Tải bản đầy đủ (.pdf) (18 trang)

Bài tiểu luận về cuộc cách mạng 4.0

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (716.8 KB, 18 trang )

Mục lục
Trang
A. Phần mở đầu. .................................................................................................. 2
1.Tính cấp thiết của đề tài. ................................................................................. 2
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. ................................................................. 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 3
5. Ý thực tiễn của đề tài. .................................................................................... 3
B. Phần nội dung. ................................................................................................ 4
Chương 1: Đôi nét về cuộc cách mạng công nghiệp lần 4. ........................... 4
1.1. Khái lược sự ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp. ..................... 4
1.2.Bản chất của nền công nghiệp 4.0............................................................. 5
1.3. Một số thành tựu nổi bật của các quốc gia đang phát triển trên thế giới
trong kỉ nguyên 4.0.......................................................................................... 6
Chương 2: Phần thực trạng cuộc cách mạng 4.0 ở Việt Nam và liên hệ
thực tiễn sinh viên hiện nay. ............................................................................ 8
2.1. Những thời cơ thuận lợi ở Việt Nam trong nền công nghiệp 4.0. ........... 8
2.2. Thách thức đối với Việt Nam trong cuộc CMCN 4.0 ............................ 10
2.3. Thách thức đối với ngành tài chính, ngân hàng ở Việt Nam. ................ 12
2.4. Liên hệ thực tiễn đối với sinh viên hiện nay. ......................................... 14
Chương 3: Kết luận và giải pháp..................................................................... 15
3.1. Kết luận. .................................................................................................... 15
3.2 Giải pháp. ................................................................................................... 15

1


A. Phần mở đầu.
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Thế giới chúng ta đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp lớn trong lịch
sử đánh dấu những bước tiến quan trọng trong lịch sử. Mỗi cuộc cách mạng công


nghiệp đều để lại những thành quả vô cùng to lớn, là tiền đề cho những bước phát
triển nhảy vọt của nhân loại. Giờ đây chúng ta lại bắt đầu bước vào ngưỡng cửa
của một cuộc cách mạng công nghiệp mới - cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
4. Đây là cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi triệt để cách chúng ta sống, cách chúng
ta làm việc và quan hệ với nhau. Hiện chưa ai có thể lường trước được nó sẽ
chuyển biến như thế nào, nhưng có một điều chắc chắn rằng, chúng ta cần phải
nắm bắt và định hình với cuộc cách mạng này một cách đồng bộ, toàn diện, với
sự tham gia của tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát
triển như Việt Nam chúng ta hiện nay.
Cuộc Cách mạng 4.0 với nền tảng là sự hội tụ đáng kinh ngạc của những
đột phá công nghệ mới nổi, bao gồm các lĩnh vực trên quy mô rộng lớn có thể kể
đến như trí thông minh nhân tạo (AI), rô bốt, mạng lưới vạn vật kết nối internet
(Internet of things – IOT), các phương tiện không người lái, công nghệ in 3D,
công nghệ nano, công nghệ sinh học, khoa học vật liệu, lưu trữ năng lượng và
máy tính lượng tử... đe dọa trực tiếp tới việc làm của hàng triệu lao động.
Từ những lí do đó, tôi xin được lựa chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức
của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với các quốc gia đang phát triển. Liên hệ
thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Thông qua việc nghiên cứu, phân tích đặc điểm chung của nền nền công
nghiệp 4.0. Từ đó, thấy được thời cơ và giải quyết thách thức tồn tại ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, thấy rõ được ý thức, trách nhiệm
của mỗi sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi của cuộc cách mạng to lớn đó.
2


3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Cơ hội và thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0.
Phạm vi nghiên cứu: Các quốc gia đang phát triển và Việt Nam hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng thông tin được thu thập trên
các tài liệu, sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Tiến hành phân tích,
so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài.Vận
dụng sự hiểu biết cá nhân và các tài liệu tham khảo.
5. Ý thực tiễn của đề tài.
Ý nghĩa thực tiễn: Giúp mọi người có cách tiếp cận toàn diện mới và thay
đổi suy nghĩ, cách nhìn nhận, tìm ra cách thức mới để biến những thách
thức thành những cơ hội mới của kỉ nguyên cách mạng công nghiệp lần
thứ 4. Đặc biệt, các thế hệ trẻ hiện nay phải tiếp tục nâng cao nhận thức và
sự hiểu biết qua tất cả các lĩnh vực của xã hội, từ đó đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước gắn với nền kinh tế tri thức hiện nay.

