0% ngay lập
tức kể từ khi hiệp định có hiệu lực.
- Các mặt hàng tôm sẽ được giảm thuế suất nhập khẩu xuống 1%-2% ngay
lập tức, các mặt hàng chế biến từ tôm được giảm xuống còn 3,2%-5,3%
ngay lập tức, mặt hàng mực đông lạnh được giảm xuống còn 3,5% trong
vòng 5 năm.
14
Những mức này áp dụng trên cho Việt Nam cao nhất trong số
các EPA (Hiệp định đối tác kinh tế) với các nước ASEAN.
Việt Nam được hưởng 1638 dòng thuế tương đương mức cam kết tốt nhất
mà Nhật dành cho một số nước ASEAN. 23 trong tổng số 30 mặt hàng nông
lâm thủy sản có giá trị xuất khẩu cao nhất của Việt Nam sang Nhật sẽ được
hưởng thuế suất 0% ngay lập tức hoặc qua lộ trình không quá 10 năm khi
nhập khẩu vào Nhật Bản...
 Trong khi đó, thuế suất bình quân đánh vào hàng của Nhật Bản nhập
khẩu vào Việt Nam sẽ giảm dần xuống còn 7% vào năm 2018.
- Khoảng 88% tổng số dòng thuế nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt Nam sẽ
được được giảm trong vòng 10 năm và 93% tổng số dòng thuế sẽ được giảm
trong vòng 16 năm.
- Các linh kiện sản xuất màn hình phẳng và DVD sẽ được giảm thuế suất
nhập khẩu xuống 3% trong vòng 2 năm, máy ảnh kỹ thuật số sẽ được giảm
xuống 10% trong vòng 4 năm, tivi màu sẽ được giảm xuống còn 40% trong
vòng 8 năm.
- Thuế suất nhập khẩu từ Nhật Bản vào Việt nam đối với các linh kiện sản
xuất ô tô như hộp số sẽ được giảm xuống còn 10%-20% trong vòng 10 năm,
động cơ và các linh kiện sản xuất động cơ ô tô sẽ được giảm xuống còn
3%-12% và phanh xuống còn 10% trong vòng 10-15 năm, các loại ốc sẽ
giảm xuống còn 5% trong vòng 2 năm. Các mặt hàng thép tấm cũng là đối
tượng được giảm thuế suất nhập khẩu xuống còn 0%-15% trong vòng 15
năm.

15
Tuy nhiên, vì đây là một hiệp định đối tác kinh tế toàn diện, chứ không đơn
thuần là một hiệp định thương mại tự do, nên ngoài hàng hóa, còn có dịch vụ
cũng sẽ được tự do hóa. Đầu tư của nước này vào nước kia sẽ được bảo hộ.
Và còn có nhiều nội dung hợp tác kinh tế khác.
Tác động Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản
Những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản ngày
càng tăng: năm 2001 đạt 351 tỷ USD, năm 2004 đạt 454 tỷ USD và năm
2006 đạt 580 tỷ USD, năm 2007 đạt 621 tỷ USD (tăng 7,2% so với năm
2006), trong đó: nông thủy sản, thực phẩm là 51 tỷ USD (chiếm 8,3% tổng
kim ngạch nhập khẩu), hải sản là 14,6 tỷ USD (chiếm 2,4%), may mặc là 30
tỷ USD (chiếm 4,9%)…
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Nhật Bản năm
2002 đạt 4,9 tỷ USD, tới năm 2007 tăng lên 12,2 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với
5 năm trước. Cán cân thương mại giữa hai nước tương đối cân bằng.Từ năm
2000-2004, Việt Nam nhập siêu khoảng trên 50 triệu USD/năm;Năm
2005-2006 Việt Nam xuất siêu trên 300 triệu USD/năm và đến năm 2007,
nhập siêu khoảng 108 triệu USD (chủ yếu là do nhập khẩu máy móc thiết bị
gia tăng do có sự gia tăng trong đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt
Nam). Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật đạt 6,069
tỷ USD, tăng 16,7% so với năm 2006 và Nhật Bản tiếp tục là thị trường xuất
khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Bước sang năm 2008, với sự nỗ
lực của cộng đồng doanh nghiệp hai nước, kim ngạch thương mại hai chiều
đã có tín hiệu tăng trưởng tốt. Tính đến hết tháng 7 năm nay, kim ngạch
thương mại hai chiều đã đạt xấp xỉ 10 tỷ USD, tăng 59,8% so với cùng kỳ
năm ngoái, trong đó, Việt Nam xuất siêu trên 180 triệu USD. Như vậy, có
thể tin tưởng rằng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Nhật
16
bản của cả năm 2008 sẽ vượt xa con số 15 tỷ USD, hoàn thành trước hai
năm mục tiêu mà lãnh đạo cấp cao hai nước đề ra.

Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu sang nước này 7,73 tỉ USD,
chiếm 10,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngược lại, Việt
Nam nhập khẩu từ Nhật Bản 8,1 tỷ USD, chiếm 11,3% tổng kim ngạch nhập
khẩu của Việt Nam, trong đó máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng đạt 2 tỷ
USD, sắt thép 966 triệu USD, những mặt hàng này là rất cần thiết cho quá
trình công nghiêp hóa hiện đại hóa đất nước. Chỉ trong 2 tháng đầu năm nay,
kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản đã hơn 1,2 tỉ USD, chiếm khoảng 10%
so với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong đó, Việt Nam xuất
sang Nhật chủ yếu là dệt may, thủy sản, đồ thủ công mỹ nghệ. Đây đồng
thời cũng là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Kế hoạch đặt ra
cho năm 2011, dự kiến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nhật sẽ tăng
trưởng 18% so với năm ngoái.
2.2 Phối hợp các công cụ chính sách trong quan hệ thương mại Việt-
Nhật:
-Kể từ sau Thế chiến thứ hai cho đến trước khi hai nước Việt -
Nhật ký kết Hiệp định thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao vào ngày
21/9/1973, quan hệ Việt - Nhật tuy vẫn duy trì song sự tiến triển còn rất
chậm chạp. Nguyên nhân chủ yếu là vì các lý do chính trị khi đó thế giới vẫn
còn chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống XHCN và TBCN, Nhật Bản hoàn
toàn phụ thuộc Mỹ để chống lại hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu,
trong đó có Bắc Việt Nam (Việt Nam dân chủ cộng hoà), còn Nam Việt
Nam(Việt Nam cộng hoà) khi đó là liên minh của Mỹ-Nhật.
- Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến
nay, quan hệ Việt Nam-Nhật Bản đã phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trên
17
tất cả mọi lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế và văn
hoá.
Phối hợp các công cụ chính sách trong quan hệ thương mại Việt-
Nhật:
Hiện hàng hóa Việt Nam xuất sang Nhật chỉ chiếm 1,19% trong

tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này và khoảng 10% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam đang có
rất nhiều lợi thế ở Nhật Bản như giảm, miễn thuế, ưu đãi thuế quan; những
thay đổi trong chính sách kinh tế thương mại của Nhật Bản đang có lợi cho
doanh nghiệp Việt Nam như tăng hoạt động xuất khẩu hàng hóa về hướng
Đông (ký nhiều hiệp định thương mại song phương với ASEAN)...
Trước những tác động của tình hình kinh tế Nhật, hoạt động
xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2011 sẽ gặp không ít khó khăn, trong đó
có nhiều mặt hàng chủ lực. Đối với mặt hàng dệt may, hiện nhiều doanh
nghiệp đã nhận được những đơn hàng lớn cho cả năm. Nhưng theo khuyến
cáo, các doanh nghiệp nên lựa chọn những đơn hàng phù hợp với năng lực
của mình, với mức giá tốt. Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt lao động đang
được xem là vấn đề nan giải và nhiều doanh nghiệp luôn trong tình trạng lo
bị phạt, mất hợp đồng vì giao hàng chậm nên đã không dám nhận thêm
nhiều đơn hàng, không mở rộng được quy mô sản xuất.
Trong xuất khẩu thủy sản, tháng 10/2010, sau khi một số lô tôm
từ Việt Nam vào Nhật Bản bị phát hiện nhiễm trifuralin vượt quá giới hạn,
cơ quan thẩm quyền của Nhật Bản đã quyết định áp chế độ kiểm tra 100%
các lô tôm từ Việt Nam. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và
18

×