3


B. Phần nội dung.
Chương 1: Đôi nét về cuộc cách mạng công nghiệp lần 4.
1.1. Khái lược sự ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp.
Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự
thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa và kỹ thuật, xuất phát
từ nước Anh sau đó lan tỏa ra toàn thế giới.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất trải dài từ nửa cuối thế kỷ 18 đến
nửa đầu thế kỷ 19. Bắt đầu bằng việc xây dựng các tuyến đường sắt và phát minh
ra động cơ hơi nước, cuộc cách mạng này đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên
sản xuất cơ khí góp phần tăng năng suất lao động cho tất cả lĩnh vực. Cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ hai, diễn ra từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, bởi sự
ra đời của điện năng và dây chuyền lắp ráp đưa con người tiếp cận gần hơn tới
cuộc sống văn minh. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào khoảng
những năm 60 của thế kỉ trước với sự ra đời của sản xuất tự động dựa vào máy
tính, thiết bị điện tử và Internet, tạo nên một thế giới kết nối. Nó thường được gọi

là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác bởi sự phát
triển của chất bán dẫn, máy tính cỡ lớn (mainframe) (thập niên 1960), máy tính
cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990). Và chúng ta đang
sống trong thời đại 3.0 đang có bước chuyển mình sang nền cách mạng công
nghiệp 4.0.
Thuật ngữ “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4” đã được áp dụng cho sự
phát triển công nghệ quan trọng trong 75 năm qua, và là vấn đề được đưa bàn
luận trong cuộc thảo luận về học thuật. Khái niệm “Công nghiệp 4.0” hay “nhà
máy thông minh” lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ công nghiệp Hannover tại
Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 2011 và được Chính phủ Đức đưa vào “Kế
hoạch hành động chiến lược công nghệ” vào năm 2012. Công nghiệp 4.0 nhằm
thông minh hóa quá trình sản xuất và quản lí trong ngành công nghiệp chế tạo.
Sự ra đời Công nghiệp 4.0 tại Đức đã thúc đẩy các nước tiên tiến khác như Mĩ,
4


Nhật,Trung Quốc, Ấn Độ, thúc đẩy phát triển các chương trình tương tự nhằm
duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
1.2.Bản chất của nền công nghiệp 4.0.
“CMCN 4.0 được hình thành dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp
tất cả các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất;
bao gồm những công nghệ đã, đang và sẽ có tác động lớn nhất như: mạng Internet
kết nối vạn vật (IOT), điện toán đám mây, công nghệ in 3D, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu nano, công nghệ tự động hóa, người máy, từ công nghệ tái tạo
đến toán lượng tử v.v... Cuộc cách mạng này có xu hướng tự động hóa và trao đổi
dữ liệu trong công nghệ sản xuất tạo điểu kiện ra đời các nhà máy thông minh mà
ở đó các hệ thống mạng vật lí ảo tương tác với nhau theo thời gian thực khiến con
người tham gia vào chuỗi giá trị thông qua việc sử dụng các dịch vụ này.
Tất cả những sự phát triển và công nghệ mới đều có một đặc điểm chung:
đó là tận dụng sức mạnh lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Tất cả những

đổi mới được mô tả trong chương này được kích hoạt và được tăng cường nhờ
sức mạnh kỹ thuật số. Ví dụ, việc giải mã trình tự gen không thể được thực hiện
nếu thiếu tiến bộ trong sức mạnh tính toán và phân tích dữ liệu. Tương tự vậy,
những con rô bốt cao cấp sẽ không tồn tại mà không có trí thông minh nhân tạo,
mà trong đó, bản thân trí thông minh nhân tạo lại phần lớn phụ thuộc vào sức
mạnh điện toán.
Để xác định các xu thế lớn và truyền đạt cái nhìn bao quát về các yếu tố
thúc đẩy công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tôi đã chia danh
sách các yếu tố thành ba nhóm: vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cả ba nhóm đều
liên quan chặt chẽ với nhau và các công nghệ khác nhau đều hưởng lợi từ mỗi
nhóm dựa trên những khám phá và tiến bộ mà các nhóm này tạo ra.

5


1.3. Một số thành tựu nổi bật của các quốc gia đang phát triển trên thế giới
trong kỉ nguyên 4.0.
Thứ nhất, có nhiều phương tiện tự lái khác ngày càng được ra đời bao
gồm: xe hơi, xe tải, thiết bị bay không người lái, máy bay và tàu thuyền đang dần
được chạy thử nghiệm. Khi các công nghệ như những cảm biến và trí tuệ nhân
tạo phát triển, khả năng của tất cả 11 các phương tiện tự vận hành này cũng được
cải thiện với tốc độ nhanh chóng. Khi những thiết bị bay không người lái có khả
năng cảm nhận và phản ứng với môi trường (thay đổi định tuyến để tránh va
chạm), nó có thể thực hiện những nhiệm vụ như kiểm tra đường dây tải điện hoặc
cung cấp vật tư y tế trong vùng chiến tranh. Ví dụ, trong nông nghiệp, việc sử
dụng thiết bị bay không người lái – kết hợp với phân tích dữ liệu – sẽ cho phép
sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và nước chính xác và hiệu quả hơn.
Thứ hai, công nghệ in 3D hay còn được gọi là công nghệ sản xuất đắp
dần (additive manufacturing). Đó là công việc tạo ra một đối tượng vật lý bằng
cách in ra từng lớp từ một bản vẽ kỹ thuật số 3D hoặc một mô hình có trước.

Công nghệ này khác hoàn toàn so với sản xuất cắt gọt vẫn thường được dùng để
chế tạo từ trước tới nay, mà theo đó từng lớp sẽ được loại bỏ khỏi một khối vật
liệu ban đầu cho đến khi thu được hình dạng mong muốn. Ngược lại, công nghệ
in 3D bắt đầu với vật liệu rời và sau đó tạo nên một vật thể dưới dạng ba chiều từ
một mẫu kỹ thuật số. Công nghệ này đang được sử dụng trong một loạt các ứng
dụng, từ những ứng dụng với kích thước lớn (tua-bin gió) đến nhỏ (cấy ghép y
học). Hiện nay, nó chủ yếu bị giới hạn trong các ngành công nghiệp chế tạo máy
móc tự động, hàng không vũ trụ và y tế. Không giống như các loại hàng hóa được
sản xuất hàng loạt, các sản phẩm in 3D có thể được tùy chỉnh dễ dàng. Khi mà
những hạn chế hiện tại về kích thước, chi phí và tốc độ đang dần được khắc phục,
công nghệ in 3D sẽ trở nên phổ biến hơn, áp dụng đổi với cả các thành phần điện
tử tích hợp như bảng mạch in và thậm chí cả các tế bào và cơ quan của con người.
Các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu về công nghệ 4D, một quá trình tạo ra
một thế hệ mới các sản phẩm có khả năng tự biến chuyển để đáp ứng với những
6


thay đổi môi trường như nhiệt độ và độ ẩm. Công nghệ này có thể được sử dụng
trong sản xuất quần áo và giày dép, cũng như những sản phẩm liên quan đến sức
khoẻ như các mô cấy được thiết kế để thích ứng với cơ thể con người.
Thứ ba, một trong những cây cầu chính kết nối các ứng dụng vật lý và kỹ
thuật số được tạo ra bởi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là mạng lưới vạn
vật kết nối Internet (IoT) – đôi khi được gọi là “Internet kết nối vạn vật”. Ở dạng
đơn giản nhất, nó có thể được mô tả như một mối quan hệ giữa các sự vật (các
sản phẩm, dịch vụ, địa điểm, v.v) và con người, thông qua các công nghệ kết nối
và các nền tảng khác nhau. Trong quá trình đó, mạng lưới vạn vật kết nối internet
IoT sẽ có những tác động biến đổi trên tất cả các ngành công nghiệp, từ sản xuất
đến cơ sở hạ tầng cho tới chăm sóc sức khỏe. Xem xét việc giám sát từ xa – một
ứng dụng phổ biến của IoT. Bất kỳ một kiện, pa-lét hay container nào giờ đây
cũng có thể được trang bị một thẻ cảm ứng, máy phát hoặc thiết bị nhận dạng tần

số sóng vô tuyến (RFID) cho phép công ty có thể theo dõi nó đang di chuyển đến
đâu trong chuỗi cung ứng – nó hoạt động như thế nào, được sử dụng như thế
nào... Tương tự, khách hàng có thể liên tục theo dõi (hầu như là ở thời gian thực)
tiến độ của gói hàng hay tài liệu mà họ đang mong đợi. Đối với các công ty đang
kinh doanh có chuỗi cung ứng dài và phức tạp, đây là sự đổi mới. Trong tương
lai gần, những hệ thống giám sát tương tự cũng sẽ được áp dụng trong việc di
chuyển và theo dõi con người.
Thứ tư, đó là những sáng kiến trong lĩnh vực sinh học – và đặc biệt trong
lĩnh vực di truyền – đều vô cùng ngoạn mục. Trong những năm gần đây, chúng
ta đã và đang đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc giảm chi phí và ngày
càng dễ dàng hơn trong giải mã trình tự gen, và gần đây, là việc kích hoạt hay
chỉnh sửa gen. Phải mất hơn 10 năm, với chi phí 2,7 tỷ đô la, để hoàn thành Dự
án Bộ Gen người. Ngày nay, một bộ gien có thể được giải mã chỉ trong vài giờ
và chi phí không tới một ngàn đô la. Với những tiến bộ trong sức mạnh máy tính,
các nhà khoa học không còn phải giải mã bằng các phép thử đúng sai; thay vào
đó, giờ đây, họ thử nghiệm cách thức các biến dị gen gây ra các bệnh lý đặc thù.
7


Hiện tại, hệ thống siêu máy tính Watson của IBM có thể giúp đưa ra khuyến nghị,
chỉ trong vài phút, về các phương pháp điều trị cá nhân cho các bệnh nhân ung
thư bằng cách so sánh lịch sử bệnh lý và quy trình điều trị, kết quả chụp cắt lớp
và dữ liệu di truyền với (gần như) tất cả những kiến thức y học cập nhật trên toàn
cầu. Trở lại với vấn đề chỉnh sửa di truyền, mà hiện nay được thực hiện dễ hơn
với việc xác định bộ gen người ngay trong phôi sống, có nghĩa là chúng ta có thể
thấy sự ra đời của các em bé “được thiết kế” trong tương lai – những em bé sở
hữu những nét đặc thù hoặc có khả năng kháng một loại bệnh cụ thể. Không cần
phải nói, các cuộc tranh luận về cơ hội và thách thức của những khả năng này
đang diễn ra. Đáng chú ý, vào tháng 12 năm 2015, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc
gia và Học viện Y khoa Quốc gia của Mỹ, Viện Khoa học Trung Quốc và Hội

Hoàng gia Anh đã triệu tập một Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về chỉnh sửa gen
người. Dù có các cuộc thảo luận như vậy, chúng ta vẫn chưa sẵn sàng đối mặt với
thực tế và hậu quả của những kỹ thuật di truyền mới nhất này, cho dù nó đang
dần xuất hiện. Những thách thức về xã hội, y tế, đạo đức và tâm lý mà nó đặt ra
là rất lớn và cần phải được giải quyết, hoặc ít nhất, là phải được đề cập đến một
cách thích đáng.
Chương 2: Phần thực trạng cuộc cách mạng 4.0 ở Việt Nam và liên hệ thực
tiễn sinh viên hiện nay.
2.1. Những thời cơ thuận lợi ở Việt Nam trong nền công nghiệp 4.0.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động mạnh đến Việt Nam. Tạo ra
thời cơ mới cho Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn và hiệu quả hơn vào nền kinh
tế thế giới, tiến thẳng vào lĩnh vực công nghiệp mới, tranh thủ các thành tựu khoa
học- đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thu hẹp
khoảng cách phát triển.
Thực tế cho thấy, nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã xác định ngành kinh
tế - kỹ thuật mũi nhọn là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy lực lượng
sản xuất phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, từng bước hiện thực
8


hóa chiến lược “phát triển rút ngắn”, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.Thông
qua việc ứng dụng những thành tựu công nghệ hiện đại của các nước tiên tiến vào
một số lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế để nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm với giá thành hợp lý, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Thí dụ đầu
tư phát triển ngành du lịch biển và dịch vụ trung chuyển hàng hải; ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, bảo đảm chất lượng, nâng cao giá trị kinh tế
sản phẩm; hướng dẫn nông dân sản xuất nông sản sạch, hướng tới phát triển nền
nông nghiệp xanh bền vững, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu,... Điều này vừa
khai thác hiệu quả nguồn lực sẵn có, nâng cao năng lực sản xuất trong nước, vừa
cải thiện giá trị xuất khẩu.

Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, chính trị của giai
cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê,
hiện nay, tổng số công nhân nước ta chiếm tỷ lệ khoảng 13% số dân và 24% lực
lượng lao động xã hội, bao gồm số công nhân làm việc trong các khu công nghiệp,
các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp
xúc với máy móc, thiết bị tiên tiến, làm việc với các chuyên gia nước ngoài nên
được nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, rèn luyện tác phong công nghiệp,
phương pháp làm việc tiên tiến. Lớp công nhân trẻ được đào tạo nghề theo chuẩn
nghề nghiệp ngay từ đầu, có trình độ học vấn, văn hóa, được rèn luyện trong thực
tiễn sản xuất hiện đại, sẽ là lực lượng lao động chủ đạo, có tác động tích cực đến
sản xuất công nghiệp, giá trị sản phẩm công nghiệp, gia tăng khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế trong tương lai…
Một lợi thế khác phải kể đến là Chính phủ quan tâm đặc biệt tới cuộc cách
mạng công nghiệp 4.0 tập trung phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, ưu tiên
phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông
minh, đô thị thông minh, thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, cải cách giáo
dục và dạy nghề, đào tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công
nghệ sản xuất mới...

9


Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do (FTA),
do đó Việt Nam có độ mở rất lớn trong nỗ lực nắm bắt cách mạng công nghiệp
4.0. Tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 ở mức trung bình thấp song Việt Nam
cũng có những lợi thế như: Tỷ lệ người dùng công nghệ thông tin cao, các doanh
nghiệp đi đầu về công nghệ thông tin của Việt Nam có trình độ phát triển không
thấp hơn mức trung bình của thế giới tiêu biểu phải kể tới như: FPT Sofware công ty phần mềm số 1 tại Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân
đội (Viettel) cung cấp các dịch vụ viễn thông hàng đầu trong nước và trên thế
giới, Tập đoàn công nghệ BKAV luôn đi đầu trong các lĩnh vực an ninh mạng,

phần mềm, chính phủ điện tử, nhà sản xuất smartphone và các thiết bị điện tử
thông minh v.v...
2.2. Thách thức đối với Việt Nam trong cuộc CMCN 4.0
Thứ nhất, với đặc trưng là ứng dụng phổ biến các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, trí tuệ nhân tạo và kết nối mạng, sự phát triển của công nghiệp
4.0 đặt ra nhu cầu cấp bách phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong
lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ cao. Nhiều nghiên cứu cho thấy, công
nghiệp 4.0 tác động rất lớn đến cơ cấu nguồn nhân lực. Sẽ có sự chuyển dịch
mạnh mẽ trong thị trường lao động theo hướng từ nguồn nhân lực giá rẻ - trình
độ thấp sang nguồn nhân lực chất lượng cao, do vậy thị trường lao động truyền
thống có nguy cơ bị phá vỡ.
Thách thức lớn nhất đối với lĩnh vực lao động việc làm là hiện nay Việt
Nam có cơ cấu lao động lạc hậu, trình độ thấp, thiếu nghiêm trọng nguồn nhân
lực chất lượng cao. Theo Tổng cục Thống kê, hiện nay tổng dân số trong độ tuổi
lao động của nước ta (từ 15 tuổi trở lên) là 68.819.816 người, trong đó 82,7%
chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Nhân lực trình độ cao (tính từ đại học
trở lên) chiếm số lượng ít, chất lượng nhìn chung chưa đáp ứng kịp những thay
đổi nhanh chóng của công nghệ hiện đại.Cụ thể: trình độ đại học có 4.527.780
người (chiếm 6,58% lực lượng lao động); thạc sĩ: 215.343 người (chiếm 0,31%);
10


tiến sĩ: 37.157 người (chiếm 0,05%)(4). Tính đến năm 2016, tổng số giáo sư, phó
giáo sư là 12.322 người; trong đó có 1.745 giáo sư và 10.577 phó giáo sư(5). Như
vậy, lực lượng lao động của nước ta hiện nay chủ yếu là lao động giản đơn, trình
độ thấp. Với chất lượng nguồn nhân lực như vậy, tiếp cận công nghiệp 4.0 sẽ là
một thách thức lớn đối với Việt Nam.
Đổi mới công nghệ và tăng cường ứng dụng công nghệ rô bốt trong quá
trình sản xuất là xu hướng tất yếu, song cũng là nguy cơ lớn đối với doanh nghiệp
và người lao động, đồng thời là nguyên nhân làm gia tăng phân hóa giàu - nghèo,
phân hóa xã hội.

Do vậy, chú trọng tăng nhanh tỷ lệ nguồn nhân lực có trình độ cao hướng
tới tiêu chuẩn quốc tế là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Chính phủ và các bộ, ngành
liên quan cần điều chỉnh các chính sách về đào tạo, nâng cao kỹ năng, phát triển
nguồn nhân lực thích ứng với sự biến đổi của công nghệ và phát triển của cách
mạng công nghiệp mới; đồng thời tập trung xây dựng hệ thống an sinh xã hội với
những trụ đỡ về việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội.
Thứ hai, CMCN 4.0 cũng tạo ra thách thức với Chính phủ Việt Nam. Ảnh
hưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư định hình lại các hoạt động và tổ
chức của thể chế công. Để Nhà nước sữa chữa những thất bại, khuyết tật của thị
trường và định hướng kinh tế phát triển hiệu quả thì năng lực Nhà nước mang
tính quyết định. Đặc biệt, Việt Nam là quốc gia theo đuổi nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, nên vai trò Nhà nước hết sức quan trọng để kinh tế
Nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa;
yêu cầu Chính phủ phải hiệu quả trong thời đại cuộc CMCN 4.0 cũng là thách
thức vô cùng to lớn.
Thứ ba, Các nước công nghiệp mới nổi và nhiều nước đang phát triển đều
cạnh tranh quyết liệt, tìm cách thu hút, hợp tác để có đầu tư, chuyển giao công
nghệ, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu công nghệ từ cuộc Cách mạng
công nghiệp thứ 4 đem lại để giành lợi thế phát triển. Áp lực lớn cho Việt Nam
về sự tỉnh táo trong hội nhập, hợp tác quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường
11


nhất là thị trường khoa học công nghệ, cải thiện đổi mới môi trường đầu tư kinh
doanh, tích lũy đầu tư để thu hút chuyển giao, ứng dụng nhanh những thành tựu
khoa học công nghệ vào phát triển nền kinh tế.
Thứ tư, Thêm vào đó, cuộc CMCN4 diễn ra với tốc độ vô cùng nhanh chắc chắn
sẽ đặt Việt Nam trước nguy cơ tụt hậu hơn nữa trong phát triển so với thế giới và
rơi vào thế bị động trong đối phó với những mặt trái của cuộc cách mạng này.
2.3. Thách thức đối với ngành tài chính, ngân hàng ở Việt Nam.

Mặc dù không nằm trong 9 khu vực/lĩnh vực được đánh giá là chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ nhất của CMCN 4.0 nhưng tài chính, ngân hàng - khu vực đang
được coi là đứng đầu về ứng dụng công nghệ thông tin chắc chắn cũng sẽ không
nằm ngoài vòng xoáy của CMCN 4.0.
Thứ nhất, chịu nhiều ảnh hưởng của đồng tiền ảo Bitcoin. Sự phát triển
của Bitcoin cũng như các tiền điện tử khác không phải do ngân hàng trung ương
phát hành sẽ buộc ngân hàng trung ương các nước phải thay đổi cách thức điều
hành chính sách tiền tệ để thích ứng do khả năng ảnh hưởng tới các chỉ số tiền tệ
trong mục tiêu ổn định giá cả. Ngân hàng trung ương cũng phải đối mặt với rủi
ro rơi vào tình trạng giống đô la hóa vì bitcoin có thể làm cho việc giao dịch ngoại
hối trở nên hết sức dễ dàng. Sự phát triển của bitcoin cũng có thể có những tác
động tới hệ số tạo tiền đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế nếu
được sử dụng rộng rãi.
Thứ hai, với việc ứng dụng nhiều hơn công nghệ thông tin, ứng dụng
chuyển đổi kỹ thuật số, các sản phẩm của ngân hàng có thể tích hợp được với
nhiều sản phẩm dịch vụ phụ trợ để làm hài lòng khách hàng. Trong khoảng 10
năm trở lại đây, sự xuất hiện của điện thoại thông minh (Smartphone) đã thay đổi
cách con người giao tiếp và tương tác, kéo theo sự thay đổi trong kênh phân phối,
mạng lưới bán hàng và cách thiết kế sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng. Kênh
bán hàng qua Internet, Mobilebanking, Tablet Banking, mạng xã hội (Social
Media), phát triển ngân hàng kỹ thuật số, giao dịch không giấy tờ là xu thế phát
12


triển mạnh. Đặc biệt, việc sử dụng các công nghệ như giao tiếp qua web (webchat) và Skype ngày càng nhiều hơn.
Dự báo, trong vòng 10 năm tới, phần lớn doanh thu của ngân hàng bán lẻ
là nhờ vào web, điện thoại di động hay ứng dụng trên máy tính bảng. Vì vậy, nếu
các ngân hàng trong nước không nắm bắt và thay đổi theo xu thế, cải thiện khả
năng ứng dụng trên điện thoại di động của các tiện ích dịch vụ, phát triển mạnh
các hỗ trợ dịch vụ qua internet thì việc khách hàng tiếp tục sử dụng và gắn bó lâu

dài với ngân hàng là rất khó khăn.
Thứ ba, việc áp dụng các nguyên tắc của CMCN 4.0, các vấn đề như giao
diện lập trình ứng dụng (API), phân phối liền mạch hay phân tích thông minh sẽ
là những ứng dụng phổ biến trong hoạt động phát triển sản phẩm, đặc biệt là các
sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao của các ngân hàng. Trong đó, dữ liệu lớn
(Big Data) và phân tích hành vi khách hàng sẽ là xu hướng tương lai cho thời đại
công nghệ số khi có thể thu thập dữ liệu bên trong và bên ngoài thông qua tổ chức
phân tích hành vi khách hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, mang lại giá trị
gia tăng, tiết giảm chi phí và hỗ trợ cho các quá trình ra quyết định.
Thứ tư, CMCN 4.0 sẽ tạo ra sự cạnh tranh lớn trong lĩnh vực dịch vụ tài
chính, ngân hàng, dịch vụ thanh toán trong bối cảnh các doanh nghiệp công nghệ
tài chính - FinTech đang ngày càng mở rộng và phát triển. Theo khảo sát, đánh
giá của PwC (một trong 4 công ty kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay), trong
vòng từ 3 đến 5 năm tới, tổng mức đầu tư vào FinTech trên toàn cầu có thể vượt
mức 150 tỷ USD. Theo đó, miếng bánh thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ tài
chính trên thị trường sẽ dần co hẹp lại, cạnh tranh khốc liệt để chiếm lĩnh khách
hàng giữa ngân hàng thương mại và công ty công nghệ là xu thế tất yếu.
Thứ năm, sự phát triển của hạ tầng viễn thông trong bối cảnh CMCN 4.0
đặt ra những thách thức lớn về bảo mật thông tin khác hàng, do đó an ninh mạng
trở nên vô cùng quan trọng. Với sự phát triển ngày càng tinh vi của công nghệ số
và xu hướng chuyển dần sang điện toán đám mây, những lỗ hổng bảo mật cũng
vì thế mà tăng theo, kéo theo những lo ngại ngày càng nghiêm trọng về rủi ro tấn
13


công tin tặc. Theo đó, các ngân hàng, các công ty chứng khoán… ngoài việc trang
bị cho mình những công cụ bảo mật mới cần quan tâm hơn nữa tới việc xây dựng
hệ thống cơ sở dữ liệu dự phòng và nâng cao nhận thức về bảo mật và an toàn
thông tin trong toàn hệ thống.
Thứ sáu, thị trường lao động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng sẽ

có sự thay đổi, do việc ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng có thể
khiến số lượng nhân viên của các ngân hàng, tổ chức tài chính, công ty chứng
khoán sụt giảm một cách đáng kể (đặc biệt là với các bộ phận kỹ sư tin học, giao
dịch chi nhánh…). Mặc dù vậy, nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ gia
tăng (giỏi cả về chuyên môn nghiệp vụ tài chính, ngân hàng và công nghệ thông
tin).
2.4. Liên hệ thực tiễn đối với sinh viên hiện nay.
Hiện nay, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mới đã bắt đầu mở ra
một giai đoạn mới- cuộc cách mạng “số hóa” ,là sợi dây liên kết giữa thế giới
thực và thế giới ảo. Do vậy, Cuộc cách mạng công nghiệp này sẽ tác động trực
tiếp tới nguồn lao động trong vài năm tới đặc biệt chính là những sinh viên đang
học tập hôm nay. Chúng ta sẽ chiến thắng và làm chủ robot, hay thất bại và bị
chúng đào thải, phụ thuộc vào sự chuẩn bị từ lúc này. Chưa bao giờ con người
một lúc đứng giữa những cơ hội và thách thức lớn đến vậy. Tác động rõ rệt nhất
của cách mạng 4.0 là sự xuất hiện của dây chuyền sản xuất tự động hoá tiên tiến,
robot có trí tuệ nhân tạo , với những tính năng có thể thay thế con người, thậm
chí còn tối ưu hơn như khả năng tính toán, phân tích, ghi nhớ, cùng sức lao động
bền bỉ, năng suất cao.Như vậy, trong một thị trường việc làm vốn đã rất gay gắt
bởi những cuộc cạnh tranh giữa người với người, bây giờ người ta còn phải cạnh
tranh thêm với cả robot, những máy móc với công nghệ hiện đại. Có thể hình
dung, cách mạng 4.0 sẽ tiến tới loại bỏ những công việc phổ thông hoặc mang
tính chất lặp đi lặp lại, thay thế toàn bộ bằng máy móc. Giờ đây, kiến thức là vô
biên, việc học không có điểm dừng. Lao động nghề, lao động trình độ thấp phải
14


không ngừng trau dồi để nâng cao tay nghề, làm sao để năng suất tối ưu hơn
những dây chuyền sản xuất tự động. Lao động trình độ cao, bác sĩ, kĩ sư, giáo
viên… đặc biệt là thế hệ trẻ học sinh, sinh viên hiện nay đều phải không ngừng
học hỏi, nghiên cứu, năng động sáng tạo nhằm giải quyết thách thức mà thực tiễn

đặt ra. Trong tương lai, cơ hội dành cho tất cả mọi người là như nhau. Ai có khả
tạo ra nhiều giá trị cho xã hội hơn, người đó sẽ thành công. Nếu cứ giữ lối tư duy
ỷ lại, thụ động thì sinh viên xem như tự đoán trước kết cục cho chính mình.
Chương 3: Kết luận và giải pháp.
3.1. Kết luận.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng
đang làm thay đổi bối cảnh toàn cầu thúc đẩy, tạo nên một nền kinh tế thông
minh, hiện đại. Đây sẽ là bước ngoặt, bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của
nhân loại. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia
đang phát triển, nhiều đối tượng trong xã hội, trên nhiều lĩnh vực của đời sống.
Việc định hướng và đưa ra giải pháp phù hợp của các cá nhân, tổ chức xã hội ở
Việt Nam hiện nay đặt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4
trong thời gian tới là điều cấp bách và thiết thực hơn bao giờ hết. Nếu tận dụng
tốt cơ hội và vượt qua được các thách thức, Việt Nam sẽ có khả năng thu hẹp
khoảng cách, đi tắt, đón đầu, có những phát triển nhảy vọt…
so với các nước tiên tiến hơn, và sớm thực hiện được mục tiêu trở thành nước
được công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.
3.2 Giải pháp.
Do vậy, Việt Nam cần thực hiện giải quyết những vấn đề liên quan đến
kinh tế, xã hội và môi trường còn tồn đọng từ giai đoạn tăng trưởng nóng trước
đây, đồng thời nhanh chóng tận dụng những cơ hội và vượt lên những thách thức
mới xuất hiện liên quan đến Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tăng tốc.
Trước thực trạng trên, để vượt qua những thách thức đưa Việt Nam ngày càng
15


lớn mạnh và thích ứng được với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cần thực
hiện tốt một số giải pháp:
Thứ nhất, cần xây dựng một nhận thức chung trong toàn xã hội đối với
những thay đổi nhanh chóng do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang tới.

Sự chủ động và sẵn sàng là một điều quan trọng, góp phần “tăng tốc” nhanh lúc
ban đầu của một quốc gia. Cần đưa những cơ hội và thách thách thức liên quan
đến Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 vào như là một nội dung bắt buộc của
việc phân tích bối cảnh tác động để điều chỉnh những thông số của các kế hoạch
phát triển trung và dài hạn, đặc biệt là chương trình đầu tư hạ tầng lớn, trước hết
là internet, thông tin, truyền thông…
Thứ hai, thay đổi chiến lược giáo dục đào tạo phù hợp với cuộc CMCN
4.0, nhất là giáo dục bậc đại học. Thời đại CMCN 4.0 đòi hỏi con người phải có
trình độ, kỹ năng, ngoại ngữ,… đáp ứng những công việc, nhu cầu mà máy móc
chưa thể làm thay con người được. Nếu chiến lược giáo dục đào tạo phù hợp sẽ
tạo ra những con người phù hợp cho các doanh nghiệp, cho thời đại. và ngược lại
chiến lược đào tạo không phù hợp sẽ tạo ra lực lượng lao động kém chất lượng,
không đáp ứng yêu cầu thực tiển. Với thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay
Đảng và Nhà nước cần phải quyết liệt thay đổi toàn diện từ chất lượng giảng viên,
phương pháp giảng dạy đến cơ sở vật chất… mới có thể từng bước nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển đội ngũ công nhân
có trình độ, kinh nghiệm học vấn cao, ngày càng làm chủ được khoa học - công
nghệ, có kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật, khả năng tư
duy sáng tạo tốt.
Thứ tư, Việt Nam có chiến lược phát triển khoa học công nghệ phù hợp
nhằm vừa tăng năng suất lao động, vừa xây dựng nền móng khoa học công nghệ
tiên tiến phù hợp với thời đại công nghệ mới. Để chiến lược này mang lại hiệu
quả, cần phải: tạo sự quan tâm của doanh nghiệp tới ứng dụng khoa học công

16


nghệ để áp dụng trong sản xuất kinh doanh; nâng cao khả năng liên kết và đóng
góp của các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu cho doanh nghiệp.

Thứ năm, tăng cường vai trò của các cấp uỷ đảng, Công đoàn và các đoàn
thể nhân dân trong việc xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên trong các
loại hình doanh nghiệp, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tăng tỷ lệ
tham gia của công nhân vào tổ chức chính trị - xã hội ở doanh nghiệp, để có điều
kiện được bảo vệ quyền lợi chính đáng và góp phần rèn luyện về tư tưởng, lập
trường chính trị, tránh bị các thế lực thù địch lôi kéo vào các hoạt động tiêu cực.

17


Tài liệu tham khảo
STT

Tên và nguồn tài liệu

Trần Thị Thanh Bình (2008)“Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội và thách thức
của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.”
1

2

/>
Lê Văn Thông, Vũ Trịnh Thế Quân (2020), “Kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0.”
/>d=IwAR1lyHnCZbjx_vhcHEWZ_KmK387DgONDMU8KdxH9k5foVXbvn6AvXBFUBHQ

3

Nhóm nghiên cứu Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016)“Báo cáo tổng
hợp cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.”

/>099&tai-lieu-nghien-cuu-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu4&fbclid=IwAR1kkMEjQ9wczf8J6aOzsDIFw5-FQbO9HWz61pCDR8P-6MfPbDpGVMFYaCg

4

Bộ Khoa học và Công nghệ “Những cơ hội, thách thức của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đối với Việt Nam và những kiến nghị, đề xuất từ góc độ khoa học và
công nghệ.
/>
5

TS. Nguyễn Bá Ân “Cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội và thách thức.”
/>
6

Tạ Thị Đoàn “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4: Cơ hội và thách thức đối với phát
triển kinh tế ở Việt Nam”
/>
7

TS. Nguyễn Chí Trường “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Cơ hội, thách thức và
giải pháp hai tốc độ cho giáo dục nghề nghiệp.”
/>
18



